Văn bia ở Văn miếu Trấn Biên có tựa là Trấn Biên – Đồng Nai rạng rỡ ngàn năm văn hiến; nội dung chia làm tám đoạn:
1/ Từ đi mở cõi (nói về việc khai hoang lập nghiệp); 2/ Dựng xây Văn miếu; 3/ Trước nạn thực dân; 4/ Mở đường cứu nước; 5/ Giặc lại hung tàn (nói về công cuộc kháng Pháp 1945-1954 và chống Mỹ); 6/ Ta càng trí dũng (kháng chiến chống Mỹ thắng lợi); 7/ Văn hiến vươn cao (nói về thời kỳ xây dựng đất nước từ 1975 đến nay); và 8/ Tương lai tươi sáng. Cuối cùng là dòng “lạc khoản” ghi ngày tháng năm dựng bia, tập thể lập bia, học vị danh hiệu và danh tính người viết “lời bia” (Biên Hoà ngày 18 tháng 5 năm 2002 / Đảng bộ và nhân dân tỉnh Đồng Nai phục xây Văn miếu Trấn Biên / Giáo sư Anh hùng lao động Vũ Khiêu viết lời bia)
1.
Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên, NXB KHXH, 1988) định nghĩa Bia: “Tấm đá lớn có khắc chữ để ghi lại việc người ta cần ghi nhớ, hoặc để làm mộ chí…”
Từ điển văn học (NXB KHXH, 1983, tập I, trang 69) đã lược kể về nguồn gốc của thể loại văn học gọi là Bia và chỉ cho biết rằng: dù bia dựng ở đâu “cũng đều nhằm ca tụng công đức một hay nhiều nhân vật có nghĩa cử tốt đẹp hoặc sự nghiệp liên quan đến địa điểm di tích mà mình dựng bia. Về phương pháp ghi chép thì chỉ ghi chép những điều sở đắc về học vấn, đức hạnh và những nét lớn trong phẩm cách nhân vật; còn những điều thiện nhỏ, tâm sự sâu kín của nhân vật đều không ghi chép.”
Tuyển tập văn bia Hà Nội (NXB KHXH, 1978), trong Lời nói đầu đã viết: “Đối tượng chủ yếu của tập sách là các nhà nghiên cứu, các độc giả muốn đi sâu tìm hiểu lịch sử địa phương” đã xác định rằng văn bia là thể loại văn học mà nội dung chứa đựng/ phản ánh các sự kiện/ dữ liệu lịch sử địa phương, gắn với tên người, tên đất cụ thể. Bia trở thành “một bộ phận không thể tách rời di tích và tô điểm cho di tích muôn phần cổ kính trang nghiêm.” (tr.7) Tác giả tuyển tập khẳng định, ngoài những giá trị lịch sử mỹ thuật (nghệ thuật chạm trổ, tạo hình, thư pháp, v.v.) là giá trị nội dung của bài văn bia: “Ta có thể thấy cả một kho tư liệu phong phú, với tên người, tên đất, những sự kiện cụ thể về cuộc sống địa phương, nhiều khi của cả nước.” Đây là nói về văn bia Hà Nội vốn là kinh đô Thăng Long, Đông Đô, Đông Kinh từ lâu đã giữ vai trò trung tâm kinh tế, văn hoá và chính trị của cả nước nên có những sự kiện ở đây có tầm vóc quốc gia; còn văn bia ở các địa phương thì nội dung chính vẫn chủ vào “những sự kiện cụ thể về cuộc sống địa phương.” Lấy đó làm trọng tâm và có thể đặt sự kiện trong bối cảnh của vùng, của quốc gia; tuyệt nhiên, không thể làm ngược lại, lấy cái chung của lịch sử dân tộc để trùm lên/ thay thế cho cái cụ thể của địa phương vì làm như thế sẽ dẫn đến tính chất chung chung, lãng đãng như sương khói, nhuốm sắc màu mờ mịt mà không thấy bóng, không rõ hình của người thật việc thật ở địa phương dựng bia.
Cũng cần nói ngay rằng: bia là sử, nhưng còn lâu (nếu không bao giờ) mới là thông sử. Do đó bài văn bia không là một bảng kể lể/liệt kê theo kiểu “diễn ca lịch sử” – mà ở đây là “chương hồi lịch sử phú”, pha phách với hịch, cáo, chiếu, biểu và lời kêu gọi – xét theo phong điệu toàn cục mà nói theo ngôn ngữ đương đại, là tiểu phẩm thông tin cổ động cấp… cơ sở.
2.
Văn bia truyền thống với những lời hay, ý đẹp, nhiều bài văn bia đã gợi lên cho người xem những suy tư và cảm xúc hoặc là niềm tự hào về công tích của tiền nhân hay một thụ đắc về những thông điệp triết lý sống, đạo lý làm người. Đằng sau những giá trị nghệ thuật là những luận đề tôn vinh các giá trị, các chuẩn mực ứng xử, những phê phán cái xấu có tác dụng khuyến thiện răn ác… Nói cách khác, bia là ký/ ký sự lịch sử – tức chủ vào đặc trưng tính chính xác của người của việc có thật trong quá khứ, nhưng cũng rất quan trọng là cái phần chủ quan của tác giả (người viết bia, người chấp bút, người phụng soạn,…) Đặc trưng này chúng ta tạm gọi là “sử luận”. Một cách nghiêm túc mà xét thì để đạt được sự “khách quan” (hầu tạo nên sự đồng cảm đối với công chúng) trong việc “luận” của mình, tác giả bài văn bia phải:
1/ lấy tư liệu cụ thể liên quan đến đề tài làm căn cứ;
2/ mỗi luận điểm cần có xuất xứ từ sử liệu;
3/ nhận thức sử liệu dựa chính vào trực giác vì văn bia là chỉnh thể “văn-sử bất phân” chứ không phải là sử;
4/ tuy cần chú ý đến tính nghệ thuật của ngôn từ, nhưng cần phải tránh dùng hư từ rỗng không chân thực – nếu không sẽ biến vài văn bia thành hịch, lậm vào chất cổ động, khẩu hiệu.
Nói chung, bài văn bia tác động trước hết là vào cảm xúc, tâm tình, tâm lý. Nó chiếm lĩnh cảm xúc, khiến người đọc/xem có thể nổi gai ốc hay rớm nước mắt… và sau đó, mới lắng đọng những suy tư lý tính. Điều này đã đề ra yêu cầu cơ bản cho cách thức biểu hiện/ hình thức nghệ thuật của việc sáng tác văn bia.
3.
Hiển nhiên, nội dung văn bia là ghi lại những sự kiện quá khứ tại chỗ (đặt trong bối cảnh địa phương, vùng, miền, quốc gia) song cần phải phân biệt “sự thực về quá khứ” (bất kỳ sự việc nào đã xảy ra) và “sự thực lịch sử” (sự thực được sử gia chọn lựa trong “sự thực quá khứ” thông thường để làm cứ liệu cho chủ đề/ đề tài của mình). Nói cách khác, một bài văn bia không nhất thiết (và không nên) là gồm đủ các chương hồi/ tiểu mục các nhóm sự kiện lịch sử được trình bày theo trật tự mà chúng đã diễn ra (chronicles) bởi đây không phải là một bảng “toát yếu lịch sử” được viết bằng biền văn, cái chính cái phụ không khu biệt, tất cả đều thảy vào một giỏ “cá mè một lứa bằng đầu” và tất yếu là không có chủ đề, không rõ đại ý. Cũng nên nói thêm là nếu đây là văn bia kỷ niệm 300 năm Biên Hoà – Đồng Nai thì cách này có thể được; tất nhiên ở loại văn bia này cũng có những yêu cầu đặc trưng của nó – chỉ không chỉ có yêu cầu là một bảng “toát yếu lịch sử”.
Điều dễ nhận thấy ở bài văn bia Trấn Biên – Đồng Nai rạng rỡ ngàn năm văn hiến này là nội dung đi quá xa phạm vi phản ánh của một văn bia đặt ở Văn miếu Trấn Biên, tức là bài “tập làm văn” này bị… lạc đề. Rõ ràng là nội dung văn bia này có mở rộng đề tài thì quá lắm cũng chỉ là lịch sử giáo dục văn hoá chứ không phải là lịch sử nói chung hay lịch sử chính trị, lịch sử chống ngoại xâm, lịch sử phát triển công nông nghiệp và mặt khác, cũng dễ nhận ra khuynh hướng lậm vào tính chất “thiết huyết” (hiểu là tính chất bạo lực – một trong bốn điều cấm kỵ của Văn thánh Khổng Tử). Đó là điều xa lạ đối với truyền thống “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn; lấy chí nhân mà thay cường bạo” của cha ông ta.
4.
Trong những thập niên cuối thế kỷ XX, thịnh hành một dạo lối viết văn bia theo kiểu Tây là cung cấp một thông tin 5W+H. Tuy nhiên loại văn bia: “Ngày đó, tháng đó, tại đây, đã diễn ra sự kiện A, sự kiện B, và kết quả là…” coi ra khô khan quá: nó không làm xao xuyến lòng người hậu thế, không tạo được cảm xúc đối với người xem/đọc. Do vậy, đây đó trở về với lối văn bia cổ và đã có những thể nghiệm khá thành công.
cổ và đã có những thể nghiệm khá thành công. (tất nhiên cũng có những bài văn tế trứ danh còn lưu truyền đến ngày nay), còn văn bia thì còn tồn tại lâu dài, nhiều thế hệ thưởng lãm nên đòi hỏi phải dụng công. Chính nghệ thuật ngôn từ trong văn bia truyền thống nên tập văn bia cổ đã chiếm một vị trí xứng đáng trong kho tàng văn học thành văn của dân tộc. Bài văn bia của tác giả Vũ Khiêu cũng thuộc loại văn bia viết theo lối cổ, song điều dễ nhận thấy là toàn cục không đạt được cái phong điệu trang nghiêm cổ kính chung mà là một kết hợp thể đa tạp: câu chữ Hán, Nôm khập khểnh, tư vựng mới cũ không chừng.
Vào cái tựa bia đã bộc lộ tính khoa đại: một vùng đất mới khai phá trên 300 năm mà nống lên cái thể giá “rạng rỡ ngàn năm văn hiến” là quá lố. Đây đó, các đoạn sau cũng bộc lộ tính chất này, tạo nên không ít những nhận định ngoa ngộ khó chia sẻ được đối với người đọc.
Lại nữa, có quá nhiều câu/đoạn chất văn học bị hạn chế, nhường chỗ cho những nhận định đậm chất chính luận hay lạm dụng phong cách khải thị và hô hào. Ví dụ:
– Lấy lý luận soi vào thực tiễn: chủ trương Đảng bộ kịp thời;
Đưa mạnh giàu theo hướng văn minh: kiến thức nhân dân rộng mở
– Kỷ nguyên trí tuệ: được thua do đầu óc văn minh,
Hội nhập toàn cầu: thành bại ở tài năng thi thố.
Cái chất văn chương, giá trị văn học có thể được đánh giá khác nhau tuỳ theo căn cơ chủ quan của từng người, song rõ ràng là ở bài văn bia này tác giả đã quá lậm về “chất” nên đã tạo ra hệ quả chung là “chất thắng văn” và như vậy ắt là “tất dã”, tức là quê mùa. Đó là chưa kể đến việc dùng từ hoặc không chính xác (Lễ Thành hầu xưng Kinh lược sứ) hoặc kết hợp từ sai qui phạm (…phục xây Văn miếu…) hay quá nôm na (… viết lời bia)…
5.
Nhìn chung, ở mỗi cái bia, chúng ta thấy có hai tác giả: một tác giả bài văn bia và một là người viết phần “lạc khoản” (ngày tháng năm dựng bia, người/tập thể dựng bia, tác giả văn bia). Thông thường, yêu cầu chung đòi hỏi phải có sự nhất quán về phong cách. Ở đây việc đề học hàm – danh hiệu và danh tính người viết bia như vậy có thể tạo ra cho người đọc một ý niệm không tốt về bản thân tác giả văn bia. Những danh hiệu ấy rất cao quý, nhưng đề ra ở đây lại có dáng vẻ kệch cỡm, nêu danh không phải chỗ và trong trường hợp nào đó lại khá đồng nhất với loại bia “ngự chế”! Tác giả văn bia nếu chính ông như tôi biết, lẽ ra ông đã đề danh tính mình với sự khiêm cung cần có: “Hậu học Vũ Khiêu bái thư”, chẳng hạn. Vả lại, khi chất lượng bài văn bia đã làm nên giá trị thì rõ ràng là đâu cần phải đề học hàm, danh hiệu cao quý của mình vào để bảo kê cho nó nữa.
Nói tóm lại, bắt đầu từ chỗ không nắm vững những qui phạm về thể loại và phong cách văn bia, tác giả đã đi tới chỗ thao tác sai. Có thể có người phân tích chữ nghĩa chưa chỉnh, câu cú không đối… nhưng đó là chuyện nhỏ nhặt. Bởi nếu cố công sửa bài văn bia này về từ ngữ, niêm luật thì nó vẫn là một “giá trị phản văn bia”
(Huyện Chợ Mới , tỉnh An Giang)