Đa số các con của Carlos và Maria Perez đều đã trốn từ Havanna sang Miami. Chính trị đã quyết định cuộc sống của gia đình Cuba này. Sau khi Castro chết, điều gì sẽ xảy ra với họ?
Câu chuyện của gia đình Perez [1] được ướp giữ trong bốn bức tường ngôi nhà mà họ đã sống từ thập kỷ 30 đến nay. Nó ẩn hiện nơi bộ trường kỷ mòn nhẵn của căn hộ tầng trệt, trong chiếc đèn trần nhiều ngọn, trên sàn nhà bằng đá mà bà quản gia hàng ngày vẫn quét dọn. Cả nơi những cánh cửa, trên những tấm hình đen trắng, nơi những giấy khen ố vàng trên tường. Giấy dán tường cũng đã bạc thếch, sách trên kệ đầy vết lấm lem, bàn ghế thì kẽo kẹt mỗi khi có ai ngồi lên.
Toàn bộ ngôi nhà ở trong tình trạng mờ mờ nhân ảnh, như đang chờ đợi điều gì. Có thể nó chờ người nhà trở về sau nhiều năm xa vắng. Rằng thời gian sẽ quay trở lại, như xưa, thuở nàng Maria Perez còn trẻ và tràn đầy hy vọng. Đấy là một ngày của mùa đông năm nay, lúc Maria Perez hồi tưởng lại là bà đã từng có lần mơ ước những điều cao xa hơn cuộc sống này. Bà đã mơ được sở hữu nhiều vật chất hơn những thứ bày biện trong căn nhà tại Havanna, nơi mà quá khứ tư sản của gia đình bà dần dần tàn lụi. Nhưng giấc mơ cứ vẫn tồn tại, một giấc mơ hướng đến sung túc và tự do, cho đến tận hôm nay, chưa tàn lụi nơi bà lão nay đã 76 tuổi rồi.
Maria từng mơ ước được nhiều tiền hưu trí hơn số 220 Pesos mà nhà nước Cuba cấp cho một bà giáo hồi hưu: Giá trị cả thảy được tám đồng Euro! Bà cũng mong mỏi một cuộc sống yên ả và không còn phải chiến đấu để sống còn, không còn phải thường xuyên gây gổ với ông chồng Carlos nữa. Bà sống với ông trong căn hộ đầy cổ vật, với một đứa cháu nội và bạn gái của nó. Các con đã vắng bóng cả rồi. Đều trốn sang Miami cả. Maria nhớ chúng kinh khủng! Đấy chính là nguyên do tại sao bà không thể sống yên được. Hầu như mỗi gia đình Cuba đều hụt một thành viên nào đó, là người đã bỏ đi, sang Mỹ. Cuba còn 11 triệu người sống trên đảo. Lưu vong ở Miami đã hơn 2 triệu. Tiểu sử gia đình Perez đúng là câu chuyện quyện chặt với lịch sử của đất nước này.
Maria Perez đi chợ về, tay xách một chiếc túi nặng. Chẳng bao giờ bà đi khỏi mà không thủ theo chiếc túi vải màu xanh. Ai mà biết trước hôm nay mấy quầy hàng có bán món gì! Hàng hoá vốn khan hiếm nơi đất Cuba – cùng với Bắc Triều Tiên là nhà nước cuối cùng của khối Đông Âu trước đây – là quốc gia đang đóng chặt cửa cô lập với thế giới. Maria lo toàn bộ công việc chợ búa cho gia đình, và bà quản gia thì chỉ cần lo lau dọn. Maria thích săn hàng. Qua đó chứng tỏ mình vẫn còn sức, hơn cả ông chồng Carlos. Bà vẫn thường xuyên vặc nhau với chồng về những chuyện không đâu, cả về chính trị. Người vợ quản lý mọi thiếu hụt, trong nhà bếp cũng như trong hôn nhân. Ngày hôm nay rồi sẽ lại cung cấp thêm nhiều lý do cho những nỗi ngờ vực sẵn có ở Maria. Và cũng sẽ là một ngày mà lòng trung kiên của bà lại bị thử thách.
Carlos thì hầu như chẳng rời khỏi nhà, kể từ khi tổng thống Fidel Castro ngã bệnh. Fidel lâm căn bệnh tử – tình báo Mỹ dò la ra đấy – mà Carlos và Maria có hề hay biết gì đâu. Theo công bố ở Cuba thì ông cụ 80 tuổi Castro đã khoẻ lại sau cuộc giải phẫu ruột. Em trai Raúl trẻ hơn 5 tuổi, hình như đã tạm thời lãnh đạo từ tháng 7 năm 2006. Thỉnh thoảng truyền hình mới chiếu cảnh Fidel nằm trên giường bệnh. Ông ta đã giã từ quyền lực sau 47 năm, lần đầu tiên! Suốt thời gian lâu đăng đẵng đó, ông đã quyết định bao nhiêu số phận người dân Cuba và của cả gia đình Perez. Suốt thời gian này ông thủ vai nhà cách mạng vĩnh cửu trong bộ kaki, ngày xưa đã lật đổ một nhà độc tài khác. Và cũng suốt thời gian này ông áp chế lên Cuba cái khẩu hiệu “Chủ nghĩa xã hội hay là Chết”.
Nhỡ ông chết thì điều gì sẽ xảy ra?
Maria lo sợ điều này, như bao người dân Cuba khác, nhưng ít hơn Carlos. Có lẽ hệ thống sẽ sụp đổ nếu không còn Castro. Có thể sẽ dẫn đến một cuộc nội chiến. Hoặc là chủ nghĩa xã hội vẫn tồn tại và đất nước sẽ mở cửa như Trung Quốc. Một số người lại mong muốn tư bản chủ nghĩa như kiểu Hoa Kỳ. Thế nhưng chẳng ai biết được trong thâm tâm người dân đang nghĩ gì. Ở đây chả hiện hữu tự do báo chí, cũng không có những cuộc thăm dò ý kiến. Và sức ép của nhà nước lên những người khác chính kiến thì nặng nề, nó giữ cả bí mật về bệnh viện đang điều trị cho Castro. Khi ra khỏi nhà, chẳng bao giờ Maria dám hó hé cái tên ông già này.
Từ cái chợ rau quả bé tí, Maria băng qua 3 dãy phố, ngang qua nhiều biệt thự đổ nát; bà sống không xa trung tâm thành phố bao nhiêu. Quanh đây có 5 cửa hàng, một cái chợ, một quán hàng xén tư nhân bé tẻo teo và vài ba cửa hiệu chỉ nhận đồng Peso hoán chuyển, loại tiền song hành dành cho du khách. Vì đồng Peso này giá trị ngang Dollar Mỹ nên đa số dân Cuba không thể nào tậu được những mặt hàng bán ở đấy. Tuy may mà Maria được con từ Miami gửi tiền cho, nhưng việc mua sắm nói chung quả là cực hình. Nhiều mặt hàng lương thực đã bị hạn chế theo khẩu phần từ hơn 40 năm nay làm Cuba lâm vào cảnh bần hàn cay đắng.
Dù thế ông chồng bà vẫn quả quyết rằng chủ nghĩa xã hội thật tốt đẹp. Bỗng nhiên ông ta cư xử cứ như thể mình trước sau vẫn mê say Castro hết mực. Maria thì lấy gì mà tin nổi! Những mặt tốt duy nhất trên đất nước này là nhà thương, trường học và đại học là các nơi mà nhà nước bơm tiền vào. Còn nhân dân thì chịu khổ chịu sở.
Maria nhớ rõ rằng, lúc xưa thì khác hẳn. Bà là con gia đình tư sản và Carlos cũng thế. Ông ta chưa từng bao giờ tham gia vào Uỷ ban Bảo vệ Cách mạng là tổ chức hiện diện ở mọi phường và có nhiệm vụ cảnh báo. Làm sao ông ta tự dưng lại xưng mình là cộng sản như thế nhỉ? Thật ra Carlos chả được học tính tự lập, như bao người dân Cuba khác, vì thế ông sợ những gì tương lai sẽ đem tới. Hòn đảo này là nhà tù, là nơi tư duy bị cấm đoán. Chỉ có một nhóm nhỏ đối lập chính trị, bị đàn áp và nước ngoài lại biết đến họ nhiều hơn là dân bản xứ. Cuộc sống ngừng hẳn lại, hệt như hôn nhân của Maria vậy.
Maria bảo: “Tôi chỉ hạnh phúc khi ngồi trên máy bay sang Miami”
Ngôi nhà mà bà và Carlos chung sống có hai tầng với hàng rào sắt vây quanh. Vườn trước có trồng dừa và nhiều cây nhiệt đới khác, um tùm. Hiên nhà có mái che nằm trên cột hẳn hòi. Trên vòm cung cửa ra vào, chuyên gia trang trí đã chạm nổi con số “1924”. Cơ ngơi này trước đây được sơn trắng, nay thì ố vàng, nhưng vẫn còn đẹp chán.
Maria tháo chấn song sắt, rồi mở cửa. Đi vào bếp, thẳng người như mọi khi, nhưng có đôi phần lệt bệt. Một phụ nữ tóc nhuộm đỏ và cặp mắt mệt mỏi. Thỉnh thoảng bà gượng cười và lúc ấy cứ như thể đang tự tìm cách đánh lừa mình. Bà lôi thuốc rửa chén bát từ túi vải ra, cả thảy 8 chai nhựa, bỏ trên bàn ăn. Nào mà ai biết được, đến khi nào mới lại bán thuốc rửa chén bát đây? Maria còn mua được rau sà lách, cả trái cây và cà chua. Những thứ này mùa đông mới có mà mua, ngược lại quả bơ thì chỉ có vào hè. Ai mà hiểu cho nổi, tại sao. Còn gạo, dầu ăn và đậu thì chỉ bán theo phiếu thực phẩm.
Lúc tin tức mới về bệnh tình của Castro loan ra vào ngày 31 tháng bảy năm 2006, đúng vào lúc Maria đang trên đường sang Miami thăm con cái. Cậu con trai duy nhất và hai cô con gái của bà sống ở bên ấy, phần lớn đã từ nhiều năm rồi; chỉ có cô con gái thứ tư là vẫn còn ở tại Havanna. Maria được phép xuất cảnh, bà có một hộ chiếu Tây Ban Nha, giống như bà cụ thân sinh. Kể cả Carlos cũng được phép rời Cuba vì chính quyền không ngăn cấm những người đã về hưu.
Maria bay sang Cộng hoà Dominican – vì Mỹ cấm vận nên hoạ hoằn mới có chuyến bay thẳng sang Miami – và nhân tiện tạt vào thăm bà con ở Santo Domingo. Đúng lúc vừa đến thì điện thoại reo. Của Blanca, cô con gái trẻ nhất từ Miami.
“Mẹ đã nghe tin gì chưa?”, Blanca hỏi. “Fidel Castro đổ bệnh rồi. Ông ta bị mổ và phải trao quyền lực lại cho người khác. Người Cuba mình ở đây đang nhảy nhót tưng bừng. Họ mừng quá chừng thấy con quái vật đang dãy chết”. Maria buột mồm một câu trả lời gì đó mà hôm nay tốt hơn là bà không kể lại. Đó là điều mà một con chiên ngoan đạo không nên phát ra bằng lời.
Fidel Castro chính là kẻ phải chịu trách nhiệm về việc Maria chỉ mỗi năm có một lần được gặp 3 trong số 4 người con của mình. Reynaldo, ông trẻ của Maria, là người đầu tiên bỏ trốn năm 1960 là năm vừa sau cách mạng thành công. Em gái của Maria là Cristina cũng bỏ đi từ lâu, ngoài ra cô em gái Elena của Carlos cũng biến nốt. Mụn con trai duy nhất của Maria là Manuel thì bỏ trốn vào giữa thập nên 90, trước đó là cô con gái Juanita, rồi Blanca với một đứa cháu ngoại. Đại đa số gia đình họ Perez nay sinh sống tại Miami. Có người hỏi Maria về những giây phút hạnh phúc của cuộc đời, thì bà cười và bảo: “Chỉ hạnh phúc khi đang ngồi trên máy bay sang Miami”
Nếu trí nhớ không đánh lừa, thì Maria cũng có hạnh phúc vào những năm 50 đấy chứ. Khi ấy dường như cuộc đời cho đầy đủ mọi cơ may. Sinh năm 1930, là con gái của một nhân viên kế toán làm việc cho một chi nhánh của công ty xe hơi Ford tại Pinar del Rio thuộc miền tây Cuba. Cô gái theo học ngành địa lý ở Đại học Havanna, tại đó đã quen nhà kinh tế nông nghiệp Carlos. Ảnh đám cưới của họ còn được treo trong hành lang thông nhà bếp và phòng khách, cùng với nhiều tấm hình khác. Mọi chân dung của các thành viên gia đình đều đen trắng.
Trong hình đám cưới, Maria đeo vương miện cài trên tóc, ngước nhìn chồng. Nàng 25 và chàng 27. Họ đã hưởng tuần lễ trăng mật tại Tampa, bang Florida. Sau đó Carlos đã tiếp nhận nông trại sản xuất lúa gạo của gia đình. Họ đã là chủ nhân của ruộng đất, nhưng sau này đã bị tịch biên cả. Sau ngày cưới, Maria và Carlos còn thời gian 4 năm cho đến khi cách mạng chiến thắng.
Vào thời điểm này cả Cuba đều nằm trong tay các doanh nhân và du khách người Mỹ. Cuộc sống Havanna nở rộ. Một thành phố đầy sòng bài và khách sạn sang trọng, nhưng đa số dân chúng lại là nông dân nghèo mạt rệp. Ngay từ những năm đầu thế kỷ, khi cuộc chiến đấu dành lại độc lập từ tay Tây Ban Nha còn đang tiếp diễn, thì Hoa Kỳ đã củng cố ảnh hưởng chính trị trên hòn đảo này rồi. Mỹ đã ủng hộ tay độc tài Fulgencio Batista là kẻ đã đảo chánh để nắm quyền năm 1952. Một năm sau, một luật sư trẻ tên là Fidel Castro đã tìm cách tấn công trại lính ở Santiago de Cuba hòng lật đổ Batista. Cuộc tấn công thất bại, Castro thoát chết và phải sống lưu vong. Năm 1956, ông ta quay về và đã chiến đấu 3 năm ròng.
Tiếng bước chân của Maria vang trong hành lang, bà đi ngang qua mấy tấm hình của mình. Cửa phòng làm việc thì khoá kín. Carlos đang có khách. Cậu con trai Manuel đang sống ở Miami vừa báo về cách đây vài hôm, anh ta sẽ cho một người nước ngoài địa chỉ của bà, một ký giả người Đức. Ông ta muốn sang Havanna để viết một bài tường thuật về gia đình, về cuộc sống thường nhật, về quan điểm liên hệ đến tương lai của Cuba. Maria đồng ý nhưng Carlos lại chau mày. Thế mà giờ ông lại đang nói chuyện với người ta. Maria gõ cửa.
Tuần trước đó tại Miami, Manuel con trai của Maria và Carlos, đang ngồi trước truyền hình, mặc áo thun ngắn tay, quần đùi, chân thì mang giày thể thao. Anh ta đã tắt tiếng máy truyền hình. Manuel muốn yên tĩnh một mình với hình ảnh chớp nháy, với tĩnh lặng. Vợ thì đang lau nhà. Từ khi anh và cô vợ Gloria dọn vào căn nhà mới này, thì hằng sáng chủ nhật, anh đều sống kiểu như thế là kiểu anh ưa thích nhất – trong chiếc ghế bành bằng da thuộc. Anh đã rời bỏ Cuba để hưởng cuộc sống, chứ sao. Khi còn ở quê hương thì Manuel và vợ phải sống trong ngôi nhà tư sản cũ kỹ của cha mẹ. 9 người trong 5 phòng nơi tầng trệt. Chật chội và ồn ào khủng khiếp.
Cô chị gái Blanca, mới đến Miami được một năm, khẳng định rằng, cô sẽ mãi nhớ Cuba hàng ngày, kể cả ngôi nhà cũ. Còn Manuel đã sống 12 năm ở đây, hoàn toàn chẳng nhớ gì sất! Anh vẫn thường gặp mẹ, quá thường! Hàng năm bà đều sang thăm 3 tháng. Ông cụ thì chỉ mới ghé 2 lần, ông chửi rủa nước Mỹ, lần cuối ông còn bảo rằng, sẽ không bao giờ sang lại Miami nữa. Dường như Manuel chẳng cảm thấy nhớ ông gì mấy. Hàng tháng anh ta gởi về cho cha mẹ 150 Đô la, hai chị gái thì bảo, mỗi người thêm 100 nữa.
Người già bỏ đi vì cách mạng đã làm họ mất hết tất cả. Lớp trẻ thì trốn chạy vì chẳng có được tí gì của những thứ mà họ ước mong. Manuel và các chị gái của anh thuộc về thế hệ những người tỵ nạn lớp sau, họ rời bỏ Cuba không vì hận thù Castro, chẳng hạn vì bị tịch biên tư hữu, nhưng vì muốn có một cuộc sống tốt đẹp hơn. Khi Manuel nói về Cuba, anh ta nhăn mặt, tuồng như cảm thấy cơ thể khó chịu. “Trong nhà của bố mẹ tôi chẳng có máy điều hoà không khí, nước nóng bị cắt thường xuyên. Nhà tắm thì hôi rình. Thật còn tệ hơn cả Phi châu”.
Tại Miami, Manuel xây nhà ở cho dân Cuba lưu vong, từng dãy, từng dãy
Nhà của anh ta ở Miami là nhà mẫu “Brittany” được chọn từ quyển quảng cáo. Mới toanh, có nhiều góc lợp kính nhô ra và mỗi phòng được sơn phết khác nhau. Hầu như không có tranh ảnh treo tường, không kệ sách và Manuel thích nhìn khung cảnh đủ màu. Mọi góc trong ngôi nhà ở Havanna thì lại đều nhợt nhạt, như thể bị một lớp xám ngoét phủ lên. Manuel được chia cho căn phòng nhỏ cạnh nhà bếp. Chiếc giường gỗ ọp ẹp nay vẫn còn để đó, cùng tủ áo và tủ ngăn kéo. Tất cả vẫn như xưa, với màu sơn nâu xậm. Ánh sáng dường như không lọt nổi qua hai cánh cửa sổ hẹp. Hai vợ chồng đã phải sống một thời gian dài trong đó.
Ngôi nhà mới có quá nhiều phòng đến nỗi mỗi đêm trong tuần Manuel có thể ngủ trong một phòng khác được. Nền phòng dành riêng cho khách vừa được lót lại bằng gỗ láng, để mẹ lần tới ghé thăm được thoải mải hơn. Không khí mát dịu, quạt máy quay vù vù khắp nơi. Qua cơn sốt địa ốc ở Mỹ, giá ngôi nhà chỉ trong vòng vài năm đã tăng gấp ba thành 600.000 Dollar. Thế nhưng thuế cùng như tiền bảo hiểm cũng đều tăng theo. Manuel đã nói chuyện suốt với vợ về chi phí. Chỉ sau 12 năm ở Mỹ, cuộc sống của anh đã bắt đầu chỉ còn xoay quanh việc đầu tư vốn lớn. Trong phòng làm việc của Manuel có treo lủng lẳng một bản đồ nước Mỹ. Anh đã phải bỏ công lùng khá lâu để tìm cho ra một bức không có hình nước Cuba trên đó.
Manuel bỏ trốn năm 1994. Sau khi nhà nước Liên bang Xô Viết anh em sụp đổ thì mọi viện trợ đều biến mất cả. Điện đóm thiếu thốn, xăng dầu cũng vậy. Manuel là kỹ sư ở Havanna, chuyên xây dựng nhà lắp ghép cho vành đai thủ đô. Nhà thì mới nhưng chưa gì mái đã dột và cửa giả lại kẹt. Mỗi ngôi nhà cứ hệt như chế độ, bị kẹt ngay từ đầu. Manuel đã chớp lấy ngay cơ hội đầu tiên để trốn.
Castro đã cho mở biên giới trong một thời gian ngắn, như lần cuối vào năm 1980, qua đó tống khứ dần được một số tay chống chính quyền. Manuel không phải lén lút vượt biển như nhiều người Cuba trẻ tuổi khác đã phải tìm cách dùng thuyền và bè để vượt 140 cây số đến bờ biển Hoa Kỳ. Nhiều người bị chết đắm. Ngày nay vẫn còn có người vượt biên bằng đường biển. Còn Manuel thì đã tìm cách xoay được giấy mời qua họ hàng bên vợ ở nước Cộng hoà Dominican, nhờ đó xin được chiếu khán. Đến đảo láng giềng anh đã mượn tiền mua hộ chiếu giả với giá 5.000 Dollar. Khi đến phi trường trung chuyển Miami, hai vợ chồng ra trình diện cảnh sát.
Manuel cười, vẫn ngồi trong chiếc ghế bành.
“Chúng tôi đã quẳng hộ chiếu và khai chẳng nhớ là đã đáp xuống bằng chuyến phi cơ nào. Đa số người Cuba đều làm vậy. Chỉ khi nhập cảnh hợp pháp, chúng tôi mới được Hoa Kỳ đón nhận.” Ngày nay thì “Chính sách bàn chân khô” đang chi phối, có nghĩa là, ai chạm chân được vào đất liền thì được phép ở lại, ai bị phát hiện trên biển, phải quành về.
Hai vợ chồng đã dọn về ở với ông chú, sau đó dọn ra căn hộ 1 phòng. Cô vợ, vốn cũng là kỹ sư như chồng, đã kiếm được Dollar đầu tiên qua việc gội đầu trong một tiệm hớt tóc, sau đó có được công việc ở uỷ ban hành chính thành phố. Còn Manuel thoạt tiên lắp đặt ống cho hệ thống điều hoà không khí lấy 4 Dollar một giờ, phải quỳ bò dưới cái nóng hầm hập trên mái nhà lớp đầy những sợi bông thủy tinh cách nhiệt. Chưa ai thèm hỏi anh nghĩ gì về chính quyền, cũng chẳng ma nào để ý đến bằng cấp tốt nghiệp của anh là thứ nước Mỹ không công nhận.
“Đất nước này chẳng tuyệt vời sao?”
Ngày nay anh ta làm việc trong nghề cũ, có giấy phép lao động đàng hoàng. Manuel lăn khỏi ghế bành, đi ra cửa và quan sát thế giới của mình. Trước nhà xưa tại Havanna là một chiếc xe Lada trắng nằm dưới mái tôn. Người ta trước hết phải phục vụ tốt cho nhà nước rồi mới được phép sắm ô-tô. Còn ở Miami đây, hai vợ chồng Manuel là chủ nhân của 2 chiếc xe nhà màu bạc nhũ kim và ngoài ra, cả một ga-ra đôi hẳn hòi.
Tất cả nhà hàng xóm nom đều giống như nhà của Manuel. Trước mặt nhà là hồ nước nhân tạo vuông vức, gọn lỏn vừa vặn giữa các lô. Muốn đến đây, phải lái xe khoảng hơn một tiếng đồng hồ từ trung tâm phố, bằng chừng đó thời gian mà Manuel cần để đến văn phòng. Đi dài dài qua những ngôi nhà như thế, kiểu nhà đang tràn ngập đất này trong một chuyển động dường như vô tận, hệt như làn sóng trốn chạy đưa 2 triệu người Cuba đến xứ này lại lan toả tiếp ở đây. Khoảng hai phần ba chủ các ngôi nhà ở khu vực này đều là người đồng hương, ngoài ra nhiều người Nam Mỹ cũng sống ở đây. Kỹ sư Manuel lo tìm thêm đất mới cho họ, đặt cống, bắt cáp điện. Đúng là anh đang ươm “giấc mơ Hoa Kỳ” của người Mỹ Latinh lên những ruộng khoai Florida.
Manuel bước 50 thước rồi bấm chuông. Một ngôi nhà hệt như nhà anh, chỉ đối xứng. Một phụ nữ trạc 50 mở cửa, cũng trong chiếc quần cộc và áo thun: cô chị Juanita. Cô đã sang Mỹ sớm hơn anh một năm cùng với chồng là Paulo. Nhờ chồng có bà con ở đây nên có được chiếu khán. Manuel đến ngồi cạnh ông anh rể bên hồ bơi. Một người bạn đang đến thăm, họ hút xì gà, uống bia.
Paulo cũng là kỹ sư, chương trình đào tạo được Mỹ quý như vàng. Anh ta kể chuyện về Cuba, nơi anh vừa về vào tháng 9 để dự tang lễ ông anh ruột. Chính quyền cho những người tị nạn nhập cảnh, bao lâu họ không tham gia vào chính trị. Riêng chính quyền Mỹ chỉ cho phép 3 năm mới được đi một lần. Họ muốn cắt đứt các nguồn tiền đổ từ Mỹ sang Cuba. Chính sách cấm vận kinh tế của những năm 60 vẫn còn hiệu lực, nó cấm đoán mọi thương vụ, ngoại trừ thức ăn và thuốc.
Chính quyền Mỹ vừa bổ nhiệm một “Điều phối gia lâm thời” cho Cuba với hy vọng rằng, chế độ Castro sớm bị lật đổ. Các nhóm đối lập sẽ được chi 80 triệu đô la.
Paulo kể, “Không khí Havanna rất lạ lùng. Chả ai đề cập đến Fidel. Tôi có hỏi vài người rằng họ có biết gì về những tù nhân chính trị không. Họ trả lời là không hề có loại tù nhân này!”. Paulo lắc đầu. “Đáng tiếc cho một đât nước phải tàn tạ như thế.”
Người bạn chen vào: “Tội lỗi là do CIA đã gây nên tình hình xấu tại Cuba”. Hai anh em cười ngặt ngẽo như vừa nghe một chuyện tiếu lâm độc đáo. Manuel nói: “Qua cấm vận, Hoa Kỳ đã làm Castro hết sức đẹp lòng. Đó là lời bào chữa của y khi chế độ thất bại”. Người bạn của Paulo vẫn ngoan cố cãi, vẻ đã ngà say: “Các trường đại học rất trứ danh, bác sĩ cũng thế”. Manuel cãi lại: “Rất đúng, thế nhưng ta phải cày suốt cả cuộc đời cho nhà nước vì những thứ ấy”. Paulo nghiêng sang thì thầm: “Anh bạn này là tay sinh vật học đang cày ở một hãng sản xuất vỏ bánh xe. Chưa có được nhà như mình.”
Manuel đờ đẫn nhìn chai bia, đâu đó oang oang điệu Salsa. Trông anh ta, như thể anh đã chán nói về Cuba rồi. Anh không còn là người Cuba nữa mà đã có hộ chiếu Mỹ. Mùa hè vừa rồi, khi nghe những người Cuba lưu vong tại Miami ăn mừng tin Castro lâm bệnh và nhảy nhót trên đường phố Little Havanna, vợ anh muốn ra đó lắm, thì Manuel đã ngăn lại. Anh không muốn quày đầu về Cuba nữa, không một lần trong tâm tưởng, cũng không một lần ngay bởi hận thù. Miami vẫn còn những người Cuba lưu vong của thế hệ đầu tiên vẫn mang mơ ước tấn công lên đảo bằng vũ khí. Họ có vẻ vẫn còn giữ lực lượng chiến đấu riêng mang tên “Alpha 66”. Manuel đã từng thấy những người Cuba trang bị vũ khí, chỉ cách đây vài khu phố, những ông già trong bộ quân phục, lái xe tải hạng nặng.
Manuel sinh tháng 8 năm 1962, hai tháng trước khi những hoả tiễn tầm trung của Nga đặt trên đảo suýt đẩy thế giới đến bờ thế chiến thứ ba: Cuộc khủng hoảng Cuba. Manuel cảm thấy dường như ký ức lại trở về và lập tức thấy ngay một xúc cảm đối kháng. Mẹ anh kể lại đã bị bó buộc phải thay thức ăn cho trẻ sơ sinh của Mỹ bằng thứ của Nga. Bây giờ, 45 năm sau, Manuel nhăn mặt. Anh có cảm tưởng như thể đã không hề yêu thích chế độ, ngay từ tấm bé. Anh được giáo dục trong tinh thần Ki Tô giáo, nhưng không được công khai mừng lễ Giáng sinh vì lễ này đã bị cấm từ cuối thập niên 60. Trước khi mẹ anh trang trí cây thông Noel, bà đóng kín mít các cánh cửa sổ.
Ở trường, Manuel đã học cách câm miệng không phát biểu những suy nghĩ của mình. Cậu bé đã bị ghi vào học bạ chỉ vì đã viết tên ban nhạc kích động Led Zeppelin vào tập vở của mình. Thầy giáo đã phê “tư tưởng có vấn đề” là điều có khả năng cậu sẽ phải trả giá bằng chỗ học đại học. Từ đó cậu thu mình lại. Đã tình nguyện đi nghĩa vụ lao động, đẵn mía, như mọi người. Rồi vỗ tay hoan hô các buổi diễn thuyết tràng giang của Castro trên quảng trường Plaza de la Revolución. Anh đã giữ kín chuyện bố mẹ đề cập đến việc rời bỏ đất nước. Bà mẹ thì rất thích theo cô em gái bà sang Miami, ông thân sinh Carlos thì lại khuyên giải: “Cả nhà gắng chờ, rồi thì sẽ khá ra”.
Manuel đứng dậy, lấy thêm chai bia.
Những khách mới vừa đến, trong đó có cô chị Blanca, mới sang được một năm. Cô vẫn nhớ Cuba nhiều. Một phụ nữ có dáng mảnh khảnh ở tuổi gần 50, với cô con gái 8 tuổi. Cô bảo Manuel: “Bọn trẻ con thích hợp với Havanna hơn đây. Ở đó chúng nó còn chôi… trên đường phố được…”
“Chơi”, cô con gái chỉnh lại.
Rồi Blanca lại nói về ông bố Carlos. “Bố sợ, vì thế ông không đến Miami nữa”.
Manuel ngáp. “Ông cụ chán bỏ xừ.”
Manuel chỉ có mỗi một kỷ niệm đẹp duy nhất về Cuba: Ánh đèn nơi đại lộ Malecón của Havanna bên bờ Đại tây dương trong những thập niên 60. Havanna rực sáng! Biển hắt ánh sáng trở lại, một sự hứa hẹn của sắc màu và viễn phương mà cuộc sống sẽ đền bù vào một lúc nào đó. Sau này khi Manuel đã trưởng thành, những ngôi nhà trên đại lộ Malecón bắt đầu hoang tàn. Suốt cho đến hôm nay, nhiều căn vẫn được chống bằng dàn giáo để khỏi bị đổ. Chuyến viếng thăm Cuba sau cùng của Manuel năm 1999 chỉ làm cho tâm tư anh thêm trĩu nặng. Vài con đường trong phố cổ đã được chỉnh trang lại để phục vụ du khách. Cạnh những người ngoại quốc giàu sang, người bản xứ sinh hoạt cứ hệt như người của thế giới bóng đêm. Manuel đã quyết định, sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Khi hộ chiếu hết hạn, anh cũng chả buồn xin cái mới.
“Người Cuba sống ở Miami có tổng thu nhập cao hơn cả nước Cuba cộng lại”
Sau đó tất cả mọi người đều quy tụ quanh dàn bếp xây kiểu thoáng thông liền với phòng khách. Blanca nấu cà phê đậm kiểu Cuba, còn Paulo khui một chai vang đỏ. Mọi người đều hỉ hả, chuyện vãn ồn ào chen nhau. Manuel nói to cho mọi người cùng nghe: “Người Cuba chúng mình ở Miami này làm ra tiền nhiều hơn tổng cộng những người Cuba còn ở lại”.
“Giấc mơ Hoa Kỳ là thứ rác rưởi”, người bạn của ông anh rể Paulo lên tiếng, tuy đã lảo đảo – “Cậu uống nhiều quá”, Paulo trách, lưỡi thì cũng đã bắt đầu cứng. “Nhưng ở Cuba, người ta còn uống dữ nữa kìa”.
Nghe tiếng gõ cửa, Carlos Perez nặng nhọc đứng lên và mở cửa phòng làm việc. Ông để bà Maria bước vào, rồi ngồi trở lại trên chiếc ghế bành duy nhất. Ông là một người cao lớn ở tuổi 78, mái tóc bạc được chải miết về phía sau. Khuôn mặt hơi ửng đỏ. Maria ngồi lên một chiếc ghế gỗ đong đưa. Căn phòng bé tí và đầy các kệ sách. Trên bàn làm việc hàng chồng giấy xếp cao như tháp, dưới một lớp bụi dày. Khóe miệng Carlos xệ xuống, như thể đóng băng. Ngồi đối diện với ông trên ghế trường kỷ là ký giả mà Manuel giới thiệu.
Trước đây hai tiếng đồng hồ, Carlos đã chào mời khách vào nhà rất niềm nở. Ông đã kể rất nhiều chuyện về gia đình Perez qua những lời lẽ cân nhắc. Ông cố là người Tây Ban Nha đã đến thuộc địa Caribbean này khoảng 1870. Ông nội đã chiến đấu trong cuộc chiến dành độc lập và sau đó làm chủ biên tập tờ nhật báo La Lucha. Ông thân sinh của Carlos là ký giả kiêm chính trị gia và đã tranh đấu cho quyền lợi công nhân và người nghèo. Carlos trưởng thành trong ngôi làng cạnh Havanna và theo học tại trường Ki tô giáo.
“Tôi không hám tiền”, Carlos tuyên bố
Năm 1938, gia đình dọn về ngôi nhà này, vào căn hộ với bàn ghế tủ giả cũ kỹ nặng nề, với những đèn trần nhiều ngọn, với trần nhà cao 5 thước, với những hình chạm vôi vữa phong phú. Lúc ấy Carlos lên mười. Cha ông rất thân cận với tổng thống Cuba Ramón Grau San Martín là một nhà cải cách đã đem lại những tiến bộ xã hội cho hòn đảo vào những năm 30 và giữ được tính độc lập với Hoa Kỳ. Một đối thủ của Grau là Fulgencio Batista, người chỉ huy quân đội đầy quyền lực. Sau cuộc đảo chánh của hắn, Cuba đã trở thành địa điểm du lịch ưa chuộng của các tay anh chị và dân cờ bạc. Năm 1952, một luật sư trẻ tên Fidel Castro đã ghi tên ứng cử quốc hội. Anh ta muốn trở thành dân biểu. Nhưng Bastita đảo chánh khiến cuộc bầu cử không thành.
“Tôi có gặp Castro một lần ở trường đại học”, Carlos khoe. “Ông đọc diễn thuyết chống tăng giá xe buýt. Tôi đã chưa từng được nghe tên ông bao giờ. Ông đã cùng sinh viên xuống đường biểu tình và tôi đã tham gia. Khi họ bắt đầu ném đá vào cảnh sát và cảnh sát bắn chỉ thiên thì tôi bỏ chạy. Từ đó tôi chưa hề trực tiếp gặp lại cá nhân Castro lần nào nữa”.
Sau chiến thắng của cách mạng vào năm 1959, Castro trở thành chủ tịch, chẳng bao lâu sau ông công khai chấp nhận chủ nghĩa xã hội. Castro tước quyền sở hữu hãng xưởng, đất đai và địa ốc, nhiều người dân đã bỏ trốn. Gia đình Perez mất nông trại do Carlos cai quản. Lúc ấy ông 31 tuổi, đang lái chiếc Jaguar nhập cảng từ Anh Quốc. “Tôi đã muốn trở thành nhà triệu phú chứ không phải trở thành người cộng sản”, ông bảo và mỉm cười, như thể rất vui về kỷ niệm. Gia đình thật ra đã tồn tại nhờ trúng một lô xổ số. Carlos bảo: “Thế nhưng nhân dân lại thích cách mạng cơ”.
Vào đầu thập niên 60 ông nhận được một cú điện thoại của Bộ. Ông lái Jaguar đến đó. Vị bộ trưởng lên tiếng yêu cầu ông giúp đỡ đất nước. “Hai bên không hề đả động gì đến chính trị. Tôi chỉ muốn làm một việc gì đó cho Cuba”. Từ đấy ông đã xây dựng hồ nhân tạo để nông dân có nước tiêu tưới cho đồng ruộng. Ông đã trở thành một chuyên gia. Trong thập niên 70 ông đã sang Ethiopian nhiều năm, ở đây cũng khẩn cấp cần nước. Cô con cả và vợ đã theo cùng.
Ngày nay Maria vẫn còn ca về cái thời mà “Chúng tôi đã có một căn hộ với những thiết bị điện hiện đại”. Điều đầu tiên mà Carlos nhận ra là mức lương thấp, người ta trợ cấp cho ông 30 Dollar hàng tháng. Các chuyên viên nâng đỡ phát triển từ phương Tây cười nhạo báng.
“Tôi không hám tiền”, Carlos bảo thế, như thể ông luôn phải đấu tranh để chống lại việc bị đánh giá thấp. “Linh hồn và tình cảm là quan trọng”. Ông đề cao chính quyền “là những người lương thiện đang giúp đỡ người nghèo”, và chửi rủa “những sự dối trá và tuyên truyền” của Mỹ. Carlos sử dụng những ngôn từ đã đọc hàng ngày trên báo Đảng Granma. “Chúng tôi cần nhiều người làm tư doanh hơn, nhưng chủ nghĩa xã hội là tốt đẹp”.
Tạo sao con cái ông lại bỏ đi? Vì sao Carlos có thể ca tụng một hệ thống bản thân chỉ có thể tồn tại nhờ thu nhập từ du khách cũng như nhờ những chuyển khoản từ nước ngoài, là những nguồn thu nhập quan trọng nhất của Cuba? Tại sao ông lại bênh vực cho một nhà nước đã bắt giam những người chống đối? Theo thông báo của cơ quan truyền thông độc lập Nueva Prensa Cubana thì có hơn 300 người đang ngồi tù, trong đó có những ký giả, nhiếp ảnh gia, họ không làm gì khác hơn là đã thực hiện chức năng nghề nghiệp của họ. Carlos càng lúc càng tỏ vẻ cáu gắt hơn.
Ông kể thêm, căn hộ này là của ông, nhà nước đã tặng cho cách đây 5 năm, thật ra chỉ có nghĩa là ông không còn phải trả tiền thuê nhà tượng trưng nữa. Bán nó thì không được phép. Đúng lúc đang trao đổi đến đây thì bà vợ gõ cửa. Giờ đây bà đang ngồi trên chiếc ghế đong đưa, cách ông chồng nửa thước, yên lặng. Có lẽ bà đã đoán được vì sao ông không vui. Ông nhìn bà, lặng thinh. “Bà Perez ạ, bà có thích sống ở Miami hơn ở đây?”
Maria mặc chiếc áo thun ngắn tay màu xanh biển và chiếc quần ngắn ngang gối, màu cát, bà đeo sợi dây chuyền vàng và đi đôi dép dùng để đi dạo xa. Khi ra phố, bà sẽ nổi bật, vì những món đẹp cỡ này ai sắm ở đây cho nổi. Chồng bà mặc áo sơ mi xanh lơ và chiếc quần vải xậm, giày thể thao trắng và đôi vớ mang dòng chữ “Polo”. Con cái chi tất cả cho những thức này. Toàn là nhận mà chả có cho. Bà cụ thì cứ mong rằng, có lúc rồi sẽ ngược lại. Tuy thế sau mỗi chuyến du lịch, bà lại trở về với những túi xách đầy ắp, trong đó nào là giầy, nào là thuốc tây, dầu gội đầu, nước hoa, áo quần. Ai chả muốn có chút quà, kể cả bà quản gia. Maria bảo: “Tôi chẳng khao khát gì đến Mỹ. Mà khi sang đấy, tôi cũng chẳng nhớ thương gì đến Cuba cả”. Bà nói hệt một nữ chính trị gia, biết rào đón cho chắc ăn.
Trước đó, khi Maria chưa có mặt, Carlos đã đứng lên giữa câu chuyện, bước về bàn giấy và rút ra vài tập giấy từ một chồng phủ đầy bụi bặm. Những bản đồ cũ, sơ đồ cho 1400 hồ chứa nước mà Cuba cần khẩn cấp, ông đưa ngón tay lần theo những đường vẽ. Ông đứng trước bàn, bất động và khom khom, như thể đang kính cẩn nghiêng mình trước tác phẩm của chính cuộc đời mình. Chiếc cặp da vẫn nằm trong tầm tay, như thể ông phải đi ngay đến văn phòng. Carlos đã về hưu từ 13 năm nay.
“Bà Perez ạ, xin thêm một câu hỏi nữa: Bà mường tượng thế nào về tương lai của bản thân?”
“Khi về già, chả ai có kế hoạch gì.”
“Và tương lai của đất nước?”
“Tôi chẳng hề nghĩ đến.”
“Bà có mối lo nào chăng?”
Maria gõ nhịp ngón tay lên thành ghế, liếc nhìn chồng. Từ nửa tiếng đồng hồ, ông ta chả nói thêm tiếng nào. Chỉ khi nào có cách gặp riêng Maria mà ông chồng không biết, thì bà mới nói thoải mái được. Vài ngày sau, trong công viên cạnh nhà, bà đã rảo quanh và tìm một băng ghế kín đáo để có thể yên tĩnh trò chuyện. Rồi bà kể, trong chuyến cùng đi Miami lần cuối vào năm 2004, hẳn đã phải xảy ra điều gì khiến Carlos rúng động. Hình như ông đã gặp lại các bạn học cũ đã rời Cuba thủa còn trai trẻ. “Có lẽ ông ấy không chịu nổi khi thấy họ đã khấm khá đến thế nào. Họ lãnh được nhiều tiền hưu trí, nhà cửa thì rộng rãi và đẹp đẽ ra sao. Ông ấy phải tự dối bằng chết vì không muốn nhìn nhận sự thật“.
Nghe như thể không phải bà chỉ nói riêng về ông chồng, mà đồng thời về một người mà bà không bao giờ dám hó hé cái tên: Castro. Bà kể, bản thân rất lo cho đứa cháu ngoại đang nuôi, là con trai của Blanca đã trốn sang Miami. Cha cháu là sĩ quan quân đội cao cấp nay đã hết hạn phục vụ. Cậu bé có thể sẽ gặp nguy hiểm nếu tiếp xúc với ký giả ngoại quốc.
Người duy nhất của dòng họ Perez đã tỏ ra hết sức gan dạ là ông bác Reynaldo, anh họ của Carlos. Ông là người đầu tiên trong gia đình đã rời Cuba, đã dông từ 1960. Ông tiếp khách tại một căn nhà cũ kỹ ở Miami, ngoài cửa không gắn bảng tên, vì lý do an ninh. Bác Reynaldo là ông cụ 67 tuổi người mảnh khảnh. Áo sơ mi ủi thẳng thớm, thắt cà vạt. Nhìn như luôn mỉm cười, như thể ông không thấy người đối thoại, mà chỉ thấy hình ảnh của một hạnh phúc xa xăm nào đó. Có lẽ Reynaldo là thành viên duy nhất trong gia đình không trốn tránh thực tại bằng cách rơi vào trạng thái thờ ơ lãnh đạm hoặc chỉ biết đeo đuổi danh vọng. Người nhà nhận xét: “Bác Reynaldo mang một nỗi ám ảnh”. Ông cuồng nhiệt trong cuộc đấu tranh chống Castro. Và chính ông cũng là người đã xếp đặt cho ký giả gặp gia đình Perez.
Tất cả rồi sẽ khác. Người mong, kẻ lo!
Reynaldo làm việc tại Little Havanna là khu phố sát trung tâm Miami. Đây là nơi những người tỵ nạn Cuba đầu tiên kéo đến trú ngụ vào những năm 60, trước khi liên tục chuyển vào những khu mới bao quanh thành phố. Khu ngoại ô, Quận Dade, là khu vực phát triển của người tỵ nạn Cuba, nới rộng dần ra như những vòng tuổi trong ruột cây. Và vẫn tiếp tục thành hình những vòng mới, cho đến khi có thay đổi lớn, lúc ông già Castro lìa trần. “Nhiều người Cuba sẽ quay trở về đảo”, bác Reynaldo tiên đoán như vậy. “Thậm chí thằng cháu Manuel cũng sẽ về, dù cho bây giờ nó quả quyết ngược lại. Nó chỉ cần già dặn, chín chắn hơn. Dân tộc Cuba chúng tôi là một.”
Reynaldo Perez đã không thu xếp kịp để có mặt trong buổi đoàn tụ gia đình ngày chủ nhật tại nhà Manuel, vì còn nhiều việc cần làm. Ông hoạt động trong một tổ chức người tỵ nạn Cuba, Phong trào Ki Tô giáo Tự do, Movimiento Cristano Liberación . Ông tin chắc rằng, người Cuba rồi sẽ tự nắm tương lai trong tay mình. Họ chả cần những ông già lưu vong với đầu óc bê tông đã khấy động hận thù chống Castro hàng chục năm nay ở Miami, qua các báo lưu vong và các chương trình phát thanh được chính phủ Hoa Kỳ ủng hộ.
“Nhiều lão già ngày nay vẫn khoái nhất là được trở về với súng ống trong tay”, bác Reynaldo nói thế, “nhưng may mắn thay là họ không nâng nổi nòng nữa.” Ông mơ đến việc tất cả những người Cuba đều ngồi lại chung vào một bàn, cả những người cộng sản: những người nắm quyền lực kín đáo sau lưng Raúl Castro như bộ trưởng ngoại giao Felipe Pérez Roque, ông đặc trách kinh tế Carlos Lage, cũng như chủ tịch quốc hội Ricardo Alarcón. Nhưng họ có thèm nói chuyện với Reynaldo Perez đâu. Từ 46 năm nay, ông chưa hề đặt chân lại trên quê hương, vì bị cấm cửa.
Vì thế ông đã vận động các chính phủ trên thế giới chống lại chính quyền Castro và quảng bá các chương trình hoạt động của nhà hoạt động đối lập Oswaldo Payá hiện đang sống trong nước. Nhân vật này đã thu thập được 25.000 chữ ký để vận động bầu cử tự do. Ngoài ra Perez cũng hoạt động giúp đỡ cho 75 nhà đối lập, văn sĩ cùng ký giả đã bị Castro tống giam năm 2003. Liên hiệp Âu châu cũng còn lên tiếng phản đối nữa là. Và mối quan hệ của họ với Cuba từ đó cũng lạnh nhạt đi nhiều. Perez bảo: “Chỉ vài tháng nữa là họ có thể được trả tự do”.
Ở Havanna người ta biết đến bản thân cũng như tổ chức của ông, và nhà đối lập Payá là khách được nhiều đại sứ quán săn đón. Một nhà ngoại giao châu Âu phát biểu: “Ông Reynaldo Perez đánh giá bản thân quá cao. Ảnh hưởng của Âu châu chưa bao giờ yếu như hôm nay vì Castro không khẩn cấp cần họ nữa. Dầu hoả thì nhận từ Venezuela và Trung Quốc thì cấp tín dụng.”
Nhà ngoại giao đang ngồi trong văn phòng Havanna, sau cửa sổ chấn song sắt. Hạ thấp giọng khi đề cập đến chính trị, ông tin rằng đang bị nghe lén. “Dân chúng Cuba chẳng những sợ chính quyền mà còn ngại cả việc những người Cuba lưu vong sẽ đòi lại nhà cửa và đất đai. Ở đây khối gì bọn cơ hội. Thật khó đánh giá được người dân Cuba đang nghĩ gì, chỉ chắc chắn rằng, chế độ này chả còn tí cơ sở lý tưởng nào.”
Ngược lại, Reynaldo Perez đã đấu tranh từ suốt 40 năm ròng. Lúc Castro chiến thắng, Perez mới là sinh viên kiến trúc. “Thoạt tiên tôi tin thật là cách mạng sẽ mang lại công bằng xã hội, thế nhưng Castro đã chả làm quái gì cho người nghèo cả.” Vị tân tổng thống đã đóng cửa trường Đại học Ki tô giáo, nơi Perez đang theo học, thế là cậu rút vào bí mật và tìm cách xây dựng một tổ chức quần chúng đối lập. Để tránh bị bắt, cậu đã trốn vào sứ quán Panama mùa thu năm 1960. Rồi được phép xuất cảnh sang Mỹ. Một vài tháng sau, cậu quay lại với một ca nô đầy vũ khí. Thủa ấy, đầu năm 1961, cả thảy cậu đã tải 4 chuyến vũ khí như thế từ đảo Key trước bờ Florida về Cuba.
Vài tuần sau, ngày 17 tháng tư, người Cuba lưu vong đã đổ bộ vũ trang lên vịnh Con Heo dưới sự hỗ trợ của CIA. Reynaldo có ý định đánh chiếm đại học để tranh thủ sinh viên tham gia lật đổ. Nhưng cuộc đổ bộ thất bại. Bố của Carlos đã dấu đứa cháu du kích trong căn nhà mà nay Maria và Carlos đang sống. Ông cụ đưa Reynaldo đến sứ quán Chile. “Ông đại sứ đã cứu mạng tôi”. Rồi Reynaldo Perez sang Puerto Rico dưới vỏ nhà kinh doanh vải sợi. Năm 1980, chàng nhập cư vào Mỹ.
Ngày nay ông sống với vợ tại một khu gia cư được rào chắn và canh gác. Trong ngôi nhà dãy có bày bộ trường kỷ hoa hòe và chiếc ghế bành tai dựa, nhìn có vẻ cổ, nhưng thật ra mới toanh, chả có tí dấu vết sử dụng nào. Đây là địa điểm để thỉnh thoảng Reynaldo Perez có thể quên đi câu chuyện giòng họ mình. Ông chưa hề gặp lại được bố mẹ. Họ hàng ở Cuba cũng chỉ còn vẻn vẹn hai người: Một đứa cháu gái chưa hề biết mặt và Carlos. Lần sau cùng gặp nhau cách đây đã 3 năm tại Miami, Reynaldo bảo rất vui mừng được gặp lại Carlos dù rằng hoàn toàn không thể chia sẻ quan điểm về Cuba được. “Cậu ấy là một kẻ viễn mơ.”
Carlos Perez đứng lên rời ghế bành, bộ mặt khó chịu của ông muốn báo cho khách nên đi là vừa. Maria cũng đứng dậy. Thế là lại tràn ly, họ cãi vã. Mà nỗi khổ của Maria thì lấy ngôn từ nào để diễn tả cho nổi. Hôn nhân thì bị sự câm lặng ngự trị, một sự im lặng từ sợ hãi, như nhiều nơi trên đất Cuba. Có lẽ điều mà Maria kinh hoàng nhất đã xảy đến từ lâu: mối bất đồng kinh niên với câu hỏi: sống ra sao đây, đã phá tan hoang mất tình yêu của mình. Phòng khách tối tăm, căn hộ ít ánh sáng chiếu vào. Chiếc trường kỷ cũ kỹ, chiếc đèn trần nhiều ngọn, những chạm trổ vôi vữa trên trần, toàn bộ gia sản kế thừa của gia đình Perez trông như những món hàng xáo bị quẳng ra từ một bảo tàng viện bị đóng cửa từ đời nào. Kể cả bình hoa, chiếc độc bình Tầu có vẻ đắt giá mà tổng thống Cuba Ramon Grau đã tặng cô em gái của Carlos vào thập niên 40, nhân ngày cưới.
Có lẽ trong giây lát này, Maria đã đánh mất đi niềm tin rằng, một ngày nào đó, ngôi nhà sẽ bừng dậy thoát tình trạng mờ mờ nhân ảnh này. Có lẽ bà nghĩ tới cô em Cristina đã kịp thời bỏ lại tất cả. Cristina đã sống ở Miami từ 1962. Bà khác tính Maria, tức là không nhút nhát mà có phần ồn ào. Ngày xưa bà đã trốn vào một sứ quán ngoại quốc, mà không hề cho gia đình biết trước. Tại đó bà đã gọi điện về nhà. “Bộ mày điên rồi hả?”, Maria mắng, hai chị em lúc ấy cùng mới nhỉnh 30. “Về nhà ngay đi!”. Nhưng Cristina đã không quay về và anh chồng cũng theo cuộc sống lưu vong nốt. Hôm nay, bà sống một mình trong căn nhà, có hồ bơi, được cho thuê một phần. Tiền thuê nhà là thu nhập duy nhất. “Tôi không biết liệu Cristina có thực sự hạnh phúc hay không”, Maria bảo. Cristina thì nói: “Maria vẫn còn cay cú”.
Carlos đã bước ra ngoài sân hiên và đứng sững. Bà quản gia, một chàng thanh niên và một cô thiếu nữ đang ngồi trên những chiếc ghế mây. Chàng trai là cháu ngoại của Maria, con của Blanca đã bỏ trốn. Cậu đang nói chuyện điện thoại, cô gái thì đang bấm gì đó trên chiếc di động của mình. Chả ai buồn ngước lên. Blanca không đem con trai sang Miami được và cũng không biết liệu nó có ý định theo mình không. Qua điện thoại, Blanca không thể nói tách bạch được. Ngay cả trong điện thư, cũng chả dám hỏi tình hình con mình thật sự ra sao nữa.
Maria thì bảo, cháu muốn hoàn tất học trình về kinh tế. Bà cũng không rõ, cậu suy nghĩ gì về đất nước cũng như cậu có dự tính gì. Như cả nước Cuba thế thôi, cậu cũng chờ. Rốt cuộc rồi sẽ phải có thay đổi nào chứ , rồi sẽ phải nổ ra điều gì chứ.
Cái sân hiên câm lặng, âm ỉ và hoang phế này thật đúng là cảnh trang sân khấu của một tấn tuồng phi lý. Là bức tranh Cuba đêm trước của một thực tế mới. Dù ra thế nào chăng nữa, cũng chẳng còn xa mấy. Ai cũng nghĩ thế. Mà kẻ thì chờ, người lại lo!
“Ông đi đi!“ Carlos bảo.
Maria tựa vào chiếc cột nhái kiểu Hy lạp ở rìa sân. Bà chẳng buồn nhìn chồng. Trên tay là chiếc túi vải xanh trống rỗng.
“Khi nào Carlos chết”, bà nói, “tôi sẽ đi”. Câu nói vang lên như một niềm hy vọng.
Bản tiếng Việt © 2007 talawas
[1]Họ tên đều đã được tác giả thay đổi – ND