trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
31.7.2007
Nguyễn Thanh Trà
Đọc “Trăng Hoàng cung” và “Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’” – Nghĩ về lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn
 

Thay lời bạt

Sinh thời, nhà thơ Phùng Quán thường đến nhà ba tôi – một đồng hương xứ Huế để uống rượu và đọc thơ. Tôi từng hân hạnh được nghe ông đọc những bài thơ gan ruột của đời mình trong những đêm đông Hà Nội với ấn tượng khó quên. Và khi tôi sống ở nước ngoài, món quà của cái Tết xa nhà đầu tiên ba tôi gửi tặng tôi là 2 cuốn băng cassette ghi âm giọng đọc thơ Phùng Quán. Từ đó, Phùng Quán luôn là nhà thơ đi bên tôi trong suốt thời gian xa quê hương, nơi mà tôi đã gặp không ít những khó khăn, thất bại trên đường đời. Và cũng chính từ những thất bại đó đã khiến tôi càng hiểu hơn về nhà thơ Phùng Quán.

Mặc dù được quen biết nhà thơ, nhiều lần nghe ông kể chuyện, nhưng khi nào đọc những tác phẩm của ông cũng gây cho tôi một cảm giác có một điều gì đó kỳ bí trong cuộc đời của con người mà tài năng, tính cách và số phận luôn mang nét huyền thoại này.

Gần đây, tôi được đọc thêm một số truyện ký và thơ của ông, tôi lại vẫn băn khoăn tự hỏi: bao nhiêu phần trăm là sự thật, bao nhiêu phần trăm là hư cấu trong các sáng tác của ông. Và có một tác phẩm gây cho tôi sự chú ý đặc biệt, đó là Trăng Hoàng cung. Nhớ lại, có lần tôi được nghe nhà thơ nói với ba tôi: “Từ lâu lắm rồi, tôi muốn viết một cuốn tự truyện bằng thơ”. Đọc xong Trăng Hoàng cung, tôi biết rằng đây chính là một phần cuốn tự truyện bằng thơ mà Phùng Quán đã từng ấp ủ. Một số bài thơ trong Trăng Hoàng cung tôi đã được trực tiếp nghe chính tác giả thể hiện: dữ dội lắm, thống thiết lắm… Nhưng khi đọc toàn bộ tác phẩm Trăng Hoàng cung thì mới càng cảm thấy sự thi vị của nó. Lần đầu tiên tôi đã đọc Trăng Hoàng cung bằng sự say mê cộng với những kỷ niệm, những hồi ức về nhà thơ, nó cứ như thực như mơ, tôi như bị cuốn vào những cơn “mộng tưởng” của ông. Với tâm trạng của một kẻ sống tha hương, tôi càng thấu hiểu cảm giác, nỗi niềm của ông khi viết Trăng Hoàng cung – cảm giác của một người xa quê hương bị cuộc đời vùi dập và cảm giác khi lần đầu tiên trở lại quê nhà.

Câu chuyện về cuộc đời của Phùng Quán cứ ám ảnh tôi cho đến một ngày tôi được đọc bản thảo Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’ của Hà Khánh Linh. Còn nhớ trong “Hậu từ” của Trăng Hoàng cung, tác giả đã viết: “Tiểu thuyết, dù là tiểu thuyết huyền hoặc nhất đi nữa đều có xuất xứ từ những mẫu hình có thật”. Chính điều đó đã thôi thúc tôi đọc những trang hồi ức của chị. Phải nói rằng tôi bị cuốn hút ngay, bị cuốn hút không phải sự sắc sảo trong ngôn từ hay nghệ thuật văn chương mà là nội dung những sự việc được kể lại trong đó. Bởi bất cứ một tác phẩm văn học nào, khi ta biết được bối cảnh ra đời của nó, ta sẽ cảm nhận được nó một cách sâu sắc và đầy đủ hơn. Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’ đến với tôi là như vậy. Nó gần như một phần xuất xứ, phần nào giải thích rõ hơn cho Trăng Hoàng cung. Đồng thời như một cái nền để tôn toàn bộ tác phẩm Trăng Hoàng cung lên. Đặc biệt qua đó cho người đọc hiểu rõ hơn sự lao động sáng tạo nghệ thuật của nhà văn – từ hiện thực đến tác phẩm.

Tôi nghĩ không chỉ riêng tôi mà tất cả những ai yêu thơ Phùng Quán đều thầm biết ơn chị – “Nàng Thơ”, người đã gây “nguồn cảm hứng” cho thi sĩ để có được những bài thơ hay đến thế. Và riêng tôi, tôi cảm ơn chị đã cung cấp cho tôi một tư liệu quý về đời viết văn của Phùng Quán. Xin được coi bài viết của chị như một tư liệu mà qua đó người đọc thấy được sự rung động của tâm hồn nhà thơ, một tâm hồn nhạy cảm, đầy lãng mạn, một sự đam mê đến quyết liệt cũng như sức tưởng tượng diệu kỳ, sự sáng tạo độc đáo và sự biểu cảm đến mê hồn. Tất cả những cái đó chỉ có thể có ở con người “làm gì có chừng mực yêu” như Phùng Quán – một nhà thơ ở tuổi 52, đã bao năm bị vùi dập, nếm trải bao đắng cay của cuộc đời, khi mà mạch thơ tưởng chừng “đã cạn đến giọt cuối cùng”, gặp tiếng sét ái tình để cảm xúc thơ lại tuôn trào “như suối nguồn nơi phát tích”, thì người phụ nữ – Nàng Thơ – của thi sĩ cũng đáng nói đến lắm chứ. Chị đã có cái gì đó để nhà thơ hồi sinh đến bất tử như vậy? Có thể coi chị là một nhân chứng cho cuộc đời nhà thơ. Nếu không có chị, không có bài viết của chị, vài chục năm sau thế hệ hậu sinh hẳn sẽ phải loay hoay lần về quá khứ mà kiếm tìm xem Phùng Quán đã viết Trăng Hoàng cung như thế nào?

Phùng Quán đã viết Trăng Hoàng cung như thế nào ư? Đó là cả một quá trình lao động sáng tạo nghệ thuật từ khi tâm hồn nhạy cảm của thi sĩ gặp được “Nàng Thơ” giữa thành phố quê hương và ông đã trải hồn trên những trang giấy kể lại câu chuyện về cuộc đời mình rất chân thành và cảm động, với nhiều chi tiết sinh động, với chất lãng mạn bay bổng giàu suy tư hoà cùng tính nhân văn luôn thấm đẫm trong ông, để từ các vấn đề cá nhân trong cuộc sống, ông bộc lộ được tính cách, nhân sinh và gửi vào đó cả tâm hồn mình với bao khát vọng về cuộc sống.

Có thể nói con đường để hình thành và chuyển hoá từ những câu chuyện rất đời thường thành những bài thơ rồi thành một tác phẩm văn học có sắc thái riêng với khả năng biểu cảm độc đáo là quá trình đam mê sáng tạo nghệ thuật của người thi sĩ tài danh. Bằng tài năng, trí tuệ và tình yêu đằm thắm của mình, tác giả đã điều khiển ngòi bút vừa tài tình vừa điêu luyện để vẽ nên bức tranh đầy màu sắc sinh động và trung thực của cuộc sống mà nổi bật lên là chân dung thực về cuộc đời ông, nó làm lấp lánh thêm những mảng màu sâu lắng của cuộc sống và thấp thoáng đâu đây nỗi niềm khát vọng một tình yêu, một giấc mơ hạnh phúc. Tất cả đã được tạo nên trong một không gian đầy mâu thuẫn về số phận bi kịch của con người tài hoa bất hạnh, con người đầy tâm huyết luôn khát khao được cống hiến. Đồng thời, nó cũng tạo nên sự hoà hợp nhuần nhuyễn giữa tài năng và nhân cách trong con người nhà thơ đã từng một thời mặc áo lính.

Qua Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’, ta thấy rằng những bài thơ trong Trăng Hoàng cung đều bắt nguồn từ một duyên cớ nào đó, có khi từ một câu chuyện không đâu hoặc có những chi tiết tưởng chừng như rất đỗi bình thường, nhưng bằng khả năng quan sát tinh tế cộng với trí tưởng tượng, tài hư cấu và được thể hiện bằng giọng văn giản dị, chân thật. Tác giả đã khiến những điều bình thường đó trở nên có ý nghĩa. Đặc biệt, ẩn giấu đằng sau những điều giản dị kia luôn là một triết lý sống sâu xa, một cái nhìn đầy yêu thương với cuộc đời. Đó chính là đặc điểm nổi bật trong giọng văn Phùng Quán, từ quan niệm cho tới thực tế sáng tác, như trong một bức thư gửi cho người bạn, ông đã từng viết: “Với anh thì lời khen tặng sang trọng về thi ca là của nhà văn Đan Hích nói về Andersen: “Ông là người có khả năng kỳ diệu. Bất kỳ cống rãnh nào cũng mò thấy được ngọc trai” [1] . Đây cũng chính là quan niệm sáng tác của Phùng Quán. Thêm vào đó, tài năng của Phùng Quán là sự kết hợp tinh tế giữa tính tư tưởng đầy sức khái quát với tính hình tượng vô cùng sinh động, từ những hiện tượng tự nhiên như mưa – nắng, cho tới những hình ảnh như trăng, đò, trái bí xanh, trái cây dập nát… và cả những sự việc cụ thể như: Tôi chỉ viết trên giấy có kẻ dòng, Tôi khóc, Lời van xin… tất cả đều mang một dáng vẻ, một ý nghĩa nhất định nào đó phù hợp với ý tưởng nghệ thuật của tác giả. Chính vì vậy, toàn bộ tiểu thuyết Trăng Hoàng cung là sự kết hợp tài tình giữa những bài thơ rút từ gan ruột, thấm đẫm tình người, tình đời, tình yêu quê hương đất nước với những đoạn văn xuôi đầy chất thơ, vừa diễn giải vừa biểu đạt cả tâm sự lẫn thế sự của một giai đoạn lịch sử mà cuộc đời nhà thơ đã trải nghiệm. Với những đoạn văn dẫn giải cho những câu thơ, những câu thơ lại cô đọng ý tứ của đoạn văn và cứ như vậy, cái nọ bổ sung làm sáng tỏ cho cái kia rồi kết hợp lại với nhau song song đồng hành tạo nên một thế giới thi ca đầy nghệ thuật. Cũng như vậy, tâm trạng của tác giả được thể hiện qua từng chương cứ đan xen giữa quá khứ với hiện tại, giữa cái thực và cái mơ. Tác giả đưa người đọc đi từ cuộc đời thực rồi tất cả cứ bị nhòa đi và cuốn theo vào hư ảo rồi lại trở về với sự đau đớn của hiện tại như sau một giấc mơ, tạo nên sự hấp dẫn đến kỳ lạ…

Tác giả đã thành công trong việc thể hiện chân dung và tính cách của nhân vật chính. Tuy cuộc đời gặp nhiều gian nan trắc trở nhưng không bao giờ chịu khuất phục, nhất là khi đặt vào hoàn cảnh nghiệt ngã. Tác giả đã đi sâu vào nội tâm để diễn tả những diễn biến tâm lý thật tinh tế sắc sảo, những hành động cụ thể đầy cá tính, khiến người đọc thấy rõ một con người có thật, rất thật… Nhân vật chính được giới thiệu qua phần “Khai từ” hết sức ngắn gọn, đặc sắc: “20 tuổi, người lính thất học, tôi bỗng trở thành nhà văn…” Và thấy ngay lời tuyên ngôn nghệ thuật của tác giả: “Thơ là lý lịch, là mạng sống đời tôi”. Chính lời tuyên ngôn đó đã tạo cho ông một tiếng nói, một giọng văn và một bút pháp có sắc thái riêng độc đáo không thể lẫn với bất cứ ai. Đó là con người đã tin vào sức mạnh của Thơ như sức mạnh của vũ khí, đã “đúc thơ thành đạn” để “chống tham ô lãng phí” và rồi cũng bằng thứ vũ khí đó nhà thơ đã viết lên “Lời mẹ dặn” chống lại “những kẻ làm càn” để một lần nữa khẳng định nhân cách và cũng một lần nữa nói lên toàn bộ tuyên ngôn của đời mình.

Con người tài năng độc đáo đó chính là nhà thơ Phùng Quán, người “chỉ viết trên giấy có kẻ dòng”, người đã sống vì thơ và chết cũng vì thơ.

Kết thúc đoạn văn đầy hào khí kể về tiểu sử oanh liệt của mình, tác giả viết: “Và tôi đã phải trả giá cho thơ bằng ba mươi năm tốt đẹp của đời mình…” Trời ơi! Trả giá bằng 30 năm tốt đẹp của đời mình mà tác giả viết có một câu nhẹ bỗng vậy thôi sao? Hỡi những ai đọc tới đây xin hãy nhắm mắt lại tưởng tượng xem đằng sau ba dấu chấm lửng kia là những cái gì mà sao tác giả không nói đến? Tác giả đã sống ra sao trong 30 năm đó?

Xin hãy nhớ lại một chút chặng đường lịch sử của xã hội Việt Nam vào khoảng những năm cuối thập kỷ 50 cho tới giữa thập niên 80 của thế kỷ XX, ai đã trải qua chiến tranh và ai đã từng sống trong thời kỳ bao cấp. Bao gian khổ đè nặng lên gian khổ, khó khăn chồng chất lên khó khăn… Bên cạnh những khó khăn chung mà cả xã hội lúc đó đã phải gồng mình lên để vượt qua thì cái gọi là “trả giá” của con người coi Thơ là “mạng sống” phải kể đến trước hết là sự đau đớn về tinh thần, khi mà tác giả đã bị tước đi cái quyền viết văn, quyền xuất bản – cái quyền lao động thiêng liêng nhất của một nhà văn.

Ôi 30 năm, 30 năm tốt đẹp nhất của một đời người. Tại sao lại trớ trêu đến như vậy? Một người lính, một nhà văn có trách nhiệm với đất nước. Người đã dự báo trước một hiểm hoạ của đất nước “tệ quan liêu tham nhũng, tuy ngày đó chỉ mới manh nha”, cái tệ nạn mà nửa thế kỷ sau vẫn được coi là vấn đề “quốc nạn”. Không lẽ con người coi “Lời mẹ dặn” như một phương châm sống của đời mình lại phải chịu sự trừng phạt oan khuất và phải trả giá nặng nề đến thế sao?

Nhưng sự trả giá này càng chứng tỏ rằng “những kẻ làm càn” kia đã sợ sức mạnh của Thơ, sợ thứ vũ khí của ông biết chừng nào. Và cũng chính nhờ vào sức mạnh của thứ vũ khí đó mà ông đã không hề gục ngã suốt ba mươi năm. Chính điều đó càng khiến cho chúng ta và bao thế hệ sau thêm trân trọng và “không thể nào quên đã có một nhà văn tên là Phùng Quán chịu đựng gian khổ, chấp nhận hy sinh để đánh đổi lấy phẩm giá bậc nhất của con người” [2] .

Có lẽ sự trả giá nghiệt ngã kia đã khiến cho “cái giếng Thơ tôi tưởng như bị tắc mạch, hoặc đã múc cạn đến gầu cuối cùng…” – tác giả viết – “tôi quyết định rời bỏ gia đình, bạn hữu, giữa cái tuổi ngoài 50, lên rừng tìm đào bới mạch thơ giữa thiên nhiên”. Với hai trang sách tả lại cuộc sống ba năm ở rừng núi Thái Nguyên này lại hiện lên rất rõ một nỗi đắng cay khác của đời ông. Đó là sự đơn độc… Nơi ông hy vọng sẽ tìm lại được nguồn thơ thì sau ba năm chỉ có được duy nhất một bài “Lá khổ sâm”. Tác giả đã kết thúc phần “Khai từ” với bài thơ “Lá khổ sâm” như một sự dồn nén tất cả nỗi khổ đau, sự đắng cay trong 30 năm của đời ông để cất ra thứ rượu khổ sâm:


Ôi rượu khổ sâm đắng lắm

Đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian…

Ôi, câu thơ hơn hai mươi năm sau đọc lại vẫn còn vị đắng và sẽ còn nhức nhối bao trái tim khi hình dung ra tác giả:



Vừa ngâm ngợi câu thơ

Vừa cạn chén rượu đời

Cất bằng lá khổ sâm.

Vượt qua sự nghiệt ngã của thời gian, sóng gió của cuộc đời. Sau 30 năm bị “dìm trong bùn-nhơ-lăng-nhục”, chịu đựng bao cơ cực, 30 năm âm thầm lặng lẽ tự khẳng định nhân cách của mình, nhà thơ đã lần về quê hương như tìm về với người mẹ thân yêu; như đứa con được sà vào vòng tay âu yếm của người mẹ, và những câu thơ bật ra “nức nở thành lời”:



Cuối cùng quê hương đã nhận ra

Trái-tim-Thơ-trong-sạch

Và gương-mặt-Thơ-bi-thiết-của-tôi…

Dòng sông Hương, dòng sông quê hương, nơi ông cúi xuống rửa mặt trên bến Phu Văn lâu, dòng nước linh thiêng đầy ắp yêu thương đã tràn về trong ông những kỷ niệm nhớ thương với nỗi niềm xúc động, sự thổn thức của một kẻ tha hương. Đó là thời khắc đầu tiên mà tâm hồn nhạy cảm của nhà thơ sống lại, bởi chính ông cũng là một phần của dòng sông này và cũng chính nơi đây trên mảnh đất quê hương thân yêu, mạch thơ, mạch cảm xúc trong ông đã trào ra khi ông được gặp Nàng Thơ – một người phụ nữ Huế, một hiện thân cho quê hương, cho người mẹ, người đã làm cho cái giếng thơ bao lâu tắc mạch khơi nguồn trở lại. Vẫn mạnh mẽ, vẫn quyết liệt và vẫn với sắc thái riêng rất Phùng Quán.

Với những cảm xúc triền miên của tâm hồn: đắm say tha thiết, thấp thỏm nhớ mong từ khi gặp được Nàng Thơ. Tình yêu là cơ sở cho sáng tạo nghệ thuật, cho các rung động của hồn thơ. Tình yêu trong thơ ông cũng chính là biểu hiện của tình yêu cuộc sống, nó xuất phát từ khát vọng sống. Những cảm xúc mà Nàng Thơ đã mang lại cho ông cũng chính là nguồn sống thiêng liêng trong tâm hồn ông, và rồi:



Cảm tạ em tôi đã hồi sinh!

Trong khoảnh khắc tôi lại trở thành triệu phú

Vàng-thơ-em cho lại đầy ắp hồn tôi.



Mỗi chương trong tiểu thuyết Trăng Hoàng cung, ngoài sự dẫn dắt của “câu chuyện tình”, đều chứa đựng những tư tưởng và tâm sự của tác giả về cuộc đời. Ở đây tôi chỉ đi sâu vào phần ấn tượng nhất trong tác phẩm, đó là chương Bảy – chương làm thăng hoa toàn bộ tác phẩm và cũng là chương mà tác giả lấy làm nhan đề cho cuốn tiểu thuyết – Trăng Hoàng cung – Mọi cảm xúc và hư cấu được đẩy lên ở mức cao nhất. Với tâm hồn lãng mạn, tác giả đã tạo nên những ý tưởng rất riêng. Một mảnh thiên đường hoang vắng cho một vị hoàng đế và hoàng hậu, trong một lần về thăm lại cung điện, đền đài, miếu mạo của vương triều vào một đêm trăng: “Tôi và nàng dạo quanh Hoàng Cung, dẫm đạp lên trăng. Các lối xưa xe ngựa giờ lỗ chỗ ổ gà. Những hồ sen bờ xây gạch cổ sụt lở tiếp nối hồ sen… Con đường Trung lộ lát đá Thanh, thêu dệt bóng cây nức mùi hương hoa sứ, rải rác đó đây những bãi phân bò, phân lợn, phân dê… Ôi cái vương nghiệp mấy trăm năm triều Nguyễn tạo dựng chỉ còn lại những phế tích hoang tàn!” Những công trình kiến trúc nổi tiếng của đất Cố đô dẫu từng có một thời vàng son vang bóng đã bị phôi pha qua bao biến thiên của thời gian, lịch sử và sự xao lãng của con người, giờ đây được trăng – “Nhà bày đặt thiên tài” làm cho trở nên lung linh huyền ảo, tất cả không gian hiện lên “dưới bầu trời lộng lẫy màu trăng” đẹp như đã từng có xưa kia:



Ôi, có lẽ nào

Tất cả những gì đêm nay là có thật?…

Em với mái tóc đen dày che nửa mặt

Hồ sen như gấm trải quanh Hoàng Cung

Điện Thái Hoà

Cung Trường Sanh

Thái Bình Lâu… Hiển Lâm Các

Sân Đại Triều mênh mông trăng…

Những điều rất thực và rất mơ cứ dẫn dụ ta đi mãi với ngòi bút tài tình và điêu luyện, khiến ta bị cuốn vào nội dung lời văn, nhịp điệu câu thơ mà đắm mình trong không gian huyền diệu của một đêm trăng huyền ảo:


Ôi, có lẽ nào

Tất cả những gì đêm nay là có thật?…

Câu thơ được lặp lại như một dấu nhấn của cảm xúc làm cho giai điệu càng da diết hơn.



Không – Tôi không tin

Tất cả là do Trăng bày đặt

Trăng thương tôi

Một đời lao lực

Một đời cay cực

Một đời thơ…

Nhịp điệu câu thơ khiến người đọc cảm thấy như thi sĩ đang tự sự với chính mình trong ngậm ngùi xót xa. Và Trăng – “Nhà bày đặt thiên tài” đang:



Vỗ về tôi như trẻ nhỏ – Trăng ru…

Như bà ngoại

Trăng dắt tôi vào cổ tích

Trăng đã làm dịu đi nỗi đắng cay, như một sự an ủi thoáng qua dù chỉ là trong khoảnh khắc. Đó cũng chính là tiếng lòng, là sự khao khát trong tâm hồn thi sĩ. Và cuối cùng trong cõi mông lung mờ ảo vẫn là cuộc đời, là sự sống đích thực, là một người đẹp rất thật với:



… Một vùng tóc như một vùng biển tối

Vừng mắt em thăm thẳm tia nhìn

Những ngón tay ngón chân có mùi hoa đại

Cái cổ trần như rong dưới đáy sông Hương…

Giọng em nói, tiếng em cười

Và nỗi buồn phảng phất trên làn môi

Thi sĩ như muốn níu kéo mãi khoảnh khắc hạnh phúc ngắn ngủi trong đời bên người đẹp trong một thế giới ngập tràn ánh trăng. Một thế giới đầy ảo mộng với những ưu tư khi sắp phải quay lại với thực tại, với cuộc sống nhọc nhằn:



Em ngồi nán lại với tôi

Một phút nữa thôi…

Ừ, hay xin em hai phút

Ôi, Trăng Hoàng cung đêm nay đẹp đến não lòng!

Tôi sắp phải từ giã ngai vàng

Từ giã Hoàng Cung

Giã từ mộng tưởng

Giã từ em…

Tôi sắp phải trở lại cuộc đời cay cực

Qua cửa chính Ngọ Môn



Những lời thơ chất chứa bao nỗi niềm. Thi sĩ đã mang cả cá tính độc đáo cùng với những trải nghiệm của con người tài hoa vào chương thơ này. Thi sĩ đã dùng Trăng như một hình tượng nghệ thuật để chuyển tải những ý tưởng sâu xa. Vượt lên cõi thực, đưa người đọc vào thế giới hư ảo và bị cuốn đi trong trí tưởng tượng phong phú với những đam mê, khát khao xen lẫn ưu phiền, làm sống dậy cả một không gian nghệ thuật từ thiên nhiên cảnh vật cho đến tâm trạng con người. Đây chính là vẻ đẹp độc đáo của Trăng Hoàng cung, một nét đẹp trong cuộc sống được thi sĩ lưu giữ lại để mãi còn in bóng vào văn chương như một biểu tượng và đọng mãi trong lòng người đọc những dư vị của cuộc đời.

Không biết có phải tôi là người hay suy diễn không khi tác giả đã đề là tiểu thuyết mà sao chương sách nào tôi cũng thấy hiển hiện lên cuộc đời của ông trong đó, từ sự mạnh mẽ, dữ dội trong tính cách, từ cái nhìn ưu ái với cuộc đời cho đến những đau đớn mất mát và cả những giằng xé nội tâm giữa một bên là những kỷ niệm của đêm trăng huyền ảo bên người đẹp, thi sĩ đã từng cảm thấy “Tôi là người hạnh phúc nhất thế gian… ”, đã có những khoảnh khắc thèm tự sát “Để vĩnh viễn thành Thơ – Thành Đá – Thành Trăng” và một bên là sự thật đắng cay khi tình cờ hiểu ra “Tôi đã bị dối lừa…”:



Ôi, còn có nỗi thống khổ nào hơn

Tình cờ tôi chợt hiểu

…

Những gì em nói với tôi hôm đó

Em đã nói với nhiều người…

Và mâu thuẫn càng lớn hơn khi “Những câu thơ này nó vượt quá sức tôi / Tôi không thể cất lên được thành lời”. Dùng lối biểu tượng, mượn một motif trong cổ tích để bày tỏ ý kiến của mình, thi sĩ đã phải “Cất giấu tận đáy huyệt tim tôi chiếc chìa khoá của gian phòng cuối cùng…” “Nhưng lòng ham hố vô độ của con người đã khiến Nàng không hiểu được một điều đơn giản đến như vậy”. Vậy là “Giờ bất hạnh đời tôi đã điểm!…” Thi sĩ đã rơi vào “Tình tuyệt vọng”, rơi vào bi kịch đau đớn lẫn đam mê nhưng trong nỗi tuyệt vọng vẫn không thôi “mơ giấc mơ hoang tưởng”. Khi vẫn còn ước mơ là tâm hồn vẫn còn khát khao, vẫn còn tha thiết với tình yêu mà tự nó đã chứa đựng một sức mạnh tiềm ẩn, một sức mạnh thiêng liêng:


… Lời yêu thương cũng không được nói!

… Thì tôi xin chết…

Nhưng tôi không nói lời vĩnh biệt

Vì tôi tin tôi sẽ hồi sinh…

Dù hoả táng

Dù chôn xuống chín tầng đất

Trái tim dập nát của tôi vẫn thắm một khối tình!

Thi sĩ đã vượt lên tất cả nỗi khổ đau kia chính là nhờ lòng tin mãnh liệt vào Con Người, vào Cuộc Sống và Tình Yêu nồng nhiệt say mê với cuộc đời…

Có những cuộc gặp gỡ không định trước mà như một định mệnh, có những cuộc gặp gỡ làm đẹp thêm cho giai thoại văn chương, cuộc gặp gỡ của thi sĩ họ Phùng với Nàng Thơ là như vậy. “Tôi yêu em. Mối tình mê đắm đầu tiên và có lẽ cũng là mối tình cuối cùng của đời tôi. Tôi đã dứt trái tim khỏi lồng ngực dâng hiến em như một Tông đồ dâng hiến mạng sống của mình cho Chúa. Và buồn thay, con người lại không có trái tim thứ hai. Và nhà thơ, không có trái tim tôi biết hát bằng gì?…”

Nàng Thơ – Nàng là ai? Nàng là cuộc đời mà thi sĩ đã yêu tha thiết bằng tất cả trái tim, dù bị cuộc đời phụ bạc ruồng bỏ thì thi sĩ vẫn lặng lẽ đi bên cạnh cuộc đời trong triền miên bất hạnh, khổ đau. Và từ nơi tận cùng khổ đau là nơi bộc lộ rõ nét nhất bản chất và bản lĩnh con người ông. Thi sĩ đã phải “nấu chảy và đúc Sự Thật thành ngôn từ” vì “Sự Thật còn lớn hơn cả tình yêu, lớn hơn cả trái tim. Chối bỏ Sự Thật, ôi điều này vượt quá sức tôi…”

Sự Thật – đó chính là cái đích cuối cùng mà Phùng Quán muốn nói đến, là một lời kết khép lại 13 chương tiểu thuyết, đó cũng là tư tưởng xuyên suốt từ đầu đến cuối tác phẩm.

Chỉ với cái nhìn tinh tế, ta mới hiểu đúng bản chất con người và những điều cốt lõi trong tác phẩm của ông, nhìn theo cách đúng nhất của nghệ thuật có tính lịch sử để tìm kiếm lại Sự Thật, sự trung thực của lịch sử.

Và cuối cùng tác phẩm được kết thúc bằng những câu thơ trong “Hậu từ”:


Thượng đế ơi!

Tôi đã làm gì

Mà ly rượu đời Người ban cho tôi

Đắng thế?…



Đó là tiếng kêu của người đã thấm hết nỗi đau một kiếp người bị oan ức. Là câu hỏi đặt ra cho những người đang sống và thế hệ sau phải nhìn lại lịch sử.

Ôi cái “Hậu từ” cứ vọng lại như phảng phất hơi hướng của tác giả Đoạn trường tân thanh:



Hận kia xin hỏi Trời già…

… Biết ai hậu thế khóc chàng Tố Như.

Chính vì vậy, Trăng Hoàng cung không chỉ là một cuốn tiểu thuyết đơn thuần, mà có thể nói rằng – Trăng Hoàng cung là một tuyệt tác trong đời viết văn, làm thơ của Phùng Quán kể cả về nội dung tư tưởng lẫn cách thể hiện độc đáo của tác phẩm. Ông đã chắt ra từ cuộc đời mình, một cuộc đời “đắng đến tận cùng nỗi đắng thế gian” để gửi đến hậu thế những gì tâm huyết nhất, những gì thiêng liêng nhất của một người chiến sĩ sống có lý tưởng với đầy nhiệt huyết và dũng khí, của một nhà văn có đủ nhân cách và bản lĩnh “đi trọn đời trên con đường chân thật” và vượt lên trên tất cả những điều đó là khát vọng của một CON NGƯỜI: được sống, được yêu và được cống hiến hết mình cho Tổ quốc và Nhân dân.

Cuối cùng xin trích ra đây một đoạn văn của Nguyễn Trọng Huấn để thấy rằng sinh thời Phùng Quán yêu Trăng Hoàng cung đến nhường nào: “Đời thơ Quán, cho đến chết chỉ có “Trăng Hoàng cung” được in, nhưng ở nước ngoài. Đinh Cường vẽ bìa, minh hoạ, Thanh Văn xuất bản. Mấy quyển sách biếu chỉ làm Quán thêm khổ thân, mất công, mất tiền photo, ký tặng bạn. Để có nó, Quán bò ra sàn nhà dàn trang tỉ mẩn đếm từng tờ, gập, vuốt, xếp, xâu, xỏ, đóng… Đầu gối quá tai, liếm liếm mút mút mấy sợi chỉ, cặp kính lão cũ không biết ai cho, tụt lên tụt xuống trên sống mũi cao gầy, luồn được sợi chỉ qua chân kim lại tủm tỉm cười một mình, phấn chấn như vừa hoàn thành một kỳ công. Nhất định tự làm, không cho ai giúp. Tôi ngồi nhìn Quán, Quán ngồi nhìn sách, đắm đuối đăm chiêu một cách rạng rỡ như người sản phụ nâng niu đứa con rứt ruột, như sợ có ai sắp giật khỏi tay mình. Ôi đứa con đầu lòng sinh nở vụng trộm ngoài hôn thú, lén lén, lút lút, thấy mà thương” [3] .

Đứa con tinh thần được sinh ra từ niềm đam mê trọn đời không thay đổi, đó chính là một phần hạnh phúc của đời ông. Bởi qua đứa con thân yêu này, Phùng Quán đã gửi trọn được toàn bộ thông điệp của mình đến với cuộc sống. Bao đớn đau, phiền muộn rồi sẽ tiêu tan, chỉ có Tình Yêu, Tình Người và Niềm Tin với cuộc sống là còn lại mãi mãi. Và với riêng Huế, Trăng Hoàng cung ra đời như một sự trả nghĩa của đứa con với mảnh đất đã sinh ra nhà thơ.

Xin cảm ơn dòng sông quê hương ông, mảnh đất quê hương ông. Xin cảm ơn “Nàng Thơ – một vầng Trăng Hoàng cung”. Xin cảm ơn nhà thơ với những gì ông để lại trên trang sách sẽ còn gợi nhiều suy tư cho cả những người đương thời và hậu thế.

Đọc Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’, khi những dòng cuối khép lại, những điều hư thực trong tiểu thuyết Trăng Hoàng cung của Phùng Quáng không còn làm tôi băn khoăn nhiều nữa, nhưng tôi vẫn cứ muốn nghe kể mãi về cuộc đời con người tài hoa này và tôi “ngộ” ra một điều rằng cái hư thực giữa “mẫu hình có thật” với tác phẩm chỉ là hữu hạn, còn cái hư thực giữa tác phẩm với cuộc đời mới là điều tác giả muốn nói đến. Đó chính là những khát vọng, những tâm tư đã theo ông đi suốt một đời thơ mà ông đã phải xé lòng để viết ra những trang đời đẫm nước mắt.

Và tôi có một niềm tin rằng, cũng như tôi, bạn đọc sẽ đón nhận Phùng Quán viết ‘Trăng Hoàng cung’ của Hà Khánh Linh với tất cả sự yêu thương, trân trọng với nhà thơ; qua đó sẽ càng hiểu, đồng cảm và càng khâm phục tài năng sáng tạo nghệ thuật của nhà thơ, để khi đọc lại Trăng Hoàng cung sẽ cảm thấy đầy đủ, trọn vẹn và sâu sắc hơn rất nhiều.

Sindelfingen, tháng 9-2006

© 2007 talawas


[1]“Những lá thư cuối cùng”– Nhớ Phùng Quán – Nxb Trẻ, 2003. Trang 147.
[2]Phùng Cung, “Thác là thể phách, còn là tinh anh” – Điếu văn đọc tại Lễ tang Phùng Quán. Nhớ Phùng Quán, Nxb Trẻ, 2003. Trang 23.

[3]“Như một ảo ảnh!” Nguyễn Trọng Huấn – Nhớ Phùng Quán, Nxb Trẻ 2003, tr. 195-196.

 
© talawas 2026