trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.2.2006
Đông La
Đọc “thơ tù” của Hoàng Hưng
 

Ý định viết và không viết về Hoàng Hưng cứ đan xen giữa hai bên tâm và trí tôi, bên tâm thì bảo đừng viết vì là chỗ quen biết, còn bên trí thì bảo phải viết vì cái chung; và cuối cùng bên trí đã thắng. Trước hết tôi thấy giữa tôi và anh có cái lạ là cùng “bị tù” một lúc; khi tôi bắt đầu bị cầm tù trong văn chương thì cũng là lúc anh bị giam trong nhà ngục. Những bài thơ trong tù của anh sinh cùng thời những sáng tác đầu tay của tôi. Nhưng nếu anh chỉ là một nhà thơ bình thường, không phất cờ khởi nghĩa với tham vọng “đối gác” cho thơ Việt Nam, và anh không đưa những tuyên ngôn, quan niệm, đánh giá, tổng kết, phân cấp, xếp hạng…, không cổ vũ những khuynh hướng dẫn thơ đến sự băng hoại… thì tôi sẽ không viết bài này, mà nếu có sẽ viết khác.

Trước hết tập Ác mộng đã làm tôi ngạc nhiên bởi tôi vẫn luôn nghĩ, với tầm vóc của một Hoàng Hưng qua dư luận, tuy không phải chính thống mà ở bàn trà, bàn tiệc nơi những phòng khách, quán xá… thì những bảo phẩm thi ca còn trong vòng bí mật của anh nay bất ngờ được trưng ra phải khác. Dù rằng, Ác mộng quả thực là một tập thơ độc đáo, nhưng cái độc đáo ở đây đơn giản chỉ vì nó là “thơ tù” chứ hoàn toàn không phải vì bút pháp cao cường; không phải vì nó chứa đựng cái chí cao cả của một người sẵn sàng xả thân vì nghệ thuật, cái ý tứ thâm sâu của một nhà tư tưởng,… tức những phẩm chất của của một nhân vật muốn “phất cờ khởi nghĩa” như Hoàng Hưng cần phải có. Thì ra, giống như một cô gái, để khỏa thân được giữa ánh sáng ban ngày mà không bị phản cảm, phải cực đẹp. Nghệ thuật nửa kín nửa hở, nghệ thuật thấp thoáng, nghệ thuật “xì xầm” thực tế đã tạo ra quá nhiều ảo tưởng.

Như tôi đã viết trong bài về Đỗ Hoàng Diệu gần đây là có hai loại văn chương: “giác quan” và “đầu óc”. Văn chương giác quan thấy gì viết nấy, gặp gì nghĩ nấy; còn văn chương đầu óc, qua tất cả những điều thu nhận được, người viết tái tạo lại một bản văn khác, qua đó biểu đạt, biểu cảm cao sâu hơn. Thật tiếc là Ác mộng của Hoàng Hưng cũng chỉ là văn chương “giác quan” mà thôi. Từ cảnh vật, sinh hoạt trong tù; tâm trạng, tâm lý của người tù;… bất cứ nhà thơ trung bình bị đi tù nào cũng đều có thể viết được như anh. Anh chỉ đạt được cái hay bình thường.

Anh tả cảnh:


Cánh cửa sắt đen kịt

Đóng sầm sau lưng tôi



A! Địa ngục là đây

Ta bắt đầu kiếp quỷ

Những cái đầu trọc lốc

Những bộ xương đen đúa

Bốc lên mùi tử thi.

Bỗng ào ào náo loạn

Như một bể dầu sôi

Anh viết về cái gian khổ:



Nhai miếng cơm khô giữa nắng

Trệu trạo trong mồm nuốt khó trôi

Anh chết

Trong đêm

Miệng trắng thuốc đánh răng

Đã bảo mãi anh rằng

Đói đến mấy cũng đừng ăn thuốc đánh răng



Về tình cảm của người bị cách ly với người thân:


Nửa đêm mơ lạc mất con

Tiếng kêu thảng thốt lệ tuôn áo tù

Thạch thùng tặc lưỡi trên cao

Phòng giam lạnh lẽo chìm vào cõi đêm

Nhà ta giờ đã lên đèn


Bữa cơm giờ chắc đã quen thiếu người”

Đêm em về trắng toát thời thơ ấu

Đêm mẹ về chẳng nói lại đi

Tôi lại quay trở lại

Thế giới của tôi đây

Em chỉ là giấc mộng

Bên trên khối mộ dầy

Anh vết về cái khao khát:


Nửa đêm tôi gọi mộ huyệt âm vang.

Tự do! Mi ở đâu?

Và cái ám ảnh, cái chấn thương tâm lý của một người mới ra tù


Người về

Người về từ cõi ấy

Vợ khóc một đêm con lạ một ngày

Người về từ cõi ấy

Bước vào cửa người quen tái mặt

Người về từ cõi ấy

Giữa phố đông nhồn nhột sau gáy

Một năm sau còn nghẹn giữa cuộc vui

Hai năm còn mộng toát mồ hôi

Ba năm còn nhớ một con thạch thùng

Mười năm còn quen ngồi một mình trong tối

Một hôm có kẻ nhìn trân trối

Một đêm có tiếng bâng quơ hỏi

Giật mình một cái vỗ vai.

Nếu đây đó trong thơ Hoàng Hưng có ý triết lý thì e rằng nó lại là cái triết lý lẩm cẩm, triết lý ngược. Muốn cuộc sống tốt đẹp hơn lẽ ra loài người, vốn còn một phần tính “con”, cần phải “người” hơn nữa mới phải, đằng này anh lại ao ước con người trở về loài vật:


Nếu con người khoả thân không hổ thẹn. Nếu con người yêu nhau hồn nhiên dưới mặt trời. Như thạch thùng. Thì có lẽ không có tù ngục. Phải không nhỉ thạch thùng.

Cái cơ sở lý luận “khoả thân không biết hổ thẹn”, “yêu nhau hồn nhiên dưới mặt trời” hoàn toàn không thể là điều kiện để cuộc sống “không có tù ngục” được; mà còn hơn cả ngục tù kìm kẹp, những loài cá mập, những loài mãnh sư, hổ báo,… chúng cũng hồn nhiên sống theo bản năng, nhưng lại theo cái quy luật đấu tranh sinh tồn vô cùng khắc nghiệt của tự nhiên hoang dã: cá lớn “hồn nhiên” nuốt cá bé, loài thú nhanh và mạnh (thú ăn thịt) “hồn nhiên” dùng loài thú yếu và nhỏ hơn làm thực phẩm. Dù rằng chúng cũng đều không biết hổ thẹn khi cởi truồng và hồn nhiên yêu nhau như đôi thạch thùng của anh Hoàng Hưng vậy!

Nếu xét về sự sáng tạo, phải công nhận cái phần có tính “vụt hiện” của Hoàng Hưng là có sáng tạo trong phạm vi thơ Việt Nam. Có điều tôi e rằng với sự sáng tạo này thì Hoàng Hưng không phải đưa thơ Việt Nam lên tầm cao hơn mà là kéo nó tụt xuống. Ở đây anh đã áp dụng phép “ghi chính tả của tư duy” của chủ nghĩa siêu thực, nhưng thơ anh không phải là thơ siêu thực, không có được tính sáng tạo của siêu thực dù chỉ là áp dụng. Nó chỉ khác thơ hiện thực ở chỗ, hiện thực được anh tái tạo chỉ là những mảnh vụn của hiện thực. Còn thơ siêu thực, sản phẩm của trực giác, của giấc mơ vô thức, câu thơ theo như nhà tiên tri Lautréamont phải: “Đẹp như một cuộc gặp gỡ tình cờ của một cái máy may với một cây dù trên bàn mổ”, và theo Arp: “Định luật của cái ngẫu nhiên là định luật bao trùm mọi định luật”; hình ảnh trong thơ phải kỳ dị theo như Breton: “Hình ảnh gợi cảm nhất là hình ảnh cực kỳ phi lý, phải thật khó giải thích theo nghĩa thông thường”. Ở đây tôi cũng cũng phải nói thêm rằng, tôi chỉ coi trọng tinh thần cách mạng của các nhà thơ siêu thực nhưng không coi tư duy thơ của họ là chân lý của nghệ thuật. Bởi cái cơ sở khoa học mà họ dựa vào không phù hợp, vì tính bất định và ngẫu nhiên chỉ có trong cơ học lượng tử của thế giới hạ nguyên tử; sự biến dạng của không-thời gian theo Einstein chỉ ở cấp độ vĩ mô của vũ trụ; còn sự sống, cuộc sống và ý thức sáng tạo nghệ thuật của con người chỉ tồn tại và được thực hiện trong không gian Newton. Tính “vụt hiện” của thơ Hoàng Hưng, với cái cách “điểm thực”, chỉ giống như một bản nháp, những gạch đầu dòng cho một tác phẩm hiện thực, nên không thể cao cấp hơn thơ hiện thực được. Hiện thực được tái tạo nguyên dạng, kèm theo bao thủ pháp tượng trưng, ẩn dụ, nhân cách hóa, ví von… còn chưa ăn ai, huống hồ anh lại chủ trương tái hiện một hiện thực vụn nát, dù rằng anh cũng có thực hiện tất cả các biện pháp tu từ:


Chim đen bậu kín mặt nhà thờ. Pháp sư rán bánh. Róc rách suối hoa vàng nở. Mắt cá trừng trừng trong lưới mông mênh.

Em ơi mộng mị trần truồng góc tối. Vút đài cao ngăn ngắt trăng xa. Bãi biển oằn oài vũ nữ quay tít. Em không nói khoá trái nhà hoang dắt tay nhau về vô tận. Ngày nhật thực bảy mặt trời vần vụ. Gió dậy đồng không nơi ẩn náu.

Thần trí vùng lên đáy huyệt rùng rùng. Tắt lịm, u mơ, nhoà toả. Lấp loá vàng son vỗ nhịp. Đìu hiu…

Xóm xà lim mìn mịt mặt người, ú ớ gọi kêu cào vách đêm thăm thẳm. Thông thống vào lòng nhân loại tối đen. Quì khóc mắt ráo hoảnh…

Trong Ác mộng chỉ có một bài độc đáo, không phải ở cách viết mà ở nội dung. Nếu thơ tù đã độc đáo so với thơ bình thường, thì bài thơ này là độc đáo của độc đáo. Bài thơ đầy tính nhân văn nhân bản, đọc nó lòng thật xa xót thương cảm cho những con người sống trong vòng lao lý, mọi sinh hoạt mang tính bản năng không thể thực hiện được, nên người ta đã phải sáng tạo ra những cách thức khác để thích nghi và tồn tại:

Một ngày

Nhớ đôi bạn tù trẻ tuổi ở T. L.

…Mời nhau bằng lanh canh bát đũa

Ta cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Sau tiếng nước rửa bát phút im lặng thiêng liêng trước giờ em tắm.

Rồi róc rách dè dặt em kỳ cọ cố nhẹ nhàng như xấu hổ anh hết nóng bừng lại lạnh toát trong ngừng thở

Em phơi áo vù con chim bay lên

Mời nhau bằng lanh canh bát đũa

Ta lại cùng ăn qua vách bữa cơm tù

Rồi nôn nao chờ bóng tối

Giờ của thông linh giờ của chúng mình.

Anh gõ trước nhé cạch cạch cạch em cạch cạch cạch anh cạch cạch/ cạch cạch cạch em cạch cạch/ cạch cạch cạch rồi anh xoa xạt xạt em xạt xạt anh xạt xạt xạt em xạt xạt xạt những tín hiệu không lời ríu rít dồn dập xoắn xuýt cuống quít.

Bức tường bốc cháy

Đêm bốc cháy

Những mảnh đêm rơi

Lả tả

Rã rời
…



Còn một điều quan trọng nữa khiến tôi phải viết bài này là sau Hoàng Hưng, một số nhỏ tác giả, môt số nhóm như “Mở miệng”, “Ngựa trời”… được anh nhiệt tình cổ vũ, ủng hộ, không biết có phải xuất phát từ tinh thần “đờm dãi thịt da tinh khí phì phào” có trong trong thơ anh hay không, đã đưa ra trường phái thơ tục tĩu, với “cơ sở lý luận” cho rằng, tất cả các từ đều bình đẳng với nhau. Tôi tán thành quan đểm cuộc sống có gì văn học có nấy, các từ tục tĩu, dơ dáy có quyền được xuất hiện bình đẳng. Nhưng cũng như tất cả các từ, người sáng tác chỉ sử dụng để đạt được hiệu quả. Trong thực tế, sử dụng được các từ tục tĩu, dơ dáy mà không sống sượng, không gây cảm giác ghê tởm… phải là tay cao thủ. Văn chương Việt Nam trước có Vũ Trọng Phụng, sau này có Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài… Nhưng có lẽ Nguyễn Huy Thiệp thành công nhất, anh đã sử dụng các từ dễ gây phản cảm một cách rất tài tình, hợp lý nên đã gây được hiệu quả rất tốt, thậm chí còn chuyển tải được cả những ý tứ thâm sâu. Như đoạn đối thoại của cặp tình địch cha – con trong truyện “Không có vua”, tôi nhớ đại khái: “Mày lên đây tao nói chuyện đàn ông với mày”. “Tôi không tha thứ đâu”. “Tao cóc cần. Làm thằng đàn ông chẳng có gì phải xấu hổ vì có con buồi”. “Sao không lấy vợ đi”. “Tiên nhân nhà mày, ông mà chỉ nghĩ đến thân ông thì bọn chúng mày được như hôm nay à!”. “Con xin lỗi bố”… Văn Nguyễn Huy Thiệp không có những khám phá lớn về bút pháp cũng như tư tưởng, nhưng những chi tiết trong văn anh, với sự trải nghiệm đầy chất phương Đông thật độc đáo và sâu sắc, có thể đặt cạnh những nhà văn lớn trên thế giới. Đỗ Kh. cũng có hai câu thơ tục rất có duyên mà tôi cũng rất thích: “Đêm Hà Nội phủ váy chùng. Anh con cu ngỏng ấm cùng đít em”. Chữ “ngỏng” “ấm” dùng thật đắt. Như vậy, quyền xuất hiện của mọi ngôn ngữ là bình đẳng, nhưng cách sử dụng để đạt hiệu quả thì rất khác nhau. Còn ai đó cứ cho không gì khác nhau cả, trong văn chương tha hồ tự nhiên tục tĩu, tha hồ tự nhiên bẩn thỉu, nhầy nhụa; không cần gì phải tế nhị, ý tứ nữa, thì họ đã tự mâu thuẫn với chính mình, khi trong đời sống họ vẫn biết ăn ngon mặc đẹp, vẫn biết xấu hổ khi ỉa bậy, cởi truồng giữa chốn đông người.

Sáng tạo nghệ thuật giống như phát minh khoa học, như các nhà sinh học tạo ra giống mới tốt đẹp hơn mới khó chứ còn mất công làm ra quái thai thì để làm gì và có khó gì; sống làm người mới khó chứ lại muốn làm vật thì thật dễ. Nghệ thuật đích thực không cần bao trò phù phép của tung hỏa mù, không gây ấn tượng bằng việc đi lộn ngược đầu xuống đất, tức nó đạt được cái khó nhất là sức mạnh của sự giản dị, khi ấy nó giống một cô gái toàn mỹ, có thể “khỏa thân” giữa ánh sáng mặt trời mà vẫn chinh phục được thiên hạ, giống như Chế Lan Viên trong một bài viết cũng đã nói đại ý: một cô gái có đôi mắt đẹp thì dại gì mà phải đeo cặp kính đen che đi.

Quyền sáng tác là tự do, không ai có thể ngăn cấm ai, nhưng lại tự cho mình là nhất, là cao siêu, coi thường người khác thì phải xem lại. Nhóm “Mở miệng” dựa trên câu “khởi thủy là lời” của Chúa Giê-su để đặt tên, vậy có khác gì tự đặt mình ngang với Chúa. Một lần tôi thấy buồn cười khi nghe Bùi Chát nói với Vương Văn Quang là “Hoàng Hưng sang hơn Nguyễn Quang Thiều”; lần khác tôi đọc thấy Nguyễn Hữu Hồng Minh viết Nguyễn Quốc Chánh hiện đại hơn Nguyễn Quang Thiều vì Chánh viết về thành phố còn Thiều viết về thôn quê. Tôi không hiểu sao có những người có tham vọng đổi mới mà lại ấu trĩ đến thế, nếu vậy ông Mác-két viết về cái làng Ma-côn-đô bé tí thì văn ông cũng bé tí như cái làng đó sao!

Thực tế “văn chương đổi mới” theo kiểu tục tĩu, dơ dáy, cũng có một số người thích, có đàn chú, đàn anh ủng hộ, những nhà phê bình ca ngợi, điều này cũng không lạ, bởi trong tự nhiên cũng có những loài thú chỉ thích ăn xác thối và loài ròi bọ chỉ khoái cứt đái. Nhưng đừng vì vậy mà cho những người thích sáng tác tử tế là vớ vẩn. Bởi như thế là nói ngược, kên kên, linh cẩu làm sao có thể sánh được với sư tử, hổ báo.

Còn chuyện bị đi tù của Hoàng Hưng, tôi không hiểu sao anh bị bắt đơn giản thế. Lứa tuổi tôi biết rất ít rắc rối của thế hệ trước. Tôi hỏi một bậc đàn anh biết rất nhiều chuyện xưa, tập Về Kinh Bắc của Hoàng Cầm có gì mà khiến Hoàng Hưng bị bắt, anh bảo không phải vì tập thơ mà vì Hoàng Hưng quan hệ vớí Hoàng Cầm, một “Nhân văn” chưa được cởi án, thế thôi. Luật pháp không biết xúc động. Hoàng Minh Chính bị bắt cũng chỉ vì đi lại đại sứ Liên Xô hồi xét lại. Nhưng Hoàng Minh Chính bị bắt còn có lý vì thời chiến tranh đòi hỏi mọi người phải đồng lòng cho chiến thắng, còn Hoàng Hưng sau hòa bình 7 năm rồi, mà lại chỉ vì chuyện văn chương vặt vãnh. Có lẽ số anh, như vợ anh đã coi bói, là thế. Nhưng bù lại, anh đổi những tai ương ấy được mấy bài thơ; với tôi, có thể chúng ít giá trị về sự sáng tạo, nhưng chúng có ý nghĩa chính trị, mà biết đâu nó sẽ giúp anh nhận giải Nô-ben, vì lịch sử giải Nô-ben văn chương không ít lần trao giải vì chính trị, đến nỗi có giám khảo phải giận mà từ chức cơ mà. Xem ra ở thời hiện đại này có lắm cái thú vị, cái ngày xưa cấm kỵ thì nay là bảo vật. Hoàng Hưng có thơ tù để công bố, còn Trần Mạnh Hảo có lý lịch xấu để tự hào: “Lý lịch nhà tôi đã xấu, nhưng bên vợ tôi còn xấu hơn, ông nội còn bị Xô Viết Nghệ Tĩnh treo cổ cơ”. Nhưng hai vụ này theo tôi đoán, Hoàng Hưng sẽ lời, vì anh là người tốt, tham vọng của anh là chân thành, còn Trần Mạnh Hảo lúc thế này lúc thế khác, chẳng ai dám tin.

TPHCM 22-1-2006

© 2006 talawas

 
© talawas 2026