trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
12.6.2003
Thường Quán
Đọc Linda
 

Thơ liên đới tới hội họa: đọc Linda tôi không khỏi liên tưởng tới bức “Gái Phố Avignon” Picasso vẽ vào năm 1907. Linda là ai trong năm hay sáu demoiselles đứng ngồi đã làm nên một vào đời lập thể của Picasso trong tranh ấy? Người đọc kỹ bài thơ, rồi theo nghĩa đen của bài thơ mà lần, thì nhiều phần chọn cô ngồi, choán một tiền cảnh ở góc phải. Cô ấy không rõ mặt mày nhưng thực nếu không nằm thì ở vị thế ngồi, chứ không đứng. Những demoiselles đứng thì gân guốc hơn và vì có mặt mũi nên cũng hơi rõ nét quá. Khó dám nói là những khuôn mặt ấy có “ngang” bằng với mặt của Linda. Chung một thời đã lắm trường phái, chung trường phái mỗi hoạ sĩ lại một nét riêng, một vò võ tranh riêng, màu riêng, người mẫu cũng thuê riêng. Nói chung, nghệ thuật quí cái đa dạng. Có người lặn lội vào hồng lâu lôi ra nhân vật mà vẽ cho kỹ lưỡng một ấn tượng, như Toulouse-Lautrec.Vào tranh ông, một nàng kiều Montmartre sẽ có tên tuổi, có mặt mũi đàng hoàng. Có người không được ở lâu trong ấy – mấy ai mà dám “được” như Toulouse-Lautrec? – chỉ đi băng qua thì vẽ phác một lập thể, ở đó cái dọc ngang gộp lại quan trọng hơn cái hình hài (không bao giờ có thực). Ðỗ Kh. tự thú cũng chỉ là khách đi băng ngang, vào giờ thứ 25 muốn biết sông nước người ta lặn lờ có thực chim sa, hay như ao nhà mình cũng bùn non lai láng [ “bùn nước mặn nồng chảy máu tiếng kêu” (thơ Thanh Tâm Tuyền)] .

Ðúng là Linda có một hai vấn đề. Văn thơ cũng có khác với thế giới tượng hình của hội họa. Cái khác trước hết vì ngôn ngữ màu sắc tự nó đã có cái tiến trình đi từ vật thể vào nhận thức nhỡn quan rất riêng. Không ai biết bản chất của một màu trước mắt thực là gì. Một đốm màu đỏ hay xanh mà một con mắt tiếp nhận thấy là một hỗn hợp nghìn vạn li ti những chấm màu. Vào mắt người nhìn, mỗi người lại thông qua và thẩm định một khác. Phái Ấn Tượng một thời đuà chơi trên nghìn vạn chấm ấy. Tranh monochrome từ Malevitch cho tới Trịnh Vũ (xem Time out of Joint/Thời gian trật lề, [ talawas 18.04.2003 ]) cũng đùn câu hỏi về bản chất ấy của màu. Ngôn ngữ nói, tiếng nói con người, thì có phổ quát hơn. Tất nhiên là phổ quát trong trong chừng mực: chung tiếng, chung ngôn tự, chung văn hoá. Người viết viết xuống giấy “mặt” là muốn người đọc thấy sự xuất hiện trên trang giấy của một khuôn mặt. Hình dung từ, tính từ làm rõ hơn khuôn mặt ấy. Mặt thoan, mặt ngang, mặt gãy, mặt đoan trang, mặt có “nét ngài nở nang”… Làm thơ, thơ tượng hình, ban đầu chắc cũng không đi qua qui luật cơ bản trong phác thảo. Trên đường tạo hình, chỉ nói riêng tạo hình, trong thơ, nhà thơ đã mượn khá nhiều các kỹ thuật. Sử dụng ẩn dụ, ngoa ngữ, liên tưởng, ghép lắp, pha trộn, đảo ngữ. Allen Ginsberg tự nhận sự sử dụng lối ghép-ngang ellipsis [tức đặt hai vị thể (entity) không liên quan sát cạnh nhau để làm nên một vị thể khác, ví dụ “hydrogen jukebox”], đã là nền tảng cho bài “Howl” nổi tiếng của ông. Và khi Ginsberg sử dụng “lips of Yin” thì ông nói văn vẻ ẩn dụ thay vì dùng một từ thông tục khác (chẳng hạn “cunt”, trong tiếng Anh). Bùi Giáng là nhà thơ đã sử dụng đảo ngữ, nói lái, suốt cuộc đời làm thơ và dịch văn của ông. Ai cũng biết hai chữ (cõi) “liên tồn” mà Bùi Giáng đã hóm hỉnh dùng để dịch chữ existence. Không ai trách quở Bùi Giáng, vì muốn trách quở ông, thì người trách phải tự nhận là cái đầu của mình đã lái, đã đảo (mà có ai bảo ngài phải đảo phải lái đâu, xin thưa). Thêm, liên tồn, nói lái, là một cái gì không có thực: tiên trên trời, như ngựa Pegasus, nó thuộc về huyền thoại và viễn tưởng. Liên tồn. Nhà thơ khéo là ví von. Người ta lại khen.

Xong “Linda Mặt Ngang” (Hợp Lưu 31), Ðỗ Kh. không được khen [hay có ai khen thì lại không thích nói], vì Ðỗ không dùng ẩn dụ, đảo ngữ, phép ghép-ngang gì ráo. “Tôi nói sao thì, thẳng, nó chỉ có vậy”, như một câu thơ của Ginsberg (lại anh này!). Nhưng tôi đồ rằng sự quở trách Ðỗ nằm ở chỗ khác. Ngoài là nó đã nằm ở Thanh và Tục như tít chủ đề Hợp Lưu một số nào đó tiếp theo. Ngoài là nó nằm ở chỗ Ðỗ Kh. có tự biện hộ cãi lại đại khái là cái tục nằm ở người đọc. Ngoài là tiếp theo nó nằm ở đòi hỏi, mà cũng không sai, là literary correctness (sự phải phép trong văn chương) phải chia cho đều, cả ở người đọc và người viết (xem bài của Phạm Trọng Luật). Dù sao, Ðỗ phải nên mừng là Linda xem chừng là bài thơ duy nhất tạo nên một trường phản ứng sôi nổi như vậy trong quá trình vận chuyển thơ ca hải ngoại từ xưa tới nay. (Trong nước tôi không tính, vì “Em Bé Lên Sáu Tuổi” của Hoàng Cầm đã là vấn đề, đã là sôi nổi, là subversive)

Tôi ngờ rằng “Linda Mặt Ngang” bị rủa chút gì vì sự chân thành và lo ngại của một số bạn đọc, nghĩ là: a/ thơ ca như thế là có tính pornographic. Hay b/ có một ngờ vực rằng đã có một thành trì nào đó trong thơ đã bị vi phạm.

Nếu có thế thì dù tôi không bênh vực nổi cho Ðỗ ( ai làm [thơ]người ấy chịu), chỉ xin góp đôi ý riêng.

a) Về pornographic poetry, tôi chỉ xin đơn giản đề nghị ấy là một từ cưỡng ép. Hoặc là pornography hoặc là thơ chứ không có một từ lắp ghép như vậỵ Mục đích của pornography và của thơ không lẫn vào nhau được. Pornography là một hành động, hành vi, lại là một hành vi không được thẳng, vì phải mượn, phải khiêu, ở đây là khiêu dâm (dù dâm chính nó, chứ không phải trong pornography, cũng chẳng có gì là tội lỗi): pornography là mượn chữ để làm hành tác khiêu dâm, mà khiêu dâm bạo tợn, vì không bạo tợn thì chỉ được gọi là erotic thôi. Thơ là chữ qui chiếu vào chữ. “Linda Mặt Ngang” là thơ, nó cũng có tính erotic chút gì, nhưng không phải ở chữ “l…” (tôi để ba chấm, vì độc giả talawas có các vị dưới 17 tuổi). Ðể thành pornography thì chắc nhà thơ đã chọn một văn thể khác, rộng rãi tự do hơn. Và, để đi vào chi tiết, nhân vật “tôi” không được tự tử kiểu “mưa mềm”, không lên nổi mùa-he-ømột-chiều, điều đó là chí ít .
b) Thành trì trong thơ là một điều cũng lý thú: chuyện cấm là chuyện không hoàn toàn dở. Nói về mặt kỹ thuật. Kỷ luật vận nhịp là một thí dụ giúp người viết tránh một vài cạm bẫy, như sự sa đà, chẳng hạn. Kỹ năng và tay nghề đi liền với một sự vận dụng kỷ luật. Những nhà thơ duy ảnh (imagist), những người viết hài cú, chẳng hạn, tuân thủ trong hành tác một số luật tắc, đấy là những thí dụ cho thấy sự cấm cũng có nét hay của nó. Nhưng tôi ngờ rằng những cái cấm người đọc đang muốn nói tới nằm ngoài kỹ thuật. Làm thơ về lầu xanh thì được (Kiều, Nguyễn Du), nhưng làm thơ về một “động đĩ” ở Batàm hay về một “cửa quỉ nhà ma” [chữ Bùi Giáng] ở Malacca thì không được. Cũng là chuyện “gối chăn”, nhưng một bài thơ tả cảnh ấy ở một cặp vợ chồng thì được, còn ở khách vào nhà chứa và một demoiselle thì không. (Khi đọc lại chung một số Hợp Lưu có Linda tôi tìm được một bài thơ của Hồng Khắc Kim Mai tả cảnh cho-nhau trong khi con đang đòi sữa. Không ai thắc mắc với nhà thơ Hồng Khắc Kim Mai).

Câu hỏi được đặt ra là: như thế đâu là đất cấm cần được áp dụng nghiêm nhặt vào thơ? Tôi nhấn mạnh là vào thơ, nghĩa là ở truyện ngắn, tiểu thuyết, ký, phóng sự … thì được, nhưng trong thơ thì không? Ðây là một vấn đề tương đối rộng và chắc là cũng quan trọng, và những thảo luận rộng rãi sẽ giúp chúng ta tìm hiểu được chúng ta đã ở đâu, và chúng ta đang đi tới đâu ở con đường làm thơ, đọc thơ. Bài “Howl” của Ginsberg tôi nghe một nhà thơ Úc là Dorothy Porter mách là một thời bị đặt vào loại thơ cấm tại nước Mỹ: các đài phát thanh không được phát bài ấy dù ở một hình thức nào.

Chữ “tabu” được Thuyền Trưởng Cook mang vào tiếng Anh từ quần đảo Polynesian, nhưng tabu (cấm, kỵ, kiêng) thì không riêng dân hải đảo mới có. Freud cũng có một tập sách về tabu thì phải.

Trở lại với Ðỗ Kh. Như một người đọc, tôi thấy Ðỗ có một giọng thơ ngoài cái tính ngang còn nhiều chất hài, trào lộng đen; nhiều bài thơ của Ðỗ mang chất oái oăm trêu nghịch (irony). Theo tôi giọng ấy cũng là vấn đề, như Linda kiêu quá thì nhân vật “tôi” đành. Tôi nghe những bà mẹ xứ Sparta trước công nguyên ngoài cái nổi tiếng là đẹp và mạnh, đánh vật ngang ngửa với đàn ông, các bà còn nổi tiếng là có giọng laconic nói ngắn mà thâm). Con trai Sparta mới 9, 10 tuổi đã bị các bà đưa ra khỏi vòng-tay-mẹ-hiền cho đăng lính tất. Con trai mài kiếm mà than: “sao kiếm con ngắn quá” thì bà mẹ sẽ bằng cái giọng laconic của mình bảo con: “Tiến tới một bước thì kiếm sẽ dài ra con ạ”. Không xa Sparta ( cũng trước công nguyên) có thị thành Nhã Ðiển, có dân chủ, mà đàn bà thì ở trong nhà, không biết kiếm, và không có giọng laconic. Mỗi nơi mỗi khác. Ở ta, và thơ ta, có nhiều thành khẩn, lại thiếu chất biếm họa, hài đen và oái oăm chăng?



Melbourne 10/6/2003

© 2003 talawas

 
© talawas 2026