trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
18.11.2002
Nguyễn Hoà
Ðỗ Lai Thuý – mặt trái của một thành công
 

Hơn chục năm trước trong con mắt chúng tôi, Ðỗ Lai Thuý là một tấm gương, nếu không nói gần như một “thần tượng”. Ðọc các bài viết của anh, tôi cùng mấy người bạn đều thán phục một phong cách nghiên cứu, một lối viết sinh động và uyên bác… Tóm lại là những phẩm chất mà những kẻ như chúng tôi nằm mơ cũng chưa có được. Vậy rồi sự ngưỡng mộ phai nhạt theo thời gian, ấy là khi chúng tôi phát hiện ra Con mắt thơ (1) – sản phẩm ưu tú mang “nhãn hiệu” Ðỗ Lai Thuý, hoá ra cũng chỉ là đồ “dỏm”. Nó “dỏm” đến mức có lần tôi phải bình luận với bạn bè: nếu là mình, tôi sẽ không mang cái tên Ðỗ Lai Thuý ra ký dưới bất kỳ một sản phẩm mới nào nữa.

Sau khi Con mắt thơ xuất bản, nó nhận được không biết bao nhiêu lời ca ngợi, thậm chí có người tấm tắc lâu quá văn rồi văn học nước Việt mới có được một công trình nghiên cứu Thơ mới như thế. Nếu tình trạng tài liệu ít ỏi kéo dài, nếu mọi người cùng lười đọc như nhau thì có lẽ Con mắt thơ của Ðỗ Lai Thuý đã “rinh” được một giải thưởng văn học và nó sẽ có khả năng sống được với thời gian. Nhưng sự đời không diễn ra như tác giả Con mắt thơ nhầm tưởng, bởi vẫn người ta vẫn có thể sưu tầm được tài liệu, bởi trong cái đám đông mà Ðỗ Lai Thuý ngỡ là “lười nhác” kia vẫn có người chăm chỉ đọc sách. Và do đó, Con mắt thơ đã phải lộ diện như một công trình “đạo văn” có thể xếp vào hạng “số dách” của văn học xứ ta trong thế kỷ XX. Ngày ấy, do lòng ngưỡng mộ vẫn còn le lói một chút ân tình, chúng tôi bảo nhau dù không còn nhiều tin cậy với Con mắt thơ thì vẫn giữ thái độ im lặng. Lại bảo nhau, hy vọng Ðỗ Lai Thuý sẽ khắc phục cái phần “đạo văn” của Con mắt thơ. Song hình như tác giả này không cần chú ý tới thiện tâm của đồng nghiệp, nên ở lần tái bản thứ nhất anh không sửa chữa, ở lần tái bản thứ hai anh ghi chú một cách mơ hồ; ở lần tái bản thứ ba, anh bỏ đi phần “con” giữ lại phần “người” để cho ra cuốn Mắt thơ. Mắt thơ hay Con mắt thơ thì vẫn cứ là nó với vô vàn những ý tứ cao siêu mà Ðỗ Lai Thuý “thuổng” của người khác, coi chúng như của mình! Sẽ là hàm hồ nếu xem chuyện “đạo văn” là căn tính của cây bút này, nhưng sẽ lý giải sao đây việc ông Phương Lựu cũng đã một lần lên tiếng trên báo Văn nghệ về tình trạng “vay mượn” nhập nhằng của Ðỗ Lai Thuý trong một bài viết về lý luận văn học? Chính vì những lý do này, lâu nay tôi không còn ngưỡng mộ anh như trước. “Ðạo văn”, theo tôi là một hiện tượng không thuần tuý văn chương – khoa học, nó còn liên quan trực tiếp tới đạo đức của người làm văn chương, làm khoa học. Dù ở đâu, tình trạng này cũng không bao giờ nhận được lời tán thưởng mà luôn cần phải (bị) lên án. Lại nhớ dăm năm trước, các “cộng sự” của ông Trần Quốc Vượng trong cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam do ông chủ biên cũng đã thực thi những thủ pháp của cụ Ðạo Chích tài tình đến mức người chủ biên không phát hiện ra. Không biết nên gọi là họ ẩu, họ liều hay họ dốt mà họ “thuổng” không cần biết đúng sai. Hai vị GS người Trung Hoa là Ngô Vinh Chính và Vương Miện Quý viết: “Hạt nhân tư tưởng triết học Nho gia là Nhân và Lễ. “Nhân giả nhân dã” (kẻ có nhân ấy là con người vậy)” và ghi chú đây là lời Khổng Tử; khi “thuổng” vào sách họ biến thành: “Hạt nhân tư tưởng Nho gia là Nhân và Lễ. Mạnh Tử khẳng định “Nhân giả, nhân dã” (kẻ ác nhân ấy là con người vậy). So với kiểu “thuổng” trên thì xem ra lối “thuổng” của Ðỗ Lai Thuý lại có phần “nghiêm túc” vì anh đã “thuổng” chính xác!

Theo lôgich thông thường, chỉ có ai đó có năng lực kém cỏi mới thực thi trò “đạo văn”. Do vậy mà cho đến hôm nay tôi vẫn không thể lý giải tại sao Ðỗ Lai Thuý lại hành xử như vậy. Thiết nghĩ chỉ với những gì anh có, Ðỗ Lai Thuý vẫn có khả năng làm được điều anh muốn, lẽ nào anh lại đi “đạo văn” của người khác nhỉ? Mới hay “con người” luôn là một thực thể xã hội khó hiểu đến mức không thể lường hết được!


(1) Về cuốn sách Con mắt thơ:

Con mắt thơ là công trình nghiên cứu Thơ mới của Ðỗ Lai Thuý được xuất bản lần đầu tiên vào năm 1992 tại Nhà xuất bản Lao động. Cuốn sách dày 359 trang, gồm hai phần:

– Phần I được đặt tên là Chính văn mang tiêu đề Người thơ trong thơ trong mắt thơ mở đầu bằng Khúc dạo: Thơ mới nhìn từ góc độ cái tôi, tiếp đó là tám chương, mỗi chương viết về một tác giả: Thế Lữ, Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương, Ðinh Hùng, Bích Khê, Hàn Mặc Tử. Phần này kết thúc bằng Khúc ngâm: Thơ mới, hành trình cái tôi, hành trình nghệ thuật.

– Phần II là Phụ lục mang tiêu đề: Người thơ trong mắt nhau, là tập hợp một số bài viết về các nhà thơ được tác giả bàn đến ở phần trước.

Con mắt thơ ra đời đã gây một cú “sốc” thực sự trong giới nghiên cứu, phê bình văn học. Ngay lập tức đã xuất hiện nhiều bài viết khen ngợi cuốn sách và tác giả của nó được đăng trên nhiều diễn đàn như báo Văn nghệ, tạp chí Văn học… Trên một tờ báo ở nước ngoài, với bút danh Nam Chi, ông Ðặng Tiến viết rằng ông đã đọc cuốn sách một cách say mê và nhận xét lâu lắm văn học Việt Nam mới có một công trình nghiên cứu Thơ mới như Con mắt thơ. Ngoài những lời khen ngợi, chưa thấy một ý kiến phê phán nào được đăng tải, chính vì thế văn giới nói chung hầu như coi Con mắt thơ sẽ được trao giải thưởng về lý luận – phê bình của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1993. Tuy nhiên, khi nhà nghiên cứu – phê bình văn học Chu Văn Sơn phát hiện ra những “khuất tất” của cuốn sách, thì cuốn sách bị loại ngay trước ngày bỏ phiếu Giải thưởng.

Từ khi dư luận văn giới biết về tình trạng “đạo văn” trầm trọng của cuốn sách, người ta không còn ca ngợi nó như trước, nhưng cũng chưa xuất hiện bất cứ một bài viết nào chỉ rõ tình trạng này. Ngoài những tin tức “phong thanh” rất ít người có bằng chứng xác thực, nên đến năm 2000 trên tạp chí Sông Hương số 8, ông Ðỗ Ðức Hiểu vẫn còn cho rằng qua Con mắt thơ: “Ðỗ Lai Thuý đã kết hợp được sâu sắc lý thuyết với cảm thụ, lý trí với trực giác… ngòi bút Ðỗ Lai Thuý lại khoa học, khách quan… có những đóng góp so với Thi nhân Việt Nam“. Tới nay, Con mắt thơ đã được tái bản ba lần, lần thứ ba gần đây nhất (năm 2001) tác giả đổi tên tác phẩm là Mắt thơ và cả ba lần tái bản tác giả đều không tiến hành sửa chữa, tu chỉnh. Và do đó, việc chính thức đưa ra những bằng chứng về việc “đạo văn” của Con mắt thơ đã trở nên cần thiết.

© Talawas 2002

Phụ lục

Chu Văn Sơn

Nỗi thất vọng về một cuốn sách

Tôi đọc Ðỗ Lai Thuý từ khi cái tên ấy có lẽ mới xuất hiện lần đầu với bài “điểm sách” tập thơ Khối vuông Ru bích của Thanh Thảo – in trên báo Quân đội nhân dân. Nhưng cũng như nhiều đồng nghiệp khác, tôi chỉ thực sự hào hứng đón đọc các bài viết của tác giả này kể từ sau khi bài Văn hóa Nhật Bản, những cảm nhận ban đầu in trên báo Văn nghệ. Ðó là một bài súc tích, có nội lực với một giọng thông thái tân kỳ. Còn đến khi Con mắt thơ lần đầu in thành sách, tôi đã vồ vập chào đón như với một sự kiện của đời sống văn học, một kết quả đáng mừng trong tiến trình tư duy về Thơ mới của chúng ta. Tôi định viết một bài kỹ lưỡng đánh giá toàn diện về Con mắt thơ từ phương pháp tiếp cận tới văn phong, từ kiến giải tổng quát đến những quan sát ở cấp độ quan sát nghệ thuật… Thế rồi, càng đọc càng thấy ngờ ngợ ý này ý khác, đoạn này đoạn khác mình đã gặp ở đâu rồi, của ai rồi thì phải! Ðể xua tan mọi ngờ vực có lẽ là vô lối, tôi bèn thử kiểm tra xem sao. Và tôi đã thất vọng quá chừng, hoá ra Con mắt thơ có quá nhiều chỗ thiếu trung thực! Làm sao có thể tin được Ðỗ Lai Thuý đã chép của người khác nhiều đến thế. Mà nào chỉ lấy ý tưởng, cóp văn phong không thôi! Khó tưởng tượng nhất là anh đã chép nguyên văn nhiều chỗ đến hàng trang giấy! Từ đó tôi thấy hoang mang: mới ở những tài liệu mình có thể đối chiếu mà đã thấy nhiều đến vậy, phần còn lại có chắc là ý tưởng và văn phong của Ðỗ Lai Thuý cả không? Ngao ngán hết chỗ nói, tôi đành gác lại, đúng hơn, là đành quên đi cái dự định thuộc về hứng thú nghề nghiệp ấy.

Bấy giờ, thấy thúc giục mà tôi không chịu lên tiếng, nhiều anh chị em trong giới phê bình đã trách tôi nể nang. Thực ra chỉ vì thầm quý trọng một ngòi bút vốn không được đào tạo từ chuyên ngành văn mà lại tỏ ra khá tâm huyết và am tường văn chương, lại cũng thông minh và tài hoa… nên tôi muốn coi đó như những lầm lỡ dại dột. Không nên vì một lầm lỡ mà làm tổn hại đến uy tín của một cây bút có triển vọng. Vì thế, theo đề nghị của ông Nguyên Ngọc – Trưởng Ban sáng tác của Hội Nhà văn lúc đó, đang họp xét Giải thưởng hàng năm, tôi chỉ làm một việc là cung cấp tư liệu liên quan để Ban chấp hành không đưa ra những quyết định sai lầm có thể gây tai tiếng mà thôi.

Nhưng đến lúc này, chắc sẽ là quá muộn, nếu như không lên tiếng. Nhất là trong lúc này, đây đó, tình trạng “đạo văn” dưới nhiều hình thức cả tinh vi lẫn trắng trợn đang có nguy cơ lan tràn trong giới bút mực!

Lật cuốn Con mắt thơ được tái bản lần thứ hai, gặp dòng đề “có sửa chữa và bổ sung”, tôi đã tưởng được yên tâm: chắc nó đã đáp ứng cái điều không chỉ riêng mình mong đợi! Phải nhận rằng, lần tái bản này, Con mắt thơ đã có những bổ sung theo kiểu của nó. Nhưng ngoài những bổ sung có thể đập ngay vào mắt thì phần ruột sách hầu như không sửa chữa gì, thậm chí vẫn y nguyên như lần in đầu ngay đến cả thứ tự trang (từ trang 5 đến trang 272). Một hiện trạng như thế còn làm tôi thất vọng và buồn hơn trước nhiều. Bởi vì nó cho thấy tôi đã hoàn toàn ngây thơ khi định coi rằng khuyết điểm kia chỉ là lầm lỡ nhất thời, không thuộc về bản chất. Cuốn sách tái bản là một sự trả lời ngược hẳn. Ðiều người đọc trông đợi trong dịp tái bản là cái gì của ai phải trả người ấy thật thành khẩn đã bị phớt lờ và lẩn tránh một cách khéo léo, thậm chí tinh ranh.

Tái bản với một tinh thần như vậy, Con mắt thơ đã khiến người viết phê bình không thể im lặng được nữa. Im lặng lúc này khác nào đồng loã với cái sai, đồng loã với hiện tượng xuống cấp về đạo đức khoa học đang lan tràn một cách đáng lo ngại.

Trước hết hãy nói chuyện hệ trọng nhất – chuyện “đạo văn”. Trong Lời cuối của cuốn sách tôi thấy tác giả viết: Trong lần in trước, cuốn sách có mắc phải một số khuyết điểm. Ðó là những lỗi in sai, những tham khảo thiếu nêu xuất xứ, những trích dẫn thiếu chú thích; ở đây, có những điểm không đúng, thứ nhất là tác giả đã cố dùng lối viết liệt kê để đánh đồng hai khuyết điểm khác hẳn nhau về bản chất nhằm làm nhoè ranh giới giữa lỗi in sai (thuộc về kỹ thuật) và tội đạo văn (thuộc về đạo đức), thứ hai là khuyết điểm của tác giả có phải chỉ đơn giản như lời biện bạch trên không? Có phải đó là lối “trích dẫn”, lối “tham khảo” theo quy cách thông thường? Chút sơ suất đó chỉ thuộc về khâu không ghi kèm “xuất xứ” và “chú thích”? Hay về bản chất, đây đích là trò “đạo văn” quen thuộc đã cố phi tang, cố xoá mà vẫn “hiện nguyên bản tướng”? Tôi không thể chép ra tất cả vì chúng quá nhiều và quá dài, chỉ xin đơn cử một trường hợp.

Vậy mời bạn đọc đối chiếu nội dung của tiêu đề Tiếng không lời của Ðỗ Lai Thuý với nội dung Nhạc tính trong thơ của Lê Huy Oanh qua những “trường đoạn” được chép nguyên văn dưới đây:

– Trong Con mắt thơ: “… Nhưng âm nhạc mà thơ tượng trưng tìm kiếm không phải là thứ âm nhạc hùng hồn, sôi nổi mà êm dịu, nhưng có sức rung động sâu xa. Nhạc điệu đó đôi khi ta không cảm thấy rõ rệt, tuy nó vẫn có: nó thấm dần vào lòng ta, len lấn, lê thê khiến ta bâng khuâng ngây ngất. Ðó là thứ nhạc điệu làm cho độc giả đi dần vào cõi mộng. Thơ phát ra thứ âm nhạc này có giá trị như những câu thần chú.

Bích Khê khổ công tìm kiếm cho mình thứ âm nhạc ấy. Thi nhân sáng chế ra những bài thơ toàn vần bằng, hoặc chủ yếu là vần bằng như: Mộng cầm ca, Thi vị, Cơn mê, Hoàng Hoa, Nghê thường, Tiếng đàn mơ… Trước hoặc cùng với Bích Khê, nhà thơ Xuân Diệu cũng đã thử nghiệm lối thơ này. Trong bài Nhị hồ, thi sĩ viết: Sương nương theo trăng ngừng lưng trời – Tương tư nâng lòng lên chơi vơi. Nhưng thử nghiệm của Xuân Diệu chỉ có mấy câu, có tính cục bộ, tuy vậy đương thời cũng được độc giả rất lưu ý. Bích Khê đã đi xa hơn. Thi sĩ sáng tạo trên cơ sở toàn bài và đã tạo ra hẳn một lối thơ. Thơ “Bình thanh” tạo được thứ âm nhạc êm đềm có nhiều sắc gợi cảm. Hãy đọc thật chậm, khẽ khàng như cầu nguyện bài thơ quen thuộc dưới đây.

Tì bà (Xin không chép lại bài thơ – C.V.S)

Bài thơ có điệu nhạc rất êm đềm, được phát sinh từ những sự dụng ý sau đây của tác giả: một là tất cả những tiếng trong bài là tiếng bằng, không sần sượng một tiếng trắc nào cả, hai là sự láy đi láy lại của một số từ như “tôi” (tôi qua, tôi mang, tôi nghe), cụm từ “yêu nàng bao nhiêu”(yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi – yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi), rồi từ “Ðào nguyên”, tiếng “buồn”(buồn lưu, buồn sang, buồn vương) cụm từ “vàng rơi” (…).

Thi vị cũng là một bài thơ có một nhạc điệu như vậy (xin không chép lại bài thơ – C.V.S).

Nhạc tính của bài thơ phát sinh từ những sự kiện sau đây của kỹ thuật chế tác có tính ý hướng. Ðó là sự nhắc đi nhắc lại một trạng thái tương đồng (vàng và rơi) của Lá, Trăng, Hoa, Sao, Ðêm. Ðồng thời lại có những trạng thái và cử động khác nhau (rung tiếng, nghẹn tiếng, cảm tiếng, bẻ phím) của danh từ “đàn” (đương ngồi, đây rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi) của danh từ “người yêu”. Tất cả những tiếng đó được láy đi láy lại quấn quýt với nhau thành những điệp khúc nhỏ quây quanh một điệp khúc nổi trội hơn (tôi khóc, anh ơi) để rồi cuối cùng, trong khổ cuối, vụt đổi (thôi hết, anh ơi!). Hơn nữa, không chỉ các âm thanh của các dụng ngữ tạo ra nhạc, mà cả các hình ảnh cũng tạo ra nhạc, một thứ nhạc chuyển từ thấp đến cao. Ðó là hình ảnh “người yêu” trong các trạng thái: đương ngồi, đây rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi. Cứ mỗi trạng thái lại gợi một âm thanh trừu tượng càng lúc càng nức nở thêm”(Con mắt thơ, tr.185 – tr.188).

– Còn đây là công trình nghiên cứu của Lê Huy Oanh trong tạp chí Văn học xuất bản tài Sài Gòn ngày 20.11.1974 số đặc biệt về Bích Khê: “… Nhạc điệu của thơ tượng trưng không phải là thứ nhạc điệu hùng hồn sôi nổi. Nhạc điệu đó cần phải thật êm dịu. Nhạc điệu đó đôi khi ta không cảm thấy nó rõ rệt nhưng nó vẫn có, nó thấm vào lòng ta, len lấn, lê thê khiến ta bâng khuâng ngây ngất. Ðó là thứ nhạc điệu có công dụng làm cho độc giả lả dần vào cõi mộng.

Quan niệm theo Mallarmé thì đó phải là thứ nhạc ma quái, dễ quyến rũ lòng người, với nhạc điệu ấy thơ sẽ có một giá trị thần chú (valeur incantatoire) có thể mê hoặc độc giả.

Trong thi phẩm “Tinh huyết”, Bích Khê cũng tỏ ra rất chú trọng tới nhạc tính của thơ. Trong những bài như Mộng cầm ca, Tỳ bà, Nhạc, Thi vị, Cơn mê, Hoàng Hoa, Nghê thường, Bích Khê đã cố gắng tạo cho thơ một thứ âm nhạc thật êm đềm có nhiều sức gợi cảm. Hãy đọc bài thơ Tỳ bà dưới đây, đọc thật chậm, thật sẽ sàng đấy nhé:

Tỳ bà (xin không chép lại bài thơ – C.V.S)

Các bạn thấy chăng, bài thơ Tỳ bà có một nhạc điệu rất êm đềm, được phát sinh từ những sự dụng ý sau đây của tác giả:

– Tất cả những tiếng trong bài thơ đều là tiếng bằng, không có một tiếng trắc nào cả.

– Sự láy đi láy lại của một số dụng ngữ chẳng hạn dụng ngữ “tôi” (Tôi qua… tôi mang… tôi không… tôi nghe) của nhóm chữ “yêu nàng bao nhiêu” (Yêu nàng bao nhiêu trong lòng tôi – Yêu nàng bao nhiêu trên đôi môi), của tiếng “Ðào nguyên”, của tiếng “buồn”, của nhóm chữ “Vàng rơi”.

Hãy đọc bài Thi vị chậm thật chậm (Xin không chép lại – C.V.S).

Bài Thi vị cũng rất giàu nhạc tính, phát sinh từ những sự kiện sau đây của kỹ thuật tác thi có tính chất cố ý:

– Sự nhắc đi nhắc lại một trạng thái tương đồng (vàng và rơi) của Lá, Trăng, Hoa, Sao, Ðêm. Ðồng thời còn có những trạng thái và cử động khác (rung tiếng, nghẹn tiếng, rụng tiếng, cảm tiếng, bẻ phím) của danh từ “đàn” (đương ngồi, đây rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi) của danh từ “người yêu”. Tất cả những tiếng như thế được láy đi láy lại quấn quýt với nhau thành những điệp khúc nhỏ quây quanh một điệp khúc nổi hơn (tôi khóc anh ơi) trong bốn khổ và vụt đổi trong khổ cuối cùng thành: Thôi hết anh ơi!

Không những các âm thanh của những dụng ngữ tạo ra nhạc, mà ngay cả những hình ảnh cũng tạo ra nhạc, thứ nhạc chuyển từ thấp lên cao (crescendo). Ðó là những hình ảnh của chủ từ “người yêu” trong các trạng thái đương ngồi, đây rồi, đi rồi, xa rồi, chết rồi cứ mỗi trạng thái lại gợi ra một âm thanh trừu tượng càng lúc càng nức nở thêm” (Lê Huy Oanh, tác phẩm đã dẫn, tr 58 – tr. 61).

Như vậy Nhạc tính trong thơ của Lê Huy Oanh đã qua một tiểu xảo phù phép của Ðỗ Lai Thuý để trở thành một cái tên đỏm hơn là Tiếng không lời. Còn thì vẫn là nội dung ấy được bê gần như nguyên xi. Thao tác “ảo thuật” ở đây thậm chí còn chưa đạt tới trình độ “hồn Trương Ba da hàng thịt” nữa kia. Nó cũng giống như trường hợp Lê Huy Oanh phát hiện ra “biểu tượng trùng phức” trong thơ Bích Khê, thì Ðỗ Lai Thuý cũng phát hiện ra “biểu tượng trùng phức” khi nghiên cứu Bích Khê. Chúng vẫn chỉ là chiếc xe đạp Viha đem về dán vội cái đề can Mifa lên, vặt đi một ít phụ tùng, phẩy lên vài nhát sơn, rồi mang ra bán ở chợ Giời thôi. Chẳng nhẽ có thể quan niệm đó là loại “trích dẫn thiếu chú thích” được sao?

Có lẽ không cần phải chép ra đây những đối chiếu tương tự mà tác giả Con mắt thơ đã “dùng” với nhiều mức độ khác nhau của những Ðào Trường Phúc, Phan Kim Thịnh, Ðặng Tiến, Nguyễn Kim Chương và Huỳnh Phan Anh, Lê Huy Oanh, Chế Lan Viên, Nguyễn Ðăng Mạnh v.v… Tôi không muốn bạn đọc phải nhọc lòng hơn nữa với cái việc đáng buồn bực và chán ngán này (Ðược biết ở lần tái bản thứ ba, Con mắt thơ có một số ghi chú ở một số đoạn vốn là “đạo văn”, nhưng đây cũng chỉ là ghi chú chiếu lệ không kém xảo thuật, tạo ra cho người đọc sự lầm lẫn không biết ghi chú cho cả đoạn hay ghi chú cho một câu. Ngoài ra còn nhiều đoạn không ghi chú mà đoạn dẫn lại để đối chiếu trên đây là một ví dụ).

Ai cũng biết đến cái sự nghiệt ngã của nghề cầm bút: còn viết, nghĩa là còn khó tránh khỏi sai sót, lầm lỡ. Ðó âu cũng là thường tình! Nhất là những người mới vào cuộc thường nôn nóng nổi danh. Tâm lý nôn nóng thường đẻ ra những việc làm dại dột. Họ quên rằng lao động sáng tạo chân chính là một sự khổ hạnh. Có thể phải nung nấu một đời may ra mới sản sinh được đôi ba ý tưởng có nghĩa lý. Trước một vấn đề thiên hạ đã nói được tám ý, đến mình có khi chỉ thêm được ý thứ chín, thế cũng là đóng góp đáng quý rồi! Làm sao có thể vơ về mình cả chín ý đó được. Mà đạo đức khoa học chính là ở chỗ phải tôn trọng những khám phá phát hiện của người đi trước. Bởi thế nếu sai thì sửa, lầm lỡ thì hối cải! Ðể tự cứu mình, một ngòi bút không thể trông chờ vào sức mạnh nào khác hơn lòng trung thực. Bởi vì công việc bút mực, phần nào đúng như lời thơ mà Ðỗ Lai Thuý đã lấy làm đề từ cho Con mắt thơ: “Ta bày thực hư lên bàn cuộc đời – Thực hư ta bày lên trình loài người“. Trang sách mở ra trước bàn dân thiên hạ. Có thể qua mắt được một người, quyết không qua được tất cả. Thật tiếc cho tác giả này, đã có dịp tái bản – nghĩa là có cơ hội để làm sáng lại thiên lương của ngòi bút mình, thế mà vẫn xáo lộn thực hư lòng mình làm chiếc khăn tù mù phủ lên cuốn sách, rồi cứ thế bày lên “bàn cuộc đời”! Thật khó mà hiểu nổi!

Trước khi kết thúc bài viết bất đắc dĩ này, tôi muốn nghĩ đến một vài khía cạnh khác của chuyện “đạo văn”. Nhiều tờ báo gần đây cũng đã đề cập. Có lẽ cần phải thấy rằng, một khi “đạo văn” đã xuất hiện nhiều, thì nó là dấu hiệu đáng lo ngại nhất của tình trạng xuống cấp của đạo đức xã hội. Bởi vì, hơn đâu hết, giới cầm bút vẫn được toàn xã hội xem là kẻ phát ngôn cho Chân – Thiện – Mỹ, những giá trị cao quý nhất của con người. Từ hiện tượng này, chúng ta thấy thêm rằng: chừng nào việc chọn lọc, tiếp thu những thành tựu văn hoá của giới nghệ sĩ, trí thức miền Nam trước 1975 chưa được tiến hành, nhiều công trình, tài liệu vẫn ở tình trạng trôi nổi vất vưởng để trở thành “của riêng” của một vài cá nhân có may mắn sở hữu, và chừng nào chúng ta còn chưa có đạo luật chính thức, nghiêm minh về quyền tác giả, chừng ấy nạn “thuổng văn”, “đạo văn”, với muôn hình thức, vẫn còn có cơ nảy nở! Ðó không chỉ là trách nhiệm của riêng ai?

 
© talawas 2026