trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.11.2007
Tom DeLay
Diễn văn từ chức tại Hạ nghị viện
 

Ngài Chủ tịch,

Sự nghiệp chính trị thường kết thúc bằng một trong ba cách: bị đánh bại, bị chết hoặc hồi hưu.

Và mặc cho những nỗ lực sục sôi và hầu hết là đáng kính của các đối thủ của tôi qua nhiều năm ròng, hôm nay tôi [1] đứng đây nói lời từ biệt với Hạ viện này bằng cách tốt đẹp nhất trong những lựa chọn khả hữu nói trên.

Tôi xin bắt đầu sự kết thúc sự nghiệp hạ viện của tôi bằng cách công khai cảm ơn lần cuối cùng với tư cách là đại biểu cho dân chúng Quận 22 của bang Texas. Tất cả những gì tôi đã đạt được nơi đây, tôi mang nợ và xin dâng tặng họ. Đó là một vinh dự và đặc quyền được phục vụ họ ở nơi này.

Tôi hân hạnh được phục vụ cùng vị Chủ tich, Denny [2] … người bạn tốt của tôi, người đồng đội và đồng nghiệp đáng tin cẩn nhất của tôi. Và tôi muốn dành giây phút này để chúc mừng ông đã trở thành vị Chủ tịch Hạ viện thuộc Đảng Cộng hoà lâu nhất trong lịch sử.

Chỗ này đây quả thật là phúc lành, thưa ngài Chủ tịch. Toà nhà này, thiết chế này quả thật là một lâu đài hy vọng cho loài người trong thế giới của chúng ta. Nó là một trong nhiều cái trong đời sống chính trị mà ta luôn biết mà ít khi để ý.

Thời biểu chúng ta bị bắt phải theo trong thời gian ở Washington không phải lúc nào cũng thuận lợi để ngồi xuống và suy ngẫm về ý nghĩa lịch sử của những thứ xung quanh ta.

Tuy nhiên trong những tuần lễ tôi tuyên bố sẽ hồi hưu, tôi thấy rằng mình đã làm đúng như thế. Tôi để ý đến những thứ mà tôi chưa từng trong nhiều năm. Tôi để ý đến những tượng đài trong khu Công viên Quốc gia [3] .

Tôi để ý ở tháp kỷ niệm Washington, Người Cha của đất nước chúng ta được thể hiện không phải bằng một tượng đài huy hoàng, mà bằng một hình ảnh của người lính đang canh gác… đứng gác đến muôn đời. Tôi để ý rằng dưới vòm đài kỷ niệm Jefferson, tượng đài của ông khá khiêm tốn, trong khi lời được ghi khắc thì vẫn rền vang từ đá cẩm thạch với sức mạnh chuyển động lịch sử. Tôi để ý rằng trong chiếc ghế của Lincoln, con người đã tìm kiếm hoà bình và hoà giải trên hết, thì nắm chặt một bàn tay của mình một nắm đấm vĩnh cửu.

Tôi bước trong những căn phòng này với một cái nhìn tinh tường hơn. Tôi để ý giờ đây những bức tượng của những anh hùng xa xưa và vĩ đại và – trong vài trường hợp – gần như bị quên lãng, đang xếp hàng trong những căn phòng của toà nhà này, hay đứng trong Khu tượng đài [4] . Trong những căn phòng này, tôi cũng để ý trong những tuần lễ gần đây nhiều du khách đến Toà nhà Quốc hội này không nói tiếng Anh.

Hầu hết những người du khách này không phải người Mỹ, nhưng, ở một ý nghĩa nhất định, dĩ nhiên là họ là [người Mỹ]. Họ có thể nói tiếng Ý hay tiếng Ba Lan hay tiếng Nhật, nhưng tự do mà họ được hưởng – cả ở đây lẫn ở đất nước họ – đã được gợi hứng, đạt được, hay được bảo đảm bởi những lý tưởng, sự dũng cảm và lòng trắc ẩn của dân tộc Mỹ.

Những người hành hương này từ khắp nơi trên trên thế giới đến Hạ Nghị Viện, ngồi trong những gallery, chụp hình các bức tượng, và chăm chú nhìn khu nhà Quốc hội [5] … để làm nhân chứng cho kỳ công vĩ đại của quyền tự do con người mà chúng ta đã đạt được ở đây.

Vòm nhà trên đầu chúng ta, thưa ngài Chủ tịch, là một ngọn hải đăng – hay thậm chí, là một ngôi sao – mà tất cả loài người trên thế giới, dù có bị đàn áp thế nào, nghèo khốn thế nào, vô vọng thế nào đi nữa, cũng có thể theo đó để tìm đến sự an ninh, giàu có, và tự do.

Điều đáng được xem xét – mặc dù, tôi phải thừa nhận là sau khi tuyên bố hồi hưu thì dễ dàng hơn rất nhiều để xem xét chuyện này – là những ngày tháng chúng ta lãnh đạo ở đây… những tranh luận chúng ta tiến hành… công việc chúng ta làm ở đây… có phải luôn luôn xứng đáng với những lý tưởng cao cả được biểu hiện trong mái vòm đó hay không.

Tôi nghĩ là chúng ta có thể làm tốt hơn – cũng như mọi người về mọi thứ trong mọi thời đại – nhưng có lẽ không phải bằng cách mà một số người nghĩ.

Khi chuẩn bị cho ngày hôm nay, tôi thấy là theo thông lệ trong những diễn văn như thế này chúng ta hồi tưởng về “ngày xưa thân ái” của sự hoà thuận chính trị và tình thân thiết giữa hai đảng, và than thở về sự thù địch gay gắt và chia rẽ đảng phái giờ đây có vẻ như đang làm yếu đi nền dân chủ của chúng ta.

Tôi không thể làm như thế. Bởi vì óc đảng phái, thưa ngài Chủ tịch – nếu được hiểu đúng đắn – không phải là dấu hiệu của sự yếu kém của nền dân chủ, mà là sự khoẻ mạnh của nó – đặc biệt từ quan điểm của một người bảo thủ chính trị.

Chủ nghĩa phóng khoáng [6] , rốt cuộc, dù anh có nghĩ gì về ích lợi của nó, là một triết lý chính trị – và một triết lý đáng tự hào với một truyền thống vĩ đại ở quốc gia này – đang thèm phát triển khủng khiếp. Vào bất cứ lúc nào hoặc bất cứ nơi đâu, hay bất cứ vấn đề gì, thì chủ nghĩa phóng khoáng muốn gì, thưa ngài Chủ tịch? “Thêm nữa”. Thêm chính quyền, thêm thuế, thêm quyền kiểm soát trên đời sống, quyết định và túi tiền của người dân.

Nếu những người bảo thủ không đương đầu với chủ nghĩa phóng khoáng, thì không ai sẽ! Và trong một thời gian dài ở đây… hầu như không có ai làm điều đó.

Thực vậy, than van thông thường về sự lớn mạnh của óc đảng phái chính trị thường không gì khác hơn là than phiền về sự lớn mạnh của chủ nghĩa bảo thủ. Tôi nên thêm vào đây là tôi không chỉ trích những người theo chủ nghĩa phóng khoáng niềm luyến tiếc của họ về những ngày của một thiểu số đảng Cộng hoà yếu ớt, dễ bảo và vĩnh viễn. Nếu chúng tôi những người đảng Cộng hoà cũng được hưởng sự xa xỉ đó trong mười hai năm vừa qua… Ha, tôi cũng luyến tiếc y chang như thế!

Nếu những người theo chủ nghĩa phóng khoáng không chống đối chúng ta quyết liệt về cắt giảm thuế, về năng lượng, về Iraq và phá thai, thì phe chúng ta sẽ chỉ có thể tưởng tượng ra tất cả những điều khác nữa có thể đạt được. Nhưng sự thật là, thưa ngài Chủ tịch, họ đã không đồng ý với chúng ta.

Như vậy – phải thừa nhận – họ đã đương đầu lại chúng ta. Họ tranh luận với chúng ta. Và họ đã làm thế một cách đáng kính trọng, nhân danh hơn 100 triệu nhân dân, cũng như chúng ta đã đương đầu với Tổng thống Clinton, và họ đã đương đầu với Tổng thống Reagan.

(À, không cần phải nói thêm, thưa ngài Chủ tịch, là theo trí nhớ của tôi thì các bạn của chúng ta thuộc phe bên kia đã thua trong mọi tranh luận trong 22 năm qua… nhưng điều đó không quan trọng!)

Điều quan trọng là: chúng ta bất đồng. Trên những nguyên tắc cơ bản, thưa ngài Chủ tịch, chúng ta bất đồng. Và vì thế chúng ta tranh luận – thường thì rất kịch liệt, và thường vô hiệu – để thuyết phục các đối thủ và nhân dân Mỹ tin theo quan điểm của chúng ta. Chúng ta tranh luận ở Hạ viện này. Chúng ta tranh luận ở các uỷ ban. Chúng ta tranh luận trên ti-vi, trên ra-đi-ô, trên Internet, và trên báo chí. Và rồi mỗi hai năm, chúng ta có một cuộc tranh luận KHỔNG LỒ… và rồi đến tháng 11 chúng ta xem thử ai thắng.

Đó không phải là thù địch.

Đó là dân chủ!

Hãy chỉ cho tôi một quốc gia không có óc đảng phái, và tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một chính thể bạo ngược.

Vì dù cho những khuyết điểm của nó, chính óc đảng phái – dựa trên những nguyên tắc nòng cốt – sẽ làm sáng sủa những cuộc tranh luận, sẽ ngăn chặn một đảng phái khỏi sự đi quá xa dòng chính, và sẽ thường xuyên làm mới mẻ nền chính trị của chúng ta với những ý kiến mới và những nhà lãnh đạo mới.

Thực vậy, dù óc đảng phái có thể đóng vai trò gì đi nữa trong sự hồi hưu của tôi hôm nay – hay trong sự thiếu thân thiện dành cho các nhà lãnh đạo các thời khác, dù Cộng hoà hay Dân chủ, dù có bất công thế nào – thì chúng ta có thể nói rằng óc đảng phái là phương tiện tồi tệ nhất để giải quyết những bất đồng chính trị… nếu trừ đi tất cả các phương tiện khác.

Chính trị đòi hỏi thoả hiệp, thưa ngài Chủ tịch, và ngay cả người có óc đảng phái nhất trong chúng ta cũng phải hiểu điều đó. Nhưng chúng ta không được quên rằng thoả hiệp và sự hoà thuận giữa hai đảng chỉ là phương tiện, chứ không phải là mục đích, và được sử dụng hợp lý chỉ nhằm phục vụ những nguyên tắc cao hơn.

Không phải là là một người óc đảng phái có nguyên tắc, dù anh ta có đáng ghét thế nào đi nữa đối với các đối thủ, đã làm giảm giá cuộc tranh luận công khai của chúng ta, mà [thủ phạm] là vị tự coi mình là chính khách làm dáng, người đã nâng thoả hiệp lên thành nguyên tắc cơ bản. Bởi vì nhà chính khách thực sự, thưa ngài Chủ tịch, không được định hình trên những điều họ đã thoả hiệp, mà trên những điều họ đã không.

Những người bảo thủ, đặc biệt, ít ham muốn phát triển chính phủ, phải nhớ rằng những nguyên tắc của chúng ta phải luôn dẫn dắt chương trình hành động của chúng ta, chứ không phải ngược lại. Đối với những người bảo thủ chúng ta, có hai nguyên tắc không thể thoả hiệp được trong danh dự: tự do con người và phẩm giá con người.

Chương trình hành động của chúng ta trong 12 năm qua là kết quả của những nguyên tắc cơ bản này:

Chúng ta giảm thuế để tăng tự do;

Chúng ta cải cách những chương trình phúc lợi mà, dù với ý tốt thế nào đi nữa, đã làm hại phẩm giá của công việc làm và trách nhiệm cá nhân và mãi gây ra nghèo đói;

Chúng ta chống lại việc phá thai, nhân bản vô tính, và trợ giúp tự sát bởi vì những phương thức như thế về cơ bản đã phủ nhận phẩm giá đặc biệt của một người; và

Chúng ta đã ủng hộ sự truyền bá dân chủ và cuộc chiến chống khủng bố hiện thời bởi vì những chính sách đó bảo vệ và khẳng định quyền con người không thể chuyển nhượng của mọi đàn ông, đàn bà và trẻ con được sống trong tự do.

Chủ nghĩa bảo thủ thường bị kết án một cách bất công là vô cảm và độc ác… và không may là, đôi khi thậm chí bởi những người bảo thủ khác. Kết quả là, những người bảo thủ thường cố “làm dịu đi” ấn tượng đó bằng cách tài trợ quá mức những chương trình đổ vỡ hay che giấu những chính sách thất bại. Nhưng chủ nghĩa bảo thủ không phải là cảm thông nỗi đau của người khác… mà là chữa trị nó.

Và kết quả kể từ thắng lợi to lớn đầu tiên của phe bảo thủ vào năm 1980 đã chứng minh như thế:

  • hàng triệu công việc làm mới, nhà mới, và doanh nghiệp mới được tạo ra nhờ sự cải cách kinh tế theo chủ nghĩa bảo thủ;
  • hàng triệu gia đình được nguyên vẹn và giàu có nhờ chuyển từ thụ hưởng chương trình phúc lợi sang việc làm;
  • hàng trăm triệu người trên thế giới được giải phóng nhờ chính sách đối ngoại bảo thủ đã chiến thắng chủ nghĩa cộng sản Xôviết; và,
  • hơn 50 triệu người Iraq và Afghanistan được giải phóng khỏi chính thể bạo ngược từ ngày 11 tháng 9 năm 2001.

Với những người chỉ trích những chính sách bảo thủ có vẻ như “ác độc” đã mang lại những kết quả như thế, tôi chỉ nói thế này: lòng trắc ẩn là cái gì mà lòng trắc ẩn làm được.

Khi tôi nói từ đó, thưa ngài Chủ tịch – “lòng trắc ẩn” – lòng tôi ngay lập tức nghĩ về một người: vợ tôi, Christine. Mười hai năm trước, Christine trở thành một Cố vấn Đặc biệt của Toà án cho trẻ em bị ngược đãi và bỏ rơi. Ngay sau đó, chúng tôi trở thành cha mẹ bảo dưỡng (foster) của ba đứa trẻ như vậy.

Trong vòng 10 năm qua, tôi đã dành nhiều thời gian và công sức cho tình cảnh khổ cực và nhu cầu của trẻ em bị ngược đãi và bỏ rơi hơn bất cứ vấn đề nào khác. Đó là một vấn đề đứng trên chính trị, nói chi đến óc đảng phái, và một vấn đề sẽ tiếp tục đòi hỏi lượng thời gian nhiều của tôi với tư cách là một công dân bình thường. Tuy vậy, tôi lo lắng không biết nó sẽ được chú ý đúng mức ở Washington không. Và bởi vì đây là lần cuối cùng tôi có thể thu hút sự chú ý của Hạ viện và của truyền thông quốc gia, tôi sẽ yêu cầu một lần nữa trước khi ra đi.

Thảm hoạ của hệ thống phúc lợi và nuôi dưỡng trẻ mồ côi của nước Mỹ là một sỉ nhục quốc gia, một thất bại của chính quyền, và một hổ thẹn cho cả hai đảng. Quốc hội, chính quyền, các thống đốc, và các cơ quan lập pháp các tiểu bang của mỗi đảng và khuynh hướng tư tưởng trong gần trăm năm đã quẳng trẻ em bị ngược đãi và bỏ rơi vào trong vòng xoáy tàn ác của bạo lực, nỗi sợ hãi, và sự bất ổn.

Trẻ em đã từng bị đánh đập và phản bội bởi những người đáng ra phải yêu thương chúng nhất thì cứ bị thường xuyên quăng từ một nơi tạm trú này sang một nơi khác, thường là mười đến hai mươi lần trong những năm tháng đang trưởng thành và dễ tổn thương nhất.

Hệ thống mà chúng ta tạo ra vẫn còn bao gồm trợ cấp kinh tế sai lầm đã ngăn chặn một gia đình nhận nuôi dưỡng vĩnh viễn cho trẻ em – và ở một số tiểu bang vẫn còn thiếu một hệ thống tốt để quan sát trẻ em được nhận nuôi hay kiểm tra lý lịch của cha mẹ nuôi tương lai.

Các toà án được trao nhiệm vụ giám thị các vụ này thì bị tràn ngập với những nhiệm vụ không liên quan khác, vì thế công việc bạc bẽo không hứng thú là chăm lo cho trẻ em được nhận nuôi bị gạt qua bên để xét những vụ hấp dẫn hơn trong sổ án.

Thói quan liêu, lớp lớp chồng chéo lên nhau, giao phó những trẻ em này cho sự đày đoạ của hệ thống chăm sóc con nuôi của chính quyền vài năm một lần, mà chỉ có rất ít hoặc không có chút cố gắng nào để tìm cho chúng một gia đình thân thương và vĩnh viễn.

Thay vì thế, cứ vài tháng, những trẻ em này quẳng sự tuyệt vọng và lòng ngờ vực của chúng vào một túi đen loại dùng để đựng rác, cùng với một vài đồ đạc của chúng, và đến một chỗ mới… một sự thất vọng mới. Chúng bị ngược đãi và bỏ rơi rất lâu trước khi chúng đến với hệ thống săn sóc trẻ của chúng ta, một hệ thống cũng ngược đãi và bỏ rơi trẻ em – và khi đã vào đó, mọi chuyện thường tồi tệ hơn. Trẻ em đang chết dần, thưa ngài Chủ tịch, dù ở trong hay ngoài hệ thống… và đó là lỗi của chúng ta.

Một dự luật đang chờ thông qua ở Thượng viện nhằm giúp xúc tiến sự nhận nuôi trẻ mồ côi giữa các tiểu bang – và trong mục tiêu hạn hẹp của nó, dự luật này sẽ tốt cho một số trường hợp. Và tôi tự hào về điều nhỏ bé đó tôi có thể đạt được cho những đứa trẻ này trong những năm qua. Nhưng thật sự, tôi chỉ dời gò mối, chứ không phải chuyển núi cao. Tôi rời bỏ quí vị hôm nay không phải đòi hỏi một ai đó tiếp tục, mà đòi hỏi tất cả quí vị hãy tiếp tục sự nghiệp này.

Xin quí vị hãy lắng nghe câu chuyện của các trẻ em này kể lại và nghiên cứu cái hệ thống bị đổ vỡ chúng ta đã tạo ra cho chúng… và giúp đỡ chúng. Vi Chúa… hãy cứu chúng!

Tôi đòi hỏi điều này từ các đảng viên Cộng hoà cũng như Dân chủ, không phải nhân danh sự hoà thuận của hai đảng, mà nhân danh nguyên tắc đạo đức.

Và nó kéo tôi trở về, thưa Ngài Chủ tịch, với những đài kỷ niệm và những bức tượng kia.

Những người Mỹ vĩ đại được tôn vinh ở đây bằng đồng và đá cẩm thạch – những anh hùng trong lịch sử của chúng ta và những linh hồn của những căn phòng này – không phải trở nên vĩ đại vì họ được sinh ra như thế… mà vì những điều họ đã làm. George Washington và Abraham Lincoln hầu như không có gì chung với Junipero Serra [7] và Jack Swigert [8] – trừ sự chọn lựa mỗi người trong bọn họ đã làm…

Sống, chiến đấu, và thậm chí chết vì tự do.

Chúng ta tôn vinh những người này bằng các Tượng đài không vì sự vĩ đại của họ, hay chỉ giản dị chỉ vì công lao của họ, mà vì họ – ngay cả khi đối diện với hiểm nguy hay cái chết – đã không bao giờ thoả hiệp những nguyên tắc họ phục vụ.

Tháp kỷ niệm Washington vẫn đứng gác bởi vì nền dân chủ sẽ luôn luôn cần một người lính gác!

Lời của Jefferson vẫn vang rền bởi vì tự do sẽ luôn luôn cần một tiếng nói!

Và tay trái của Lincoln vẫn nắm chặt bởi vì chính thể bạo ngược sẽ luôn luôn cần một kẻ thù!

chúng ta vẫn còn đây, thưa Ngài Chủ tịch – bằng Hạ viện này và bằng quốc gia này – bởi vì ngọn đuốc tự do không thể tự mình tiến bước.

Ở đây, tôi đã hứng chịu và quăng ra đủ loại búa rìu. Trải qua 22 năm, tôi có lẽ đã làm việc cùng và đối địch với hầu hết mọi người trong căn phòng này ít nhất một lần. Tôi đã giành giật từng lá phiếu, từng sửa đổi, từng chữ một trong mỗi dự luật mà trong thâm tâm, tôi tin rằng sẽ bảo vệ tự do con người và phẩm giá con người.

Tôi đã làm thế một cách danh dự và trung trực, thưa ngài Chủ tịch, với Chúa làm chứng nhân và với lịch sử làm quan toà cho tôi. Và nếu có cơ hội làm lại từ đầu, chỉ có một thứ mà tôi sẽ làm khác hơn: tôi sẽ đấu tranh thậm chí mạnh mẽ hơn!

Nơi đây đã cho tôi rất nhiều kỷ niệm, nhiều sinh lực. Trong 22 năm, tôi đã phục vụ hết sức mình. Ở Hạ viện này, tôi đã tìm thấy mục đích đời tôi và Đấng cứu rỗi linh hồn tôi.

Tám năm trước, tôi đã chứng kiến cái ác qua việc sát hại hai nhân viên cảnh sát của Toà nhà Quốc hội [9] – một người bên ngoài văn phòng của tôi, và một người khác, một bạn thân bảo vệ tôi, ngay trong văn phòng này. Và năm năm trước, tôi đã chứng kiến sự dũng cảm vô song khi những đồng đội của họ đứng vững ở vị trí của họ bên trong toà nhà trong cơn hoảng loạn di tản trong ngày 11/9. Họ ở xung quanh chúng ta hàng ngày, Đơn vị Cảnh sát bảo vệ Quốc hội, đội thiên thần bảo vệ cá nhân các thành viên và nhân viên Quốc hội. Họ là những người dũng cảm nhất phục vụ dưới mái vòm này, và tôi xin dâng tặng họ lúc này, một lần nữa, sự kính trọng và ngưỡng mộ sâu sắc của tôi.

Tin hay không, thưa ngài Chủ tịch, đây là một ngày hạnh phúc cho tôi – dù phải thừa nhận, có lẽ không được hạnh phúc như một số bạn bè cũ của chúng ta đang ngồi ở phe bên kia.

Nhưng không có gì – ngay cả sự hồi hưu này, những thất bại gay go hay những vết thương cũ – có thể lấy đi niềm vui tôi đang cảm thấy và những chúc phúc tôi xin tặng Hạ viện này và các thành viên của nó. Tôi nói lời từ biệt hôm nay, thưa ngài Chủ tịch, với ít hối tiếc, và không chút nghi ngại.

Và như vậy, với tình yêu và sự biết ơn đối với bạn bè cũng như đối thủ – đều là đồng bào hết thảy – tôi nhường chỗ lại cho Hạ viện thân yêu của chúng ta.

Bản tiếng Việt © 2007 talawas


[1]Tom DeLay (sinh 8/8/1947): Dân biểu Hạ viện Mỹ từ 1984, Đảng Cộng hoà, Texas; Lãnh tụ Khối đa số Hạ viện 2003-2006), một dân biểu bảo thủ gây nhiều tranh cãi. Tom Delay từ chức sau khi bị buộc tội vi phạm luật về ngân sách tranh cử, và dính tới vụ bê bối nhận hối lộ trong của Jack Abramoff. Bài diễn văn này được đọc tại Hạ viện Mỹ ngày 8/6/2006.
[2]Dennis Hastert (sinh 2/1/2007): dân biểu Hạ viện Mỹ, đảng Cộng hoà từ 1987; Chủ tịch Hạ viện từ 1999-2007.
[3]National Mall: khu vực ở trung tâm thành phố Washington, D.C. gồm nhiều tượng đài và bảo tàng
[4]Statuary Hall: Phòng tượng của Hạ viện Mỹ.
[5]Rotunda: Khu nhà Quốc hội hình tròn với mái vòm.
[6]Liberalism: ở đây là Chủ nghĩa Phóng khoáng (hay Chủ nghĩa cấp tiến – ở Mỹ) đối lập với Chủ nghĩa Bảo thủ (Conservatism).
[7]Junipero Serra (24/11/1713-28/8/1784): cha đạo Công Giáo người Tây Ban Nha dòng Francis, truyền đạo ở California.
[8]Jack Swigert (30/8/1931-27/12/1982): phi hành gia NASA.
[9]Ngày 24/7/1998 Russell E. Weston Jr. chạy vào toà nhà Quốc hội bắn chết hai nhân viên cảnh sát Jacob J. Chestnut và John Gibson.

 
© talawas 2026