1. Dịch văn học nước ngoài: thập niên 1950 – 1980
Việc dịch văn học nước ngoài đã trở thành một công việc văn hoá, văn học quan trọng tại Trung Quốc trong suốt thế kỷ 20. Việc dịch triết học và văn học ở quy mô lớn đầu tiên bắt đầu vào cuối thời nhà Thanh và kéo dài trong giai đoạn đầu của chính quyền Cộng hoà. Đây là thời điểm khi các trí thức đặt câu hỏi về truyền thống Trung Hoa và khuyến khích các giá trị văn hoá mới dựa trên các giá trị của phương Tây hiện đại.
Ngay từ đầu, công việc này đã tạo ra những mong chờ khác nhau giữa những người tham gia. Các nhà cải cách và các trí thức dấn thân xem việc dịch văn học nước ngoài, cùng triết học, tuyên ngôn chính trị và tác phẩm lịch sử, là phương tiện thúc đẩy cải cách xã hội và biến đổi văn hoá. Điều này rõ ràng ảnh hưởng đến những nội dung họ chọn dịch. Một số nhan đề phản ánh sự ưa thích ở cuối triều Thanh đối với văn chương chính trị (như loại mà Lương Khải Siêu cổ vũ); những người khác thì tập trung vào “các giai cấp bị đàn áp” ở Đông Âu và Liên Xô. Dạng này được Lỗ Tấn và những nhà văn cánh tả chọn dịch trong thập niên 1920 và 1930 [1] .
Cùng lúc đó, một nền văn hoá đô thị mới và các tiến bộ trong công nghệ in ấn đã tạo ra điều kiện kinh tế cho các dịch giả chuyên nghiệp, nhà văn, nhà xuất bản và chủ hiệu sách để họ giới thiệu văn chương phổ thông nước ngoài đến quần chúng. Giống như các bộ phim Hollywood và các sản phẩm nhập từ ngoài khác, văn chương phổ thông nước ngoài là một phương thức dễ dàng để tầng lớp trung lưu đang lên ở đô thị làm quen với phong cách sống phương Tây và thoả mãn sự tò mò của họ về thế giới bên ngoài. Mặc dù rất khác về mục tiêu so với các tác phẩm nghiêm túc mà các nhà cải cách và cách mạng lựa chọn, nhưng các bản dịch này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một cảm thức hiện đại trong giới người Hoa sống ở đô thị.
Mặc dù những người tham dự tiến trình này có các khuynh hướng nghệ thuật và chính trị khác nhau, nhưng sự ham thích chung của họ đối với văn học nước ngoài vẫn tiếp tục trong nửa đầu thế kỷ 20, thậm chí trong cả thời tao loạn của chiến tranh và cách mạng. Tuy nhiên, con đường tương đối đa dạng này đã khép lại đáng kể trong đầu thập niên 1950, khi quan hệ của Trung Quốc với phần còn lại của thế giới đổi thay sau khi những người cộng sản nắm chính quyền. Việc dịch văn học nước ngoài tại Trung Quốc giai đoạn 1949-60 bị ảnh hưởng mạnh vì các yếu tố sau đây.
Đầu tiên, sau khi chính quyền tiếp quản ngành xuất bản và quốc hữu hoá ngành kinh doanh văn hoá trong đầu thập niên 1950, việc sản xuất văn chương trở thành một phần quan trọng trong kế hoạch nhà nước. Chính phủ bao cấp nhưng đồng thời quản lý nó. Văn học nước ngoài bị kiểm soát đặc biệt vì tính chất nhạy cảm trong quan hệ giữa Trung Quốc và phương Tây. Chỉ một vài nhà xuất bản “đáng tin cậy” được phép dịch và xuất bản văn học nước ngoài. Một nhóm nhỏ như thế đã độc quyền quá trình xuất bản, từ khâu hình dung dự án, chọn sách, cho đến việc thuê người dịch và phát hành. Vì vậy, các nhà xuất bản khác không thể giới thiệu các tác phẩm nước ngoài gây tranh cãi.
Thứ hai, việc chọn sách dịch bị các cân nhắc chính trị chi phối. Các tác phẩm hiện đại chọn dịch nhắm tới sách từ Liên Xô, Đông Âu, và nhiều nước châu Mỹ Latin, châu Phi, châu Á là bạn hoặc đồng minh của Trung Quốc. Chính phủ thường dùng các sách nước ngoài này, cùng các tác phẩm lịch sử cách mạng của nhà văn Trung Quốc, để giúp “định hình” cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trong thập niên 1950, các sách này được coi là đóng vai trò trung tâm trong “giáo dục xã hội chủ nghiã”, đặc biệt ở trường học. Điều này giải thích vì sao các sách về cách mạng Nga, xây dựng chủ nghĩa xã hội, và về cuộc đấu tranh chống Hitler của Liên Xô, được đặc biệt xem trọng.
Không có nhiều bản dịch các tác phẩm từ Bắc Mỹ và Tây Âu. Đa số các sách phương Tây được chọn dịch là “tác phẩm cổ điển” từ trước thế kỷ 20 – đặc biệt, các tiểu thuyết “hiện thực phê phán” của thế kỷ 18 và 19 bộc lộ sự thối nát và tệ đoan xã hội ở phương Tây. Trong số các tác giả được dịch có Dickens, Balzac, Hugo, Stendhal, và Tolstoy. Mãi đến thập niên 1980 trên giá các nhà sách mới có sự hiện diện tiêu biểu hơn của các tác phẩm nước ngoài trong thế kỷ 20.
Tuy nhiên, trong ba thập niên từ 1949 đến 1976, cũng có những lối đi khác bên cạnh việc xuất bản công khai các tác phẩm nước ngoài ở Trung Quốc. Thực tế có số lượng khá lớn các sách “sai lầm về chính trị” của phương Tây và “xét lại” của Liên Xô được dịch và đưa vào Trung Quốc trong thời kì này, qua một kênh gọi là “phát hành nội bộ” (neibu faxing). Phương thức này trở nên lớn mạnh trong đầu thập niên 1960 và tiếp tục cho đến giữa thập niên 1980. Việc Trung Quốc mở cửa trong cuối thập niên 1970 sau đó khiến phương thức này trở nên không cần thiết nữa.
Theo bản liệt kê mục lục về việc phát hành nội bộ 1949-1979, trong thời kì này đã có hơn 18301 ấn phẩm nội bộ xuất hiện, trong đó có gần 9700 nhan đề thuộc lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn. Trong đó có nhiều tác phẩm văn học hiện đại nước ngoài. Đa số (hơn 100 tựa) là từ Liên Xô; các tác phẩm Mỹ đứng thứ nhì (gần 30 tựa). Có 24 tựa của Nhật, 15 của Pháp, và 14 của Anh. Các tác phẩm được chọn ở đây rất khác so với loại văn học nước ngoài xuất bản chính thức trong thập niên 1950 và đầu 1960. Ví dụ, mặc dù các tác phẩm Liên Xô chiếm đa số trong cả danh sách phát hành công khai và nội bộ, nhưng loại tác phẩm được chọn rất khác. Các sách chính thức nhấn mạnh “các mô hình cách mạng xã hội tiến bộ, công cuộc xây dựng và tinh thần yêu nước”, trong khi các tác phẩm nội bộ bao gồm cả các sách gây tranh cãi của các nhà văn hiện đại và phản kháng thuộc thế hệ trẻ hơn, như Ilya Ehrenburg, Konstantin Simonov, Alexander Solzhenitsyn, và Vasily Aksyonov. Tiểu thuyết gây tranh luận của Ehrenburg, Băng tan, được dịch sang tiếng Hoa ngay từ năm 1963; và bốn quyển trong bộ sáu quyển hồi ký của ông này, Con người, Năm tháng, Cuộc đời, xuất hiện từ 1962 đến 1964, rõ ràng bởi vì ảnh hưởng và tiếng tăm của ông ở cả Liên Xô và phương Tây.
Nhiều tác phẩm văn học hiện đại quan trọng của phương Tây cũng được dịch rất sớm ngay sau khi bản gốc ra mắt. Trong đó có quyển Buồn nôn và các truyện khác của Jean Paul Sartre (được dịch sang tiếng Hoa năm 1965), Kẻ xa lạ của Camus (1961), Chờ Godot của Samuel Beckett (1965), Phiên toà và các truyện khác của Franz Kafka (1966), Tuyển tập tiểu luận của T. S. Eliot (1962), Trên đường của Jack Kerouac (1962), và Bắt trẻ đồng xanh của J. D. Salinger (1963).
Được chính phủ đặt hàng, và do các trí thức, nghiên cứu gia, dịch giả và biên tập viên chọn lựa cẩn thận dịch và chỉnh lý, các tác phẩm này được số ít các nhà xuất bản có đặc quyền in ấn. Trên lý thuyết, chúng nhằm dành cho một nhóm các viên chức cao cấp tại Ban tuyên huấn và các cơ quan văn hoá nhà nước, cùng một số trí thức khác, để giúp họ có kiến thức cập nhật về đời sống và tư tưởng đương thời ở phương Tây và Liên Xô. Nhưng không lâu sau đó, nhiều tác phẩm này đã có lượng độc giả nhiều hơn ý định của nhà nước. Thoạt tiên, điều này chỉ xảy ra khi con cái của các trí thức và viên chức cao cấp – đặc biệt những thanh niên ở tuổi đi học – được tiếp cận với sách của cha mẹ. Các thanh niên này lại chuyền sách cho bạn bè, trong “các cuộc họp mặt ngầm” của họ.
Một sự phân phát các ấn bản nội bộ rộng rãi hơn đã xảy ra trong giai đoạn ác liệt nhất của Cách mạng Văn hoá, khi mọi hàng rào và trật tự xã hội đổ vỡ. Bắt đầu từ năm 1966, Hồng vệ binh lùng sục các thư viện và phòng tham khảo ở các cơ quan văn hoá, và nhà của các học giả, viên chức và nhà văn nổi tiếng. Sau khi tịch thu nhiều tác phẩm hạn chế như là bằng chứng của ảnh hưởng tư sản, một số thành viên Hồng vệ binh đã đọc chúng và phân tán sách. Những tác phẩm được ưa chuộng nhất trong số này cũng được phân phát ở dạng viết tay.
Sau năm 1968, đa số các thanh niên thành thị dính líu đến phong trào Hồng vệ binh được đưa xuống nông thôn, và một số đem sách đi theo; điều này khiến ảnh hưởng của sách lan rộng hơn trong thanh niên Trung Quốc. Một số các tác phẩm thuộc trào lưu hiện sinh hoặc thế hệ Beat Hoa Kỳ, chúng đem lại một ít ý nghĩa cho cuộc khủng hoảng tinh thần mà các thanh niên này đang trải qua. Trong đó có Trên đường của Jack Kerouac, Bắt trẻ đồng xanh của J. D. Salinger, và Kẻ xa lạ của Camus. Theo nhiều thanh niên của đầu thập niên 1970, sự bất mãn của họ trước nhà nước đã tìm thấy âm vọng trong thế giới tinh thần của sự mất mát và đơn độc mà các sách này mô tả. Ví dụ được nhắc đến thường xuyên nhất là ảnh hưởng của các tác phẩm này lên nhóm thơ Bạch Giang Điền – tiền thân của các nhóm Sương Thi và nhóm Ngày Nay cuối thập niên 1970.
Chắc chắn những xuất bản phẩm nội bộ này – đặc biệt là những văn phẩm hiện đại từ phương Tây và Liên Xô – đã cho phép cả một thế hệ văn chương trẻ tách khỏi cái nhìn tri thức hạn hẹp mà 17 năm giáo dục xã hội chủ nghĩa đã truyền cho họ. Các tác phẩm này dạy họ tự chủ động suy nghĩ, và chúng sẽ sẽ có tác động mạnh đến văn học Trung Quốc trong cuối thập niên 1970 và 1980.
Tuy nhiên, cùng lúc đó, cả xu hướng bó hẹp quyền lợi văn hoá dành cho thiểu số tinh hoa lẫn việc kiểm duyệt chính trị tiếp tục hạn chế việc dịch và phát hành văn học nước ngoài ở Trung Quốc trước năm 1980. Trong phần lớn thời gian này, việc tiếp cận kiến thức nước ngoài bị kiểm soát nặng nề. Quá trình lựa chọn và dịch tác phẩm nước ngoài được đối xử như một hoạt động nghiêm túc có mục đích chính trị, và không cho phép ý niệm bán sách kiếm tiền. Cho đến tận cuối những năm 1970, các tiệm sách ở Bắc Kinh có bán các “ấn phẩm nội bộ” chỉ được phép tiếp các khách hàng có một chức vụ nhất định trở lên. Đa số dân chúng bị cấm sở hữu hoặc đọc các sách in nội bộ.
Khi Trung Quốc tái mở cửa với thế giới từ cuối thập niên 1970, tình hình thay đổi hoàn toàn. Một đợt sóng các tác phẩm phương Tây xuất hiện – văn học, triết học, nhân văn, khoa học xã hội. Có thay đổi đặc biệt sau Đại hội Văn Nghệ lần thứ Tư, tổ chức tháng 10 và 11-1979, khi Đặng Tiểu Bình có bài nói chuyện thúc giục các văn sĩ hiện đại hoá bằng cách học hỏi phương Tây. Nhiều tác phẩm đột ngột xuất hiện trên thị trường, thực ra vốn là các sách nội bộ từng bị hạn chế. Chúng đã được dịch nhiều năm trước đó và nay mới được in lại để bán ra ngoài. Các tác phẩm này tạo ra những tranh luận sôi nổi. Chúng cũng khuyến khích các nhà văn có ảnh hưởng của thập niên 1980 – Wang Meng, Gao Xingjian, Bei Dao, Liu Suola, và Xu Xing – bắt đầu thử nghiệm các kỹ thuật hiện đại.
Theo một nghiên cứu, từ 1978 đến 1987, hơn năm ngàn tựa sách nước ngoài được xuất bản trong lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn – cao gấp 10 lần so với toàn bộ tựa sách dịch của 30 năm trước đó. Một nghiên cứu khác tính toán rằng con số trung bình các tác phẩm văn học dịch đã tăng từ 172 sách mỗi năm từ 1949 đến 1979, vọt lên 657 mỗi năm từ 1980 đến 1986, và chỉ riêng trong năm 1988, số tác phẩm văn học dịch được in là hơn 1000.
Các tác phẩm được chọn dịch trong thập niên 1980 cũng độc lập về mặt trí thức hơn và sẵn sàng thách thức các quy chuẩn văn hoá đương thời. Có sự giới thiệu hệ thống các ấn phẩm giáo khoa về văn học nước ngoài, chẳng hạn cuốn Hợp tuyển tác phẩm hiện đại phương Tây do Yuan Kejia biên tập, và Hợp tuyển Thơ Mỹ hiện đại do Zhao Yiheng biên tập. Ngoài ra, nhiều tạp chí chuyên về văn học nước ngoài – đặc biệt văn học đương đại – đã được thành lập mới hoặc phục hồi lại. Trong đó có tạp chí Văn học thế giới (phục hồi lại năm 1977), Văn nghệ nước ngoài, Văn học nước ngoài đương đại và Văn học Sô-viết. Những tạp chí này thường mời các dịch giả hoặc chuyên viên làm biên tập, và các bản dịch có sự đi kèm của những lời giới thiệu và phê bình sâu. Chúng áp dụng các tiêu chí lựa chọn khác nhau – ví dụ, Văn nghệ nước ngoài tạo tên tuổi như một tạp chí của các tác phẩm thể nghiệm tiền phong – nhưng nói chung, tất cả đều tập trung vào văn học nghiêm túc được dịch theo tiêu chuẩn cao.
Có lẽ còn quan trọng hơn sự gia tăng tiếp xúc văn học nước ngoài nghiêm túc là sự phát triển vũ bão của việc dịch văn học phổ thông, đặc biệt từ giữa thập niên 1980. Văn học phổ thông đã không được xuất bản ở Trung Quốc từ đầu thập niên 1950. Đa phần loại này bị lên án – ví dụ trinh thám Sherlock Homes, truyện tình kiểu Cuốn theo chiều gió, và tác phẩm câu khách của Erich Segal, Arthur Hiller và Sidney Sheldon. Thế nhưng toàn bộ các truyện này nay được xuất bản và bán rộng rãi. Cùng lúc đó, chính quyền nới lỏng hạn chế đối với việc xuất bản văn học nước ngoài, và nhiều nhà xuất bản, đặc biệt ở các tỉnh, hăng hái nhảy vào khu vực lãi to này. Một số tổ chức nhà nước thậm chí sử dụng đặc quyền chính trị và khả năng tiếp cận thông tin nước ngoài để kiếm lời từ việc dịch văn học phổ thông. Ví dụ, vào cuối thập niên 1970 và đầu 1980, một nhà xuất bản thuộc Bộ Công an bắt đầu xuất bản các tiểu thuyết trinh thám, điệp báo, hồi kí chính trị, và thậm chí một số sách gợi tình, lấy cớ là họ đang giúp nhân dân duy trì cảnh giác với kẻ thù.
Các loại sách này trở nên ăn khách, có một số nhan đề bán được hàng triệu bản. Theo một nghiên cứu năm 1993 về thị trường sách ăn khách tại Đại lục, cơn sốt văn học phổ thông nước ngoài bắt đầu từ 1985 và đạt đỉnh điểm từ 1987 đến 1989. Trong vài tháng từ cuối 1987 đến đầu 1988, hơn 80 tiểu thuyết nước ngoài được dịch với số bản in trung bình là 115.600 và giá trung bình là 2,81 Nhân dân tệ. Con số này càng ấn tượng hơn nếu ta biết rằng giá sách trung bình khi đó chỉ là 0,99 Nhân dân tệ. Bìa sách bảo rằng đây là sách do các nhà xuất bản quốc doanh in; trên thực tế, đa số là sự hợp tác giữa các nhà xuất bản quốc doanh và người làm sách tư nhân (đóng vai trò chính).
Ngay từ đầu, văn học phổ thông nước ngoài được xem như hoạt động kiếm tiền. Vì thế cách làm sách cũng khác hẳn so với hoạt động in văn học nghiêm túc. Thứ nhất, cả nhà xuất bản lẫn người làm sách tư nhân đều không quan tâm việc dịch một cách có hệ thống; đa số nhan đề được in nhằm thu lãi nhanh chóng. Các nhà xuất bản, mặc dù vui vẻ kiếm tiền từ các sách này, nhưng không xem trọng chúng như các tác phẩm nghiên cứu hoặc văn học khác, và không xem đây là tập trung chính của họ. Họ thường phó mặc việc dịch cho giới tư nhân, những người thuê sinh viên và các dịch giả kém trình độ khác. Kết quả là chất lượng sách không đồng đều. Thứ ba, việc in ấn và phát hành cũng thực hiện theo kiểu rẻ tiền, vì đa số các tựa sách được bán trên đường phố và trong nhà sách tư, mà vào thời điểm này còn thô sơ. Thứ tư, quanh việc chọn sách, một phần lớn các tựa sách thuộc dạng văn chương thấp nhất, tập trung vào bạo lực, tội ác và sex. Ngoài ra, cũng vì có sự tiếp cận hạn chế với văn chương nước ngoài, nhiều người làm sách và nhà xuất bản sẵn sàng chọn bất kì tựa sách nào họ có trong tay, bất kể chất lượng. Một số có khi còn chọn các cuốn sách do người nước ngoài bỏ lại trong khách sạn. Với quá trình lựa chọn như thế, người đọc nghiễm nhiên có ấn tượng hẹp về xã hội phương Tây, coi đó là thừa mứa vật chất nhưng tha hoá về tinh thần. Và cuối cùng, vấn đề bản quyền thường bị bỏ qua.
Trong thập niên 1990, có nhiều thay đổi trong cách thức dịch các tác phẩm nước ngoài – cả nghiêm túc lẫn phổ thông. Những thay đổi này dẫn đến việc là hai thái cực này trở nên có nhiều điểm tương đồng. Cải tổ trong khu vực xuất bản quốc doanh – đặc biệt là việc giảm trợ cấp của nhà nước – đã khiến các nhà xuất bản thấy họ cần kiếm tiền ngay cả từ những cuốn sách văn học thuần tuý. Kết quả là nhiều nhà xuất bản và tạp chí bắt đầu tiếp thị, trình bày đẹp, và quảng bá văn học nghiêm túc với những kỹ thuật học hỏi từ thị trường sách ăn khách. Đồng thời, chất lượng văn học phổ thông cũng cải thiện do những người làm sách tư nhân trở nên chuyên nghiệp và học thức hơn. Thay vì ngẫu nhiên tóm các tựa sách phổ thông, thì nay họ để ý nhiều hơn đến thị trường sách nước ngoài. Càng lúc họ càng chọn dịch các tác phẩm đã chứng tỏ giá trị ở các nước khác.
Để cung cấp một bức tranh rõ nét hơn về những thay đổi diễn ra trên thị trường sách dịch từ đầu thập niên 1980 đến giữa 1990, trong phần tiếp theo, tôi giới thiệu một trường hợp: tạp chí Yilin (Dịch Lâm). Trong thập niên 1980 và 1990, tạp chí văn học ở tỉnh này đã có danh tiếng là giúp giới thiệu và quảng bá văn học hiện đại nước ngoài. Năm 1988, tạp chí tập hợp tài sản đáng kể của mình – một bộ các tác phẩm đã dịch – để thành lập một nhà xuất bản lấy tên Yilin, chủ yếu in văn học nước ngoài. Việc xem xét cách thức và sản phẩm của tạp chí và nhà xuất bản này sẽ giúp nêu bật nhiều tính chất của thị trường văn học nước ngoài lúc ấy đang phát triển ở Trung Quốc: các nhà xuất bản lựa chọn nhiều dạng sách hơn, đặc biệt là sách ăn khách; nhiều nhà xuất bản, đặc biệt ở tỉnh, bắt đầu tiến vào thị trường văn học nước ngoài; và quan trọng nhất, các tiêu chí nghệ thuật và chính trị bắt đầu nhường chỗ cho động cơ lợi nhuận trong vấn đề chọn dịch và quảng bá sách.
2. Hiện tượng Yilin
Yilin được thành lập năm 1979 với tư cách một tạp chí văn học ba tháng một kỳ, trực thuộc nhà xuất bản nhân dân Giang Tô. Việc thành lập tạp chí, với mục đích tập trung cho văn học hiện đại nước ngoài, trùng với chính sách “trăm nhà đua tiếng” trong lĩnh vực văn hoá của chính phủ. Cùng thời điểm này, nhiều tạp chí văn học khác cũng được thành lập hoặc phục hồi trở lại. Nhưng nếu chúng ta nhớ rằng trước đó văn học nước ngoài vẫn là một lĩnh vực đặc quyền với vài nhà xuất bản, thì ta thấy thật đặc biệt khi một nhà xuất bản bình thường ở tỉnh lại cấp giấy phép cho một tạp chí văn học dịch. Năm 1979, chỉ có thêm hai tạp chí khác chuyên về văn học nước ngoài: Văn học thế giới, thành lập năm 1953 và mới được phục hồi, trực thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, và Văn nghệ nước ngoài, thành lập năm 1978, thuộc Nhà xuất bản ngoại văn Thượng Hải, và tập trung nhiều hơn vào thị trường miền nam. Tuy nhiên, hai tạp chí này có xu hướng giáo khoa và chọn lọc hơn trong việc dịch văn học nước ngoài.
Yilin là sự báo hiệu cho xu hướng phổ thông hoá trong việc xuất bản sách ngoại văn ở Trung Quốc. Đây là kết quả của một sự thay đổi thái độ cố ý được nhà xuất bản khuyến khích. Vào cuối thập niên 1970, nhà xuất bản nhân dân Giang Tô đã thành công trong việc xuất bản văn học nước ngoài, đặc biệt là các tác phẩm hiện đại thu hút nhiều người đọc. Trong lĩnh vực này, Giang Tô, cùng nhiều nhà xuất bản cấp tỉnh khác, bắt đầu thách thức sự độc bá của Nhà xuất bản văn học nhân dân ở Bắc Kinh.
Một phần thành công của nhà xuất bản nhân dân Giang Tô là nhờ nó đặt tại thủ phủ Nam Kinh, nơi có hai đại học với các khoa văn học nước ngoài chất lượng cao có thể cung cấp người dịch và cả nhà nghiên cứu giúp biên tập sách. Doanh thu khá trong việc in văn học nước ngoài khiến các giám đốc tin rằng họ có thể có một tạp chí văn học thành công. Họ cũng tin là điều này sẽ giúp làm tăng danh tiếng của nhà xuất bản như một trung tâm văn hoá và giúp họ kiếm tiền. Trong phần định hướng biên tập của tạp chí, các giám đốc nêu rõ tham vọng của họ: “Mở cửa sổ và nhìn ra thế giới”. Phần định hướng cũng nêu: “Yilin xuất bản các bản dịch phản ánh xã hội nước ngoài hiện đại và các tác phẩm đã ra mắt trong năm năm trở lại”. Tuyên ngôn chào mừng văn học nước ngoài này, mặc dù đã thành bình thường ngày hôm nay, lại rất táo bạo vào lúc ấy. Vì thế không ngạc nhiên khi ngay tức khắc Yilin gặp rắc rối trong vụ Cái chết trên sông Nile.
Trong số ra mắt năm 1979, Yilin giới thiệu truyện Cái chết trên sông Nile của Agatha Christie. Đây là một chiến lược khéo léo vì lúc đó bộ phim dựa trên tác phẩm này đang chiếu trên toàn Trung Quốc và hàng triệu khán giả bị cốt truyện mê hoặc. 200.000 bản in của số tạp chí đầu tiên đã bán hết sạch; họ in thêm 200.000 bản khác nhưng vẫn chưa đủ đáp ứng. Trên thị trường chợ đen, mỗi số tạp chí được bán với giá 2 Nhân dân tệ – gần gấp đôi giá chính thức là 1,2 Nhân dân tệ. Nhà xuất bản nhân dân Giang Tô ăn theo với việc in tác phẩm dưới dạng sách, với số bản in là 400.000.
Yilin thu hút sự chú ý của quần chúng nhờ Cái chết trên sông Nile. Nhưng thành công này lại tạo ra tranh cãi trong các nhà nghiên cứu và dịch thuật. Ngạc nhiên là chính giới trí thức, chứ không phải chính phủ, là những người đầu tiên chỉ trích tạp chí. Vào đầu năm 1980, Feng Zhi, một nhà thơ và là dịch giả nổi tiếng về văn học Đức của Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc, viết thư cho Hu Qiaomu, khi đó đứng đầu Ban Tuyên huấn. Lá thư phê phán Yilin đã xuất bản các tác phẩm “suy đồi” như Cái chết trên sông Nile chỉ để thoả mãn “thị hiếu thấp” của độc giả và để kiếm tiền. Ông này thậm chí tuyên bố: “Lĩnh vực xuất bản chưa bao giờ suy thoái như vậy kể từ phong trào Ngũ Tứ 1919”. Lời phê phán như thế từ một trí thức nổi tiếng đủ để giết đa số các nhà xuất bản, và mọi người trong lĩnh vực dịch văn học xem đây là trường hợp thử thách chính sách mới của chính phủ về dịch và xuất bản văn học nước ngoài. Tuy nhiên, Cục xuất bản của tỉnh Giang Tô đã ủng hộ Yilin, và Yilin cũng khéo léo dùng báo chí để tuyên truyền cho họ. Sự chú ý của truyền thông, cùng với sự ủng hộ rộng rãi dành cho Yilin, khiến lãnh đạo phải tỏ ra thận trọng trong việc này. Tại Hội nghị các tạp chí văn học vào tháng Năm 1980, Wang Renzhong, hiện đứng đầu Ban Tuyên huấn, nói rằng Yilin đã tuân thủ các nguyên tắc của chính sách mở cửa của chính phủ và rằng Cái chết trên sông Nile không có nội dụng độc hại. Vì thế, ông nói, theo sau đề nghị của Đảng uỷ tỉnh Giang Tô, Yilin được cho phép tiếp tục phát hành, mặc dù tạp chí phải tránh các nội dung nguy hiểm trong tương lai.
Phản ứng quá khích của nhà thơ Feng Zhi đối với truyện của Agatha Christie được xã hội tiếp nhận nghiêm túc đến mức nó trở thành sự kiện quốc gia; tuy nhiên, quyết định chung cuộc đã cho thấy thái độ chính thống đối với văn học nước ngoài bắt đầu thay đổi. Trong một thập niên sau đó, người ta dễ dàng hơn khi xuất bản văn học nước ngoài mà không có sự can thiệp của chính quyền, ngoại trừ trong một số trường hợp. Yilin tồn tại, và trong thập niên 1980, nó hoạt động khá thoải mái trong thị trường văn học dịch. Tạp chí theo dõi sát các sách ăn khách ở phương Tây, đặc biệt ở Bắc Mỹ, và nhanh chóng thuê người dịch. Các nhà văn Mỹ như Sidney Sheldon, Robin Cook, Michael Crichton, John Grisham, và Mario Puzo đều trở thành tên tuổi quen thuộc ở Trung Quốc nhờ nỗ lực của Yilin.
Thành công của Yilin không hẳn phụ thuộc vào chất lượng văn chương của tác phẩm họ chọn, cũng như không phụ thuộc vào chất lượng bản dịch (thường không có gì xuất sắc); thành công của họ chủ yếu nhờ vào khả năng đánh giá xem quần chúng đang quan tâm điều gì. Các nhà xuất bản trong cùng khu vực này chưa có kỹ năng ấy. Ví dụ, Yilin quảng cáo mình là nơi xuất bản các truyện phương Tây mới nhất về cuộc sống đương đại – điều này hấp dẫn người đọc trong một xã hội mà cho đến gần đây còn khép cửa. Và vì Yilin là một tạp chí, họ cũng linh động hơn nhà xuất bản và vì thế thu hồi vốn cũng nhanh hơn. Điều này cho phép họ nhanh chóng cung cấp cho thị trường các tác phẩm mới nhất. Tạp chí thường xuyên in các bản dịch gần như ngay sau khi tác phẩm gốc ra mắt – ví dụ The Evening News của Arthur Hailey (1990) và The Pelican Brief của John Grisham (1992). Yilin cũng nhanh nhạy tận dụng sự yêu thích của người Trung Quốc đối với phim ảnh nước ngoài. Trong năm số đầu tiên, in năm 1979 và 1980, bốn tiểu thuyết được giới thiệu trước đó đều đã có phim chiếu tại Trung Quốc.
Yilin thành công đến mức nhà xuất bản nhân dân Giang Tô cũng lấy lại các bản dịch của tạp chí để in thành sách. Để chính thức hoá xu hướng này, năm 1988, ban ngoại văn của nhà xuất bản và ban biên tập của Yilin hợp lại để thành lập nhà xuất bản Yilin. Đây là nhà xuất bản đầu tiên ở một tỉnh chuyên về văn học nước ngoài; đây cũng là nhà xuất bản đầu tiên cạnh tranh với hai nhà xuất bản cấp quốc gia ở Bắc Kinh và Thượng Hải.
[1]Có lẽ câu này ám chỉ các tác phẩm ca ngợi hoặc mô tả cuộc sống của những người cùng khổ dưới chế độ cũ, nhưng được viết ở Liên Xô thời 1920, 1930, như những truyện của Gorky, Nikolai Ostrovsky (ND).