trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
6.2.2002
Dũng Vũ
Dịch thuật, một vấn nạn ngôn ngữ
Trả lời anh Trịnh Hữu Tuệ
 

Kính thưa anh Trịnh Hữu Tuệ cùng các anh chị,



trong thời gian qua tôi hơi bận, nay được rảnh rỗi đôi chút, tôi xin phép trả lời những điểm anh Trịnh Hữu Tuệ đưa ra trong bài “Lại vấn nạn – Với anh Dũng Vũ” của anh. Mong các anh chị góp ý chỉ giáo thêm cho. Thành thực cảm ơn.


Kính,


Dũng Vũ


_________________________________________________________

1. Về cô gái đẹp



Trịnh Hữu Tuệ:

1.1. Theo như tôi hiểu anh Dũng Vũ nói, cô gái là phần tử gốc, đẹp là hàm số, cô gái đẹp là phần tử ảnh. Câu hỏi là: tại sao nhất thiết phải như vậy? Ta biết rằng trong logic không phải như vậy, ta cũng biết rằng có những ngôn ngữ không phân chia danh từ và tính từ.

Dũng Vũ: Trong logic học cũng vậy. Trong đại số, người ta xem ”đẹp” là một hàm số f, còn trong logic (predicate logic) là vị ngữ (predicate) P, (có người còn gọi là vị từ 1] ), “cô gái” là biến số x. Tổng quát: $x P(x). Anh có thể kiểm chứng lại trong bất kỳ cuốn sách logic nào nói về logic vị ngữ (predicate logic) (xem thử 2] ).



Trịnh Hữu Tuệ:

1.2. Việc anh Dũng Vũ vẽ tập hợp phần tử gốc trước, hàm số sau cho sinh viên dễ hiểu chẳng có nghĩa gì cả. Từ đó không thể suy ra là phần tử gốc phải “có trước” hàm số theo một nghĩa nào đấy. Cũng như không thể nói là trong phép  x ´ 2, x có trước ´ 2, hay là phải “bắt đầu từ” x. Thậm chí cho sinh viên dễ hiểu, tôi hoàn toàn có thể nói là “có một hàm f, áp dụng hàm này lên a, ta có x.”

Dũng Vũ: Tôi xin lặp lại một lần nữa là ý tôi chỉ muốn nói đến cái trình tự phải có phần tử gốc thì mới có phần tử ảnh, (phần tử ảnh là kết quả của quá trình đề diễn) chứ không nói đến sự hiện hữu của biến số và hàm số, những phần tử tồn tại độc lập trong tập hợp vũ trụ.



Nói chung, anh Tuệ có thể suy nghĩ như anh muốn. Nhưng tôi dám chắc là dân toán học sẽ không suy nghĩ khác như tôi. Trên thực tế, dân ngôn ngữ học (chuyên nghiệp) là dân hiểu biết nhiều về toán và thậm chí là dân toán. Chỉ cần nói sơ là họ đã hiểu. Vì muốn anh hiểu về khía cạnh đề diễn, tôi đã cố gắng trình bày chi tiết, song anh vẫn không hiểu ý tôi, thì đành chịu.



Trịnh Hữu Tuệ:

1.3. Anh Dũng Vũ nói đến trình tự nhận thức. Tôi nghĩ rằng việc nhận thức cái gì trước, cái gì sau là tùy vào chủ thể, hoàn cảnh và đối tượng nhận thức, chứ không có một trình tự cụ thể nào cả. Ðồng ý với anh Dũng Vũ về ví dụ quyển sách hay. Nhưng quyển sách dày thì sao? Phải nhìn và biết đó là quyển sách rồi mới biết nó dày chăng? Ðồng ý là trong những hoàn cảnh nhất định, và đối với một số người nhất định, “phải thấy một cô gái đã (tức nhận diện được) rồi… mới xem có đẹp hay không“. Nhưng cô gái ấy cao hay lùn, tóc ngắn hay tóc dài thì không nhất thiết phải theo trình tự như anh Dũng Vũ nói, thậm chí có thể ngược lại.

Dũng Vũ: Anh chẳng cần phải đồng ý với tôi ở một trường hợp nào đó. Như đã nói tổng quát ở trên, trong logic, người ta xem mọi tính chất (”đẹp”, ”dày”, ”cao ”, ”lùn”, ”tóc dài”, ”tóc ngắn”) đều là thuộc tính P của đối tượng x. Ðơn giản là vậy. Còn nếu muốn đi sâu vào toán/logic học, tôi cũng có thể tranh luận với anh.



Trịnh Hữu Tuệ:

2. Về cấu trúc chìm và cấu trúc bề mặt, anh Dũng Vũ không đưa ra câu trả lời nào, lý do là “không muốn mất thì giờ cãi cọ“, nên tôi cũng chỉ nhắc lại được là anh đã nhầm.



Còn tại sao anh nói “chuyện cãi cọ bên trên không có mẫu số chung“ thì tôi không hiểu. Chúng ta đều đang “cãi cọ“ về một thứ rất cụ thể, đó là khái niệm cấu trúc chìm (deep structure) của Chomsky. Anh nói thêm, “…tôi tôn trọng ý kiến của từng người, song tôi cũng xin được phép có quan điểm riêng của mình. Cụ thể, tôi xin nhận xét một cách khiêm tốn rằng, “ngữ pháp tạo sinh” của Chomsky không thích hợp cho việc giải thích tiếng Việt…“ Nhưng có ai phản đối quan niệm này đâu. Ngữ pháp tạo sinh chưa chắc đã thích hợp cho việc giải thích tiếng Anh. Tôi chỉ nói rằng anh Dũng Vũ hiểu sai khái niệm cấu trúc chìm của Chomsky.

Dũng Vũ: Một chuyện chưa bàn mà anh đã cho người ta nhầm thì quả là hơi hài hước. Song có lẽ một phần cũng là do lỗi của tôi, vì trình bày không được rõ (mỗi lần đọc thư anh, tôi đều nghe anh nói, anh không hiểu ý tôi).



Trong thư trước, anh bảo cấu trúc sâu và cấu trúc bề mặt của “cô gái đẹp” không khác nhau. Khi trả lời, tôi đã không phản bác, còn không tôi đã lên tiếng. Có lẽ anh đã hiểu nhầm tôi vì ví dụ này. Xin thưa rằng, tôi chỉ dùng ví dụ này để nói đến tính đề diễn trong tiếng Việt chứ không có ý dùng nó như một ví dụ tiêu biểu để nói về cấu trúc sâu/cấu trúc bề mặt. Vả lại tôi cũng đã không muốn bàn sâu vào cấu trúc sâu/cấu trúc bề mặt hoặc nói chung là ngôn ngữ học vì lý do thay vì nói về vấn nạn dịch, ta đã đi lạc vào thế giới lý thuyết ngôn ngữ học mất rồi; chắc gì đa số độc giả đã quan tâm hoặc hiểu. Tôi suy nghĩ thực tế thế. Anh thử xem, quanh đi quẩn lại chỉ có anh và tôi, chứ không đã có người lên tiếng. Do anh hỏi, tôi mới trả lời. Nói chung, tôi chỉ muốn viết sơ. Ai quan tâm, có thể tự tìm hiểu sâu thêm. Tôi có dẫn chỉ tài liệu tham khảo.



Nay, để tránh hiểu nhầm, tôi xin được phép trình bày sơ về thắc mắc của anh thế này.



Ta biết, con người sử dụng ngôn ngữ tự nhiên nhằm diễn đạt một ý nghĩa gì đó. Cấu trúc của câu cú lúc nói ra được coi là cấu trúc bề mặt. Nhiều khi cấu trúc này không giống cấu trúc sâu, tức cái cấu trúc định ngữ nghĩa thực. Ví dụ:



Tôi muốn đi chơi

Tôi muốn cắt tóc



Hai câu có cấu trúc bề mặt (chủ-vị [subject-predicate]) giống hệt nhau, song cấu trúc sâu lại khác. Một mặt, trong câu (1) “tôi” thực sự làm chủ ngữ cho vị ngữ “muốn đi chơi”. Mặt khác, trong câu (2), người Việt hiểu là “tôi muốn ai đó cắt tóc cho tôi”.“Tôi” không gây ra hành động cắt tóc mà là ai đó. Ở đây, mệnh đề lồng (embedded clause) “ai đó cắt tóc cho tôi” giữ chức năng bổ nghĩa cho cả mệnh đề chính.



Ðó là một ví dụ tiếng Việt. Muốn xem thêm ví dụ tiếng Anh, theo tôi nghĩ, để Chomsky giải thích 3] là tốt nhất (xin miễn chép lại). Còn về chuyện nói ngược so với tiếng Việt, ta thấy có hiện tượng như tính từ đặt trước danh từ. Cái này thì chẳng ăn nhập gì đến cấu trúc sâu/bề mặt cả (có thể anh Tuệ hiểu nhầm tôi vì trình bày không rõ). Có liên quan chăng là ở trường hợp khác, ví dụ trường hợp câu hỏi trong các ngôn ngữ nghịch đảo (inversion language). Người ta giải thích nó bằng cách chuyển vị-wh (wh-movement). Hoặc nói chung là chuyển vị a (a -movement).



Trịnh Hữu Tuệ:

3. Về tính tịnh tiến của tiếng Việt, có hai câu hỏi:

3.1. Tôi biết chắc rằng bởi ai bị phạt bố tôi không phải một câu tiếng Việt. Còn câu bố tôi bị phạt bởi ai có phải tiếng Việt không thì tôi cũng chưa chắc. Anh có chắc không?

Dũng Vũ: Sống trong Nam, tôi chưa bao giờ nghe ai hỏi kiểu “bố tôi bị phạt bởi ai ” bao giờ. Trong trường hợp này người ta sẽ hỏi “bố tôi bị ai phạt”. Thú thực, tôi xa nhà đã mấy chục năm, không biết giờ bên ấy, người Việt có thay đổi cách nói không. Cái này chắc phải nhờ độc giả kiểm chứng giùm.



Trịnh Hữu Tuệ:

3.2. Câu tại sao anh yêu em có phải tiếng Việt không?

Dũng Vũ: Cũng giống câu hỏi trên của anh, câu hỏi này không dễ trả lời. Bởi người ta có thể bắt bẻ rằng, muốn trả lời chính xác thì cần phải có dữ liệu chính xác. Cái này đối với Việt Nam có lẽ khó (chắc phải cần đến ngôn ngữ học khảo cổ). Nội ba chữ “thì”, “là”, “mà”, ta còn không biết đã có tự bao giờ, sách vở nào ghi lại. Người Việt chỉ biết những chữ này Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương dùng rất nhiều (thế kỷ 18). Hoặc cả cấu trúc đề diễn: “Ðất lành chim đậu”, “Ở hiền gặp lành”, “Cha nào con nấy”, v.v..



Không có sách vở chứng minh được nguồn gốc của cấu trúc nguyên chất tiếng Việt, tất nhiên người Việt chỉ còn cách là tin vào cách hành ngôn bình thường xưa nay. Tôi cũng vậy thôi. Khi cho một trường hợp mà người Việt không nói vậy, tôi chỉ có thể dựa lên thẩm năng ngôn ngữ của mình, một thẩm năng mà thiết nghĩ mỗi người Việt chúng ta đều có được từ cộng đồng ngôn ngữ Việt. Thay vì hỏi như anh “Câu tại sao anh yêu em có phải tiếng Việt không“, anh có cảm thấy người Việt còn có thể hành ngôn như sau không:



Cớ sao anh (lại) yêu em?

Sao anh (lại) yêu em?

Vì sao anh (lại) yêu em?

Vì đâu anh (lại) yêu em?

Sao lại yêu tôi?

Yêu tôi làm quái gì?

Ai bảo yêu tôi?


Xin được phép hỏi anh Tuệ, nếu có cô nào đấy yêu anh hay ngược lại, anh sẽ đặt câu hỏi thế nào cho đúng ý anh và phải là câu tiếng Việt chứ không đơn thuần như người Anh, người Ðức hỏi:





Why do you love me?

Warum liebst Du mich?



Trịnh Hữu Tuệ:

4. Anh Dũng Vũ viết:

“…nếu (và chỉ nếu) anh tin tuyệt đối rằng thuyết X-bar có thể giải thích được tiếng Việt, xin anh hãy giúp tôi giải thích vài ví dụ:



“Ăn cơm đi chứ hả”

“Anh chưa ăn đâu”

…“



4.1 Ta có thể vẽ X-bar-Schema cho “ăn cơm đi chứ hả” như sau:

4.2. Mỗi sơ đồ X-bar là một biểu thị trừu tượng cho một thực thể tâm lý. Nó mang tính giả định và cần được kiểm chứng bằng thực nghiệm. Anh Dũng Vũ cứ yên trí là kiểu gì ta cũng vẽ được X-bar cho bất kỳ câu nào, vì đòi hỏi duy nhất của X-bar là X-Phrase phải có một X, và X có thể là những đơn vị trừu tượng như Inf, T, Q, IOAgr, Neg, c, v …Tôi tin là có lý do để coi câu ăn cơm đi chứ hả như một hình chiếu (maximal projection) của một hình vị mệnh lệnh thức (imperative morpheme), nói cách khác là một ImpP. Còn giả định này có đúng không thì tôi không thể biết được. Chomsky và học trò ông mất 30 năm mới nghĩ ra X-bar cho tiếng Anh, mà cũng chưa biết là có đúng không. Tôi là một sinh viên.



Còn chuyện tin tuyệt đối vào X-bar thì tất nhiên là không rồi. Tôi chưa đủ hiểu biết/ không hiểu biết để tin tuyệt đối một cái gì cả. Ðiều đó không ngăn cản tôi bàn về X-bar.

Dũng Vũ: Sở dĩ tôi nhờ anh dùng X-bar giải thích giùm vài câu tiếng Việt là để xem anh nghĩ thế nào về thuyết này. Những ví dụ (xin ghi lại dưới đây) thực ra mới chỉ là một số rất ít trong vô vàn cách nói của người Việt. Mỗi cách có một cấu trúc riêng:



Ăn cơm đi chứ hả.

Anh chưa ăn đâu.

Ðói thấy mụ nội mà chưa ăn à.

Lạng quạng là ăn đòn đó nhá.

Bức tranh treo ở trên tường.

Ê! Quần áo đang bán son kìa. Ði mua đi.

Bà Ba mới mua cái nhà mà đã bán mất tiêu.

Bà Ba mới mua cái nhà mà đã cháy mất tiêu.



Anh cho câu “Ăn cơm đi chứ hả” là một câu mệnh lệnh, nói chính xác theo anh là một mệnh lệnh ngữ (Imperative Phrase). Tôi hoàn toàn đồng ý với anh, câu này chứa tinh thần mệnh lệnh và còn có vẻ là câu hỏi. Thử nhận xét:



“Ăn”. Ðây là câu mệnh lệnh. (Tiếng Việt nói được)

“Ăn cơm”. (Câu mệnh lệnh)

“Ăn cơm đi”. (Mệnh lệnh)



Tất cả các câu mệnh lệnh trên đều có thể thỏa cây cú pháp X-bar của anh:

Trong tiếng Ðức, người ta cũng thường hay thúc giục: “Iß” (Ăn đi). Câu chỉ đơn giản vậy chứ không có chất câu hỏi. Còn trong tiếng Việt, câu có tinh thần thúc giục còn có thể pha thêm tinh thần câu hỏi.



“Ăn cơm đi chứ”. (Mệnh lệnh và có vẻ hỏi)

“Ăn cơm đi chứ hả”. (Mệnh lệnh và có vẻ hỏi nhiều hơn)



Tôi có thể giải thích một câu tiếng Anh vừa chứa mệnh đề có tính xác định, vừa chứa mệnh đề có tính nghi vấn một cách dễ dàng:



The sons looked for the treasure but had their father died?

Hoặc trong tiếng Ðức:



Câu xác định:



Sie essen die Äpfel.

(Họ ăn táo).



Câu hỏi:



Essen sie die Äpfel?

Thế nhưng đối với tiếng Việt, theo anh Tuệ, thuyết X-bar có thể tạo điều kiện cho chúng ta giải thích được cấu câu thúc giục (có tính xác định) pha lẫn câu hỏi tương đương như câu hỏi có/không (yes/no question) của tiếng Anh/Ðức bên trên không ? Ta phải đặt [+Q] ở đâu trong cây cú pháp của anh? Tác tử bổ ngữ hóa C (complementizer) nằm đâu?

Giả sử như anh Tuệ muốn giải thích cho một người không biết gì, hoặc cần phải thật hiển ngôn để lập trình được, chẳng hạn như chế một hệ nhận diện ngôn ngữ (language recognizing system) thô sơ nhất chứa những đơn vị phân tích như sau:

Sau khi phân tích cú pháp câu “Ăn cơm đi chứ hả” thấy đúng, kế đó ta chuyển câu sang khâu phân tích ngữ nghĩa. Thế nhưng phải thông báo thế nào? Ðây là một câu mệnh lệnh hay là một câu hỏi? Theo kinh nghiệm của tôi, máy sẽ ngừng tại đó.



Tôi tin rằng, bất cứ ai nghiên cứu về tiếng Việt đều phải nhận ra một điểm, cấu trúc câu tiếng Việt thường khác cấu trúc câu của các ngôn ngữ Âu châu ở chỗ, câu tiếng Việt thường bị phụ từ hoặc những cái gọi là hư tự (theo Phan Khôi 4]) ảnh hưởng. Người Anh, người Ðức có thể nói một câu tình tứ sau đây một cách tự nhiên mà không cần thêm bớt:



I love you.

Ich liebe Dich.



Cấu trúc của chúng khá đơn giản:



S ® NP VP

VP ® V NP

NP ® N

V ® “love” | “liebe”

N ® “I” | “Ich” | “you” | “Dich”

(|: phép OR trong logic)

Trong khi đó trên thực tế, người Việt không nói:



Anh yêu em.



mà thường chêm thêm phụ từ vào, ví dụ như “lắm”.



Anh yêu em lắm.



Ðó là câu xác định. Có trường hợp, một phụ từ/ngữ có thể biến câu xác định thành câu hỏi, ví dụ với từ “nhé”, ta có một câu mệnh lệnh pha lẫn câu hỏi (dù cấu trúc câu này giống hệt câu trên):



Anh ăn cơm nhé.



hoặc:



Ăn cơm nhé.



Thế nhưng nếu chêm thêm một trạng từ vào (ví dụ “ngon”), tính chất câu hỏi sẽ biến mất ngay, dù “nhé” vẫn nằm đó:



Anh ăn cơm ngon nhé.

Ăn cơm ngon nhé.



Thuyết X-bar có thể giải thích được hiện tượng này không? Ngoài ra còn có những trường hợp khác. Ví dụ gặp câu “Lạng quạng là ăn đòn đó nhá”, ta giải thích thế nào đây, xin anh Tuệ trình bày cho độc giả nghe chơi (bằng lý thuyết X-bar hoặc bằng các lý thuyết Tây phương nào cũng được). Giải thích bằng cấu trúc câu cơ bản sau đây (như đã ví dụ bên trên) được không:



S ® NP VP

(Vắn tắt: NP ® “Lạng quạng“ [chủ ngữ] ; VP ® “là ăn đòn đó nhá” [vị ngữ])



Chắc chắn là không.



Hoặc “Bức tranh treo ở trên tường” có cấu trúc sâu mà người Việt hiểu là do người ta treo lên chứ không phải tự nó treo lên. (“Bức tranh” không phải là chủ ngữ logic của động từ “treo” mà là ai đó, một chủ ngữ logic không có mặt trong câu). Trên lý thuyết, thuyết X-bar có thể diễn tả được ý nghĩa này, vì ta có thể vịn cớ rằng, xét về phạm trù từ vựng (lexical category), “bức tranh” không phải là người, nên không làm chủ ngữ logic được. Vai trò theta chủ động ở đây là ai đó mang tính người, ví dụ “người ta” ([+ Mensch]). Thế nhưng câu “Bức tranh nằm ở trên bàn” cũng có cấu trúc y thế, thuyết X-bar phải giải thích sao đây? Trong trường hợp này bức tranh” có phải là chủ ngữ logic không? Khi nào quy tắc X-bar phân biệt được “bức tranh” là chủ ngữ logic, khi nào không? Do đó mà tôi không tin các thuyết ngôn ngữ Tây phương có thể diễn tả được tính cảm đề của tiếng Việt một cách hoàn hảo và dễ dàng (như tôi đã nói trong thư trước).



Anh bảo: “Anh Dũng Vũ cứ yên trí là kiểu gì ta cũng vẽ được X-bar cho bất kỳ câu nào, vì đòi hỏi duy nhất của X-bar là X-Phrase phải có một X, và X có thể là những đơn vị trừu tượng như Inf, T, Q, IOAgr, Neg, c, v”. Tôi muốn để tự tay anh phân tích và nhận diện vấn đề. Ta nên nhớ, cú pháp học là một khoa học nhận thức (conigtive science). Mục đích của nó là phải giải thích được ngôn ngữ tự nhiên một cách hiển ngôn mà người thường không làm được. Ðã gọi là hiển ngôn thì không thể giả định.



Trịnh Hữu Tuệ:

5. Có lẽ khi dùng khái niệm “người nói-nghe lý tưởng” (ideal speaker-listener), anh Dũng Vũ muốn nói “người nói tiếng mẹ đẻ” (native speaker). Còn tại sao anh nói “chuyện “người nói/nghe lý tưởng” như Chomsky quan niệm là chuyện của ông ấy” thì tôi cũng không hiểu. Tất nhiên là chuyện của “ông ấy” rồi, chứ chuyện của anh hay tôi thì…

Dũng Vũ: Khái niệm “người nói-nghe lý tưởng” là tôi mượn của Chomsky. Ðiều kiện đòi hỏi người ấy đại để là phải thành thạo ngôn ngữ trong một cộng đồng tiếng nói đồng chất. “Người nói tiếng mẹ đẻ” cũng có thể là người nói/nghe lý tưởng. Người Việt sống lâu ở Mỹ, nhuần nhuyễn tiếng Mỹ như người Mỹ cũng được coi là người nói/nghe lý tưởng (tiếng Mỹ). Một hình ảnh ngược lại là người Hoa Chợ Lớn, dù sinh trưởng ở Việt Nam, sống giữa cộng đồng tiếng Việt, nhưng chưa chắc đã thông thạo tiếng Việt. Nhiều người nói không được tự nhiên là người Việt sẽ nhận ra ngay (ngày xưa nhà tôi ở Chợ Lớn, tôi thường thấy vậy). Trường hợp này không được kể là người nói/nghe lý tưởng.



Bởi trong thư trước, anh Tuệ nói “Có thể thấy là ‘người nói/nghe lý tưởng’ là một khái niệm khoa học trừu tượng. Chỉ riêng a completely homogenous speech-community đã là một điều kiện không tồn tại trong thế giới bên ngoài rồi”, cho nên tôi mới nói “người nói/nghe lý tưởng” như Chomsky quan niệm là chuyện của ông ấy. Cái mà ông gọi “ideal” tất nhiên phải lý tưởng (một cách chủ quan). Ai mà không muốn cơ sở lý thuyết của mình phải vững vàng, hiển ngôn. Muốn vậy, phải đặt điều kiện. Càng lý tưởng, càng ít lỗ hổng càng tốt.



Còn việc anh bảo “chuyện cãi cọ bên trên không có mẫu số chung“, anh không hiểu, thì tôi xin thưa là ý tôi chỉ muốn nói sự bất đồng ý kiến trong giới ngôn ngữ học. Mỗi người có một quan điểm khác nhau, Chomsky thế này, Bresnan, Halliday thế khác. Người ta có thể tranh cãi đến kiếp sau, nhưng vẫn không thể “gặp nhau” vì hai hệ tư tưởng khác nhau.



Trịnh Hữu Tuệ:

6. Câu chính tiếng Ðức (Deutscher Hauptsatz) = CP. Ðây là kiến thức cơ bản, thậm chí hơi lỗi thời, chẳng có gì phức tạp cả. Còn “học hỏi để tiến bộ luôn là điều tốt và cần thiết“ thì tôi cũng đồng ý với anh.



7. Anh Dũng Vũ viết:



“Như ta thấy, ca dao, tục ngữ, thơ, … Việt Nam thường sai ngữ pháp, hầu hết đều là do tỉnh lược. Ví dụ:



“Thằng Bờm có cái quạt mo.

Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu”



Câu trước đúng, qua câu sau là sai ngay…“



7.1. Ca dao, tục ngữ sai ngữ pháp? Hay chúng có ngữ pháp riêng mà ta không biết?

7.2. Logic của anh Dũng Vũ là “do tỉnh lược nên sai ngữ pháp”, tức là trong tiếng Việt không được phép có tỉnh lược chăng?



Không phải chỉ ở đây, mà còn nhiều chỗ khác nữa, logic của anh Dũng Vũ rất “loạn chiêu“.

Dũng Vũ: Thưa anh Tuệ. Chắc anh cũng công nhận với tôi rằng, muốn đánh giá một cái gì đúng/sai, ta cần xác định nó có giá trị cho địa hạt nào, khung lý luận nào. Khi cho “Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu” sai ngữ pháp là tôi dựa trên ngôn ngữ tự nhiên, ngôn ngữ đời thường. Thử hỏi ngoài đời có ai nói “tôi thấy ba bò”, “tôi thấy chín trâu” không, hay người ta nói “tôi thấy ba con bò”, “tôi thấy chín con trâu”? Ðiều này quá rõ đối với mọi người Việt biết nói tiếng Việt.



Ai cũng biết, thơ, ca dao, tục ngữ của ta đều sử dụng ngôn ngữ tự nhiên, cụ thể là tiếng Việt chứ không phải ngôn ngữ lập trình, hoặc ngôn ngữ của người câm điếc. Bất kể vì một lý do gì mà người hành ngôn phải lược từ trong câu đến nỗi không còn đúng như ngữ pháp tiếng Việt ngoài đời, thì tất nhiên là sai ngữ pháp đối với tiếng Việt ngoài đời chứ còn gì nữa. Quá rõ ràng (trivial).



Ðó là cái ý tôi muốn nói.



Ðâu phải các cụ ngày xưa không biết cách hành ngôn trong thơ, ca dao, tục ngữ, … có thể xa rời cách hành ngôn của ngôn ngữ tự nhiên. Biết! Nhưng khi làm thơ có luật, thì phải tuân thủ thi pháp chứ sao bây giờ. Hồ Xuân Hương phải bỏ chữ “thì” ở đoạn sau câu thơ dưới đây vì chỉ được dùng 7 chữ:



“Thân em thì trắng, phận em [thì] tròn”.

(Vịnh cái quạt – Hồ Xuân Hương)



Ðây là trường hợp khuyết (Ellipse) thường thấy trong ngôn ngữ ngoài đời. Cả trong tiếng Anh, tiếng Ðức cũng có:



Tiếng Anh: Bill won’t help me, but John will help me.

Tiếng Ðức: Die Mutter schenkt dem Sohn eine Hose und schenkt der Tochter einen Rock.

(Bà mẹ tặng đứa con trai một cái quần còn đứa con gái [thì (một)] cái váy)



Nhưng có lúc Hồ Xuân Hương không lược từ:



“Hai bên thì núi, giữa thì sông”.

(Kẽm Trống – Hồ Xuân Hương)



Người ta cho lối nói tỉnh lược này là một hình thức dụng pháp (pragmatic) chấp nhận được, ở đó, một từ nằm trong mệnh đề theo sau có thể bỏ được bởi nó đã xuất hiện trong mệnh đề phía trước. Thế nhưng lược từ như dưới đây:



“Trèo lên cây bưởi hái hoa, bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân“



câu sẽ không nói được ngay.



Anh Tuệ đặt câu hỏi: “Ca dao, tục ngữ sai ngữ pháp? Hay chúng có ngữ pháp riêng mà ta không biết?“. Thử hỏi anh, xưa nay có thứ tiếng Việt chính quy nào dành cho ca dao, tục ngữ không ? Nếu có thì mặt mũi quy tắc ngữ pháp của nó ra sao? Xin anh Tuệ chỉ giáo cho tôi và độc giả.



Mặt khác, đọc xong câu của anh: “Logic của anh Dũng Vũ là “do tỉnh lược nên sai ngữ pháp”, tức là trong tiếng Việt không được phép có tỉnh lược chăng?”, tôi thấy cách “suy ra” này của anh không được ổn lắm. (Ðúng như tôi cảm thấy, anh không phải là dân toán). Anh thử tự ngẫm nghiệm lại xem.



Trịnh Hữu Tuệ:

7. Anh Dũng Vũ viết:



“…nhiều nhà thơ/văn Việt có cách xếp đặt chữ nghĩa không được đúng lắm. Một ví dụ trong thơ là người đọc rất dễ thấy hiện tượng câu cú bị cắt xẻ, từng chữ/cụm từ bị bứt ra thành từng mảnh, thả rơi xuống chục hàng, rất loạn chiêu… Có thể giải thích, một là hoặc người viết không chịu dùng, hoặc không tin tưởng vào thẩm năng ngôn ngữ của mình, hoặc hai là do không được trang bị những kiến thức tối thiểu về ngôn ngữ học, cho nên người ta mới vô tình viết không chuẩn chứ không ai dại gì mà nghĩ rằng, thà để bài thơ mất giá trị còn hơn viết đúng ngữ pháp của cái ngôn ngữ mình đang nhờ vả để làm ra bài thơ đó…“



7.1. Anh hãy cho một ví dụ cụ thể (ngoài bài thơ con cóc mà tôi nghĩ chỉ một người “có hiểu biết một chút“ về cấu trúc thành tố mới có thể cắt sẻ được nó như anh Dũng Vũ đã làm).

7.2. Sau đây là một đoạn thơ của James Joyce, trích từ bài A Flower Given to My Daughter



Frai the white rose and frail are

Her hands that gave

Whose soul is sere and paler

Than time’s wan wave


Biết rằng “Frai the white rose and frail are” không phải một thành tố, anh Dũng Vũ có nghĩ rằng James Joyce “không chịu dùng, hoặc không tin tưởng vào thẩm năng ngôn ngữ của mình, hoặc hai là do không được trang bị những kiến thức tối thiểu về ngôn ngữ học, cho nên …mới vô tình viết không chuẩn” không?

Dũng Vũ: Câu viết nguyên thủy của tôi có hai phần: “một là hoặc người viết không chịu dùng, hoặc không tin tưởng vào thẩm năng ngôn ngữ của mình, hoặc hai là do không được trang bị những kiến thức tối thiểu về ngôn ngữ học, cho nên người ta mới vô tình viết không chuẩn …“.



Ðối với trường hợp James Joyce, tôi cho là ông ta không muốn lập câu tiếng Anh bình thường chứ chẳng phải ông ta mù chữ. Ông đã cố tình biến hóa ngôn ngữ nhằm diễn đạt tinh thần theo ý mình. So với thơ tiếng Việt, hiện tượng này không phổ biến lắm song không phải là không có. Nói thế không có nghĩa là không có những nhà thơ Việt cũng cố ý tương tự. Dĩ nhiên trong thực tế có người có khả năng biến hóa ngôn ngữ tự nhiên thành ngôn ngữ thơ một cách nghệ thuật, có người không. Tuy vậy, dù có hay không, ngôn ngữ tự nhiên vẫn là ngôn ngữ cộng đồng, còn ngôn ngữ thơ chỉ là ngôn ngữ cá nhân; nó như thể là một thứ siêu ngôn ngữ (metalanguage) vậy, mỗi người mỗi kiểu.



Nhìn một cách bao quát vào hiện trạng thi phú Việt Nam hôm nay, theo tôi, nếu loại trừ những trường hợp cố ý ngoại lệ, thì nhiều người dùng sai ngữ pháp tiếng Việt là do vô tình chứ chẳng phải cố tình một cách nghệ thuật. Ðây là một vấn đề thực tế đáng quan tâm. Ở hải ngoại không thiếu những trang văn học Internet mà chắc chắn anh Tuệ có thể tự khảo sát và đánh giá (như tôi từng làm, thay vì cần phải có người cho anh một ví dụ).



Trịnh Hữu Tuệ:

8. Về việc dịch câu “Hans hat seinem Freund die Stadt gezeigt”, tôi xin không có nhận xét gì.



9. Cuối cùng, tôi nghĩ rằng tiếng Việt công nhận có thể là một đề tài “khó“, nhưng ta không nên coi nó là một đøề tài “tế nhị“, ít ra là trong khuôn khổ một cuộc tranh luận mà hy vọng là có tính khoa học này, vì như vậy sẽ rất mệt. Tôi vui vì được tranh luận với một người quan tâm đến ngôn ngữ (một cách khoa học) như anh Dũng Vũ. Hy vọng sẽ được gặp và nói chuyện với anh.

Dũng Vũ: Bất cứ cuộc bàn luận nào đối với tôi cũng đều bổ ích nếu tốt (bàn luận có khoa học chứ chẳng phải hy vọng là có “tính cách khoa học” như anh Tuệ nghĩ). Tuy vậy, tôi luôn quan niệm, khi bàn luận, tranh luận, thậm chí đến mức cãi cọ, ta nên coi trọng câu hỏi, bàn để làm gì và để cuối cùng sẽ đạt được mục đích gì, thay vì bàn về cái gì.



Ðặt bút viết bài Dịch thuật, một vấn nạn ngôn ngữ, tôi chỉ hy vọng sẽ có những ý kiến đóng góp nhắm thẳng vào hoặc xoay quanh đề tài này cốt sao tìm được giải pháp khả thi cụ thể có thể giải quyết được vấn đề “dịch” một cách hữu hiệu, thực tế, thay vì đi lạc vào khu rừng ngôn ngữ học.



Ngôn ngữ học là một đề tài khác hẳn. Song nếu có người lưu tâm (ngoài anh và tôi), tôi cũng có thể thảo luận theo khả năng của mình với điều kiện là chúng ta nên tập trung, đào sâu hoặc xoay quanh tiếng Việt thay vì bàn chung chung, hoặc chỉ kể lại li chi từng chi tiết lý thuyết mà sách vở đã nói hết rồi (thậm chí của chính người đẻ ra lý thuyết).



Tiếng Việt là một ngôn ngữ rất khó chứ không dễ như nhiều người Việt xưa nay thường tưởng vậy. Dù thế tôi vẫn hy vọng ta vẫn có thể khảo sát nó nhờ thẩm năng ngôn ngữ và kiến thức khoa học hiện đại (mà chúng ta may mắn có cơ hội tiếp thụ) hoặc nhờ một lý thuyết thích hợp tự tạo. Tôi nghĩ anh cũng là một trong những người đó. Ở hải ngoại đã lâu, tôi chưa bao giờ được đọc các bài viết hoặc chưa thấy ai đặt vấn đề giải thích ngôn ngữ (cụ thể là tiếng Việt) một cách lý thuyết như anh. Trong nước có thể có cụ Cao Xuân Hạo.



Biết đâu diễn đàn Talawas sẽ cho anh Tuệ một cơ hội chuyên luận về tiếng Việt và biết đâu đó sẽ là dịp cho các nhà ngôn ngữ Việt Nam trong và ngoài nước gặp nhau cùng bàn, cùng hướng đến mục đích tốt cho tiếng Việt của chúng ta.



Tài liệu tham khảo:

_______________



1) Xem Nguyễn Ðức Dân, Lôgích và Tiếng Việt, NXB Giáo Dục, TP. HCM, 1998.

2) U. Schoening, Logik fuer Informatiker, B.I- Wissenschaftsverlag, Mainheim/Wien/Zuerich, 1987,

tr. 13-59.

J. Loeckx, K. Sieber, The Foundations of Program Verification, Teuber, Stuttgart, 1987, tr. 18-31.

G. Winskel, The Formal Semantics of Programming Languages, Cambridge, Mass.: MIT Press,

1994, tr. 1-9.

3) Xem N. Chomky, Aspekte der Syntax-Theorie, Suhrkamp, Frankfurt am Main, 1973, tr. 37 hoặc Aspects of the Theory of Syntax, Cambridge, Mass.: MIT Press, 1965.

4) Xem Phan Khôi, Việt ngữ nghiên cứu, NXB Ðà Nẵng, 1997, tr. 154-155.

 
© talawas 2026