Kính thưa anh Trịnh Hữu Tuệ cùng các anh chị,
như chúng ta biết, bàn về tiếng Việt là một đề tài rất khó và tế nhị. Song thiết nghĩ, đây là một công việc thiết thực nhằm làm rõ tính đặc trưng của tiếng Việt cũng như chỉ ra những vấn đề tồn tại để mà giải quyết. Trong tinh thần này, tôi xin được phép trả lời những điểm anh Trịnh Hữu Tuệ đưa ra trong bài “Vài lời về ‘Dịch thuật, một vấn nạn ngôn ngữ’ của Dũng Vũ” của anh. Mong các anh chị góp ý chỉ giáo thêm cho. Thành thực cảm ơn.
Kính,
Dũng Vũ
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
Có một vài điểm tôi không đồng ý với anh Dũng Vũ.
1. Trong bài viết, anh Dũng Vũ nói:
«Tiếng Việt là một ngôn ngữ thường dùng nguyên tắc đề diễn (theme/subject interpretation). Người Việt thường lập câu tịnh tiến để diễn đạt nguyên tắc này. Nguyên tắc đề diễn nói lên trình tự nhận diện và nhận thức về một đối tượng muốn diễn tả. Cái trình tự này giống như một hàm số vậy, trước nhất phải có phần tử gốc, rồi sau đó mới ứng dụng đuợc một hàm số chọn lọc lên đó để đuợc một phần tử ảnh. Ở ví dụ trên, đối tượng “một cô gái” chính là phần tử gốc. “Ðẹp” là hàm số. Kết quả là “một cô gái đẹp”, một phần tử ảnh. Ðiều này logic bởi vì trước nhất phải có “một cô gái” đã rồi mới xem có “đẹp” không. Trước nhất phải nhận diện đuợc đối tượng rồi mới nhận thức xem đối tượng ấy ra sao. Bởi cái trật tự logic này không thể đảo ngược, cho nên người Việt mới nói xuôi. Trong khi đó, người Anh, người Ðức, người Tàu đều nói ngược. Do đó mà ngay điểm này, cấu trúc cú pháp của họ mới không giống cấu trúc cú pháp tiếng Việt. Ðiều họ nói ngược có lý do của nó. Nó có liên quan đến cấu trúc sâu (deep structure) và cấu trúc bề mặt (surface structure), hình thái ngôn ngữ, … (không thể kể hết ra đây; xin xem chi tiết ở Chomsky 1979, Language and Responsibitity).»
a. Trật tự logic / cấu trúc hàm số (funktionale Struktur) của một cô gái đẹp là:
$x [cô gái (x) ^ đẹp (x) ] = có một x, sao cho: x là cô gái và x đẹp.
hoặc
$x [đẹp (x) ^ cô gái (x) ] = có một x, sao cho: x đẹp và x là cô gái.
Manfred Bierwisch nói về cái gọi là Semantische Form (SF) như sau: “In SF gibt es keine lineare, sondern nur funktionale Struktur… SF-Strukturen (und die ihnen entsprechenden Gedanken) werden durch Prozesse aufgebaut, die in der Zeit ablaufen. Diese Zeitstruktur entspricht aber nicht der Struktur der SF-Representation.”
Người Anh và người Tàu không thể nói ngược logic được, vì trong trường hợp này, cấu trúc logic chẳng có ngược xuôi gì cả.
Dũng Vũ: Ðiểm mà tôi muốn nói trong bài viết là cái thứ tự của trình tự “nhận diện” và “nhận thức”. Tôi ví nó như cái trình tự của phép ánh xạ, tức một hàm số. Trước nhất phải tồn tại phần tử gốc (Urbild), sau đó mới có thể dùng một hàm số, ánh xạ (Funktion, Abbildung) nào đó mà áp dụng lên nó rồi mới được kết quả. Kết quả là phần tử ảnh (Bild). Thưa, có đúng không ạ? Giả tỉ anh đứng trên bảng giảng bài cho sinh viên. Muốn diễn tả một hàm số, anh vẽ hình ra cho dễ hiểu, đại để như sau:
Theo anh, cái trình tự anh vẽ, nó sẽ như thế nào? Vẽ cái gì trước, cái gì sau? Riêng tôi, tôi sẽ vẽ phần tử gốc trước, sau đó mới vẽ ánh xạ chiếu sang và cho ra phần tử ảnh.
Kết quả phải đi từ gốc. Ðiều này quá rõ ràng, người bình thường ai cũng thấy.
Nay xin quay về ví dụ “cô gái đẹp”. Cái trình tự nhận diện và nhận thức cũng thế. Nghĩa là trước nhất tôi phải thấy một cô gái đã (tức nhận diện được) rồi tôi mới xem có đẹp hay không (theo nhận thức của mình, dù là chủ quan). Quá trình này cũng giống y như tôi cầm quyển sách, thấy rồi đó, nhưng làm sao biết nó hay hoặc dở. Ðọc xong tôi mới nhận thức: “À. Cuốn sách hay”.
Chúng ta có thể bắt gặp thứ tự trình tự này trong mọi ngôn ngữ lập trình. Các nhà khoa học cũng suy nghĩ như vậy khi đẻ ra một ngôn ngữ lập trình. Trước nhất phải tồn tại biến số (variable), đối tượng (object), lớp (class). Sau đó chúng ta mới có thể biến hóa chúng, cụ thể là cho chúng một giá trị, tính chất, chức năng, … Một vài ví dụ:
Visual Basic:
‘ Declaration, Definition
Const DEP = 1
Dim nVar As Integer
…
‘ Assignment
nVar = DEP
C/C++:
// Declaration, Definition
#define DEP 1
WORD nVar;
…
// Assignment
nVar = DEP;
Ðó chính là cái trình tự, tức trật tự logic, tôi muốn nói. Bất cứ dân tộc nào khi muốn diễn tả một đối tượng, người ta cũng hay theo trình tự đó. Song cách thức thế nào là tùy vào cách lập câu. Cái ý nghĩa nguyên thủy này là cái mang cấu trúc sâu (theo Chomsky), song khi dùng ngôn ngữ để diễn tả thì người ta lại lập câu theo kiểu khác, cấu trúc này Chomsky gọi là cấu trúc bề mặt. Lý do thế nào là điểm tôi đã tránh bàn tới (do khuôn khổ bài viết có giới hạn).
Ðể giải thích cái cấu trúc của cụm từ “cô gái đẹp”, tôi dựa vào cái trật tự logic bên trên chứ không (muốn) lập thức (formulieren) như anh Tuệ. Song, nếu muốn, tôi cũng có thể lập thức bằng ngôn ngữ toán/logic để diễn tả “cô gái đẹp” như sau:
$x Î U, x = “cô gái”, $f Î F Ì U, f = “đẹp” ^ f (x) = true.
(U = Universalmenge, F = Auswahlfunktionsmenge)
Không ai cấm tôi lập thức như vậy. (Ta thừa biết, mỗi nhà toán học đều có thể có cách lập thức riêng; Zorn lập thức kiểu này, Cauchy lập thức kiểu khác, v.v.. Tất nhiên cũng có những quy ước, song không có nghĩa là tuyệt đối). Lập thức như trên, tôi vừa diễn tả được sự tồn tại của thực thể (instance) vừa diễn tả được cái trình tự nó được đặc trưng hóa. Thực thể ở đây chính là đối tượng logic, và f chính là cái hàm có chức năng đặc trưng hóa thực thể. Cụ thể, “cô gái” được hàm số chọn lọc “đẹp” đặc trưng hóa thành “cô gái đẹp”.
Anh Tuệ cũng có quyền lập thức như anh muốn và anh đã viết:
“Trật tự logic / cấu trúc hàm số (funktionale Struktur) của một cô gái đẹp là:
$x [cô gái (x) ^ đẹp (x) ]
hoặc đảo ngược:
$x [đẹp (x) ^ cô gái (x) ]”
Theo tôi, cách lập thức trên chỉ là một phát biểu (Aussage) rằng, một ẩn số x có hai tính chất {đẹp, cô gái}, chứ không nói lên được cái trình tự x được đặc trưng hóa. Phép AND (^) ở đây không nhằm mục đích mô tả trật tự logic mà chỉ nói, x có “tính chất A” AND “tính chất B”. Ðiều này tương đương với x có “tính chất B” AND “tính chất A”. Cụ thể, nói $x [cô gái (x) ^ đẹp (x) ] thì cũng không khác $x [đẹp (x) ^ cô gái (x) ]. Cách lập thức này không chỉ ra một cách hiển ngôn đâu là đối tượng logic. “x” hay “cô gái(x)” hay “đẹp(x)”? Nó cũng không chỉ ra mối quan hệ lệ thuộc (dependency) giữa hai giá trị tận cùng “cô gái (x)” và “đẹp (x)”. Vì thế mà không tồn tại một cấu trúc mô tả mối quan hệ ấy. Từ đó suy ra, không có “trật tự”, “cấu trúc”. Mà đã không có “trật tự”, “cấu trúc” thì không thể có “trật tự logic”, “cấu trúc hàm số” như anh viết.
Anh còn viết “Manfred Bierwisch nói về cái gọi là Semantische Form …”. Theo tôi, đây chỉ là một quan điểm chủ quan mà mỗi nhà khoa học đều có quyền. Ví dụ Bresnan, Chomsky, … cũng có cách nhìn riêng biệt. Bresnan (1) không đồng ý với Chomsky (2) rằng, ngôn ngữ không quá cấu trúc cực đoan đến nỗi Chomsky phải giải thích sự “biến hình” (transformation) cấu trúc sâu vào cấu trúc bề mặt. Hoặc Halliday (3) lại có cái nhìn ngôn ngữ theo hướng đề diễn.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
Vị trí tương đối của tính từ đối với danh từ mà nó bổ nghĩa đơn giản là một đặc tính riêng của một ngôn ngữ nhất định. Nó không liên quan gì đến cái gọi là cấu trúc chìm (deep structure) và cấu trúc bề mặt (surface structure) cả. Cấu trúc chìm của một cô gái đẹp là một cô gái đẹp. Cấu trúc chìm của ein schönes Mädchen là… ein schönes Mädchen.
Dũng Vũ: Ðồng ý với anh. Nhưng anh cho rằng “nó không liên quan”, còn người khác cho là có liên quan thì sao? Cụ thể là theo con mắt nhìn của Chomsky chứ không phải của anh hoặc của tôi hoặc của những nhà ngôn ngữ khác.
“Cấu trúc sâu, cấu trúc bề mặt” là đề tài xưa nay đã gây nhiều tranh cãi trong làng ngôn ngữ học. Anh có thể xem đối thoại giữa Mitsou Ronat và Chomsky trong cuốn Language and Responsibitity (Chomsky 1979) (4), xem Chomksy biện hộ ý tưởng của ông thế nào.
Theo nhận xét của tôi, chuyện cãi cọ bên trên không có mẫu số chung. Mình có thể không đồng ý với người khác là tại vì mình nhìn quan điểm của người đó theo hệ lý thyết của mình. Mình đã biết cái lý do, người khác có quan điểm như vậy là tại cái quan điểm đó thuộc về hệ lý thuyết đó chứ không thuộc về hệ lý thuyết của mình. Vậy mà cứ cãi. Rõ ràng là lẩm cẩm. Tôi cũng không khác, tôi tôn trọng ý kiến của từng người, song tôi cũng xin được phép có quan điểm riêng của mình. Cụ thể, tôi xin nhận xét một cách khiêm tốn rằng, “ngữ pháp tạo sinh” của Chomsky không thích hợp cho việc giải thích tiếng Việt (tôi đã phân tích và trình bày ý kiến trong chuyên luận), chứ tôi không muốn mất thì giờ cãi cọ.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
2. Về khái niệm “tịnh tiến”, hy vọng anh Dũng Vũ sẽ giải thích kỹ hơn một chút. Tôi đã đọc đi đọc lại những ví dụ mà anh đưa ra nhưng chịu không thể tìm được một ý nghĩa gì cả. Chỉ xin hỏi như sau:
Trong hai câu:
Bố tôi bị phạt bởi ai?
Bố tôi bị ai phạt?
câu nào (có câu trả lời) tịnh tiến?
Dũng Vũ: Khái niệm tịnh tiến tôi đưa có nghĩa là cách lập câu của người Việt, theo tôi quan sát, thường có hai tính chất: vừa tịnh, vừa tiến. Ðừng nên hiểu theo phép tịnh tiến (translation) trong toán, tức là phép biến hình, trong đó, một hình được di chuyển hay trượt đến một vị trí khác mà không quay, trục mới của nó song song với trục cũ. Tịnh đây có nghĩa là cấu trúc câu hỏi và câu trả lời giống nhau chứ không thay đổi như ở các ngôn ngữ nghịch đảo (inversion languages). Tiến có nghĩa là câu sẽ tiến một cách tuyến tính (linear) với những dữ kiện mới được thêm vào câu. Ví dụ:
Nó ăn
Hỏi: Nó ai cái gì?
Trả lời: Nó ăn cơm.
Cấu trúc câu hỏi và câu trả lời giống nhau. Chỉ khác ở chỗ “gì” là một ẩn số, còn “cơm” là trị của ẩn số đó. Ðó là tính chất “tịnh”.
Nếu cứ hỏi tiếp: Nó ăn cơm gì?
Trả lời: Nó ăn cơm nguội.
Hỏi tiếp: Ăn cơm nguội với gì?
Trả lời: Ăn cơm nguội với nước mắm.
Vân vân và vân vân, câu cứ tiếp tục dài ra và tiến về phía phải. Ðó là tính chất “tiến”, đơn giản là tuyến tính. Tiếng Anh cũng giống vậy, cũng tuyến tính.
Về câu hỏi của anh Tuệ, tôi xin giải thích như sau:
Trong trường hợp thắc mắc chuyện ai đó bị phạt, người Việt sẽ lập câu hỏi, chẳng hạn “Bố anh bị AI phạt?”. Ngay vị trí AI nếu tìm được một tác nhân, thì ta sẽ có ngay câu trả lời. Cấu trúc câu hỏi và câu trả lời giống nhau. Ðó là tính tịnh tôi muốn nói.
Khi hỏi thì người Việt hỏi như vậy, chứ không ai hỏi “Bố anh bị phạt bởi AI?” bao giờ cả. Tôi chưa nghe ai lập câu hỏi như thế. Thành ra, có thể nói, cấu trúc này không phải của Việt Nam. Muốn xác định điều này, tôi mới đề nghị, hãy thử bằng tính tịnh tiến. Giả sử cấu trúc câu xác định: “Bố tôi bị phạt bởi mẹ tôi?” nghe không chói tai. Người nghe nên xét lại, xem người Việt có hỏi thế không: “Bố anh bị phạt bởi AI?”. Nếu không thì cấu trúc câu xác định mình dùng đã sai rồi. Nếu có, thì đó là cấu trúc tiếng Việt, chấp nhận. Nếu không biết, thì chắc người này không phải người Việt, hoặc nếu phải thì chắc là không biết Việt.
Xin lưu ý, tịnh và tiến là hai tính độc lập. Tính tịnh không nhất thiết là phải nguyên do khiến câu tiến mãi, ngoại trừ người nói tự ý thêm dữ kiện vào, ví dụ như: “Bố tôi bị mẹ tôi phạt không cho vào nhà”.
Nói chung, tiếng Việt còn vài đặc điểm khác nữa (tính cảm đề, nguyên tắc đề diễn, tính tỉnh lược, …) mà tôi có nói sơ qua trong một chuyên luận cú pháp. Tôi có gửi đến Talawas hai chương có liên quan đến vấn đề dịch như một hình thức tham luận (do chưa có thì giờ tham gia trực tiếp). Thế nhưng anh Lê Trọng Phương báo là dung lượng quá lớn, chưa thể đăng được mà đang tìm cách. Anh có đề nghị tôi viết một bài ngắn hơn, và tôi đã viết. Nếu anh Tuệ và các anh chị có quan tâm, xin liên lạc với tôi (DungVu@web.de hoặc Tien-Dung.Vu@stg.siemens.de), tôi sẽ gửi bài đến các anh chị, thay vì phải trình bày chi tiết ở đây thêm lần nữa.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
3. Anh Dũng Vũ nói:
«Nói chung, thay vì dùng “to” giữa hai động từ như người Anh, người Việt thường ghép hai động từ lại một: “quên trả lời”, “tới thăm”, …»
To trong tiếng Anh không phải chỉ là một preposition, mà còn là một grammatical morpheme, được dùng để chỉ một động từ nguyên thể (infinitive), tương tự như -en trong tiếng Ðức. Nếu coi trả lời trong quên trả lời là một động từ ở dạng nguyên thể, một điều không phải là hoàn toàn vô lý, thì quên trả lời chính là forget to answer.
Dũng Vũ: Ngay đây, tôi chưa muốn bàn đến phạm trù ngữ pháp như anh đã chỉ ra. Tôi chỉ muốn nói thuần về ngữ nghĩa của “to”, người Việt mình thường hay dịch là ”để”.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
4. Anh Dũng Vũ có nhắc đến cái gọi là X-bar Theory:
«Chúng (những quy tắc “X-bar”) có thể giải thích được các ngôn ngữ Ấn-Âu (Thổ, Ba Lan, Ý, …), cả tiếng Tàu cũng không thành vấn đề, song đụng tới tiếng Việt là thất bại ngay. Tại sao? Bởi làm sao có thể giải thích được tính cảm đề của tiếng Việt, hoặc tính tỉnh lược, hoặc những loại từ không nằm trong các lớp từ “verb class”, “noun class”, “adjective class”, “prepositional class” mà xưa nay các nhà ngôn ngữ Tây phương cứ nghĩ ngôn ngữ tự nhiên (natural language) chỉ có chừng ấy mà thôi?»
Có thể anh đã không rõ bản chất của X-bar. Tại sao lại là X, mà không phải N, V, A, P…? Bởi vì quy tắc này không đòi hỏi một thứ tiếng cần phải có đúng những gì mà trong ngữ pháp phương tây được gọi là noun, verb, adjective, preposition…Công thức X-bar biểu thị tính cấu trúc của ngôn ngữ: một câu không phải chỉ là một chuỗi từ nối tiếp, mà bao giờ cung có một cấu trúc. Các cụm từ / ngữ đoạn (phrase) có thể có chức năng cú pháp như một từ. Ví dụ anh bộ đội có cô vợ suốt ngày cằn nhà cằn nhằn có chức năng cú pháp nhu anh bộ đội, chẳng hạn như đều có thể đứng trước ăn com rất nhanh. Ðiều quan trọng là để anh bộ đội có cô vợ suốt ngày cằn nhà cằn nhằn có đuợc một chức năng cú pháp nhu vậy, cụm từ đó phải có một từ như anh bộ đội. Muốn gọi anh bộ đội là danh từ hay là gì đi nữa không quan trọng. Ðó là ý nghĩa của quy tắc X-bar: X-phrase phải có một X.
Dũng Vũ: Do không tiện đi sâu vào chi tiết, tôi có dẫn chỉ vào mục tài liệu. Ở đó tôi có viết chi tiết về lý thuyết X-bar (5). Có thể xem thêm tài liệu của Chomsky, Jackendoff, Lightfoot, … kèm theo bên dưới (6).
Nói chung, những cái anh trình bày, tôi hoàn toàn đồng ý, song nếu (và chỉ nếu) anh tin tuyệt đối rằng thuyết X-bar có thể giải thích được tiếng Việt, xin anh hãy giúp tôi giải thích vài ví dụ:
“Ăn cơm đi chứ hả”
“Anh chưa ăn đâu”
“Ðói thấy mụ nội mà chưa ăn à”
“Lạng quạng là ăn đòn đó nhá”
“Bức tranh treo ở trên tường”
“Ê! Quần áo đang bán son kìa. Ði mua đi”
“Bà Ba mới mua cái nhà mà đã bán mất tiêu”
“Bà Ba mới mua cái nhà mà đã cháy mất tiêu”
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
5. Có lẽ anh Dũng Vũ hiểu Chomsky không giống tôi. Một trong những khái niệm cơ bản ở Chomsky là “người nói/nghe lý tưởng”. Anh nói:
Hãy xem Chomsky nói gì:
“Linguistic theory is concerned primarily with an ideal speaker-listener, in a completely homogeneous speech-community, who knows its language perfectly and is unaffected by such grammatically irrelevant conditions as memory limitations, distractions, shifts of attention and interest, and errors (random or characteristic) in applying his knowledge of the language in actual performance.”
Có thể thấy là “người nói/nghe lý tưởng” là một khái niệm khoa học trừu tượng. Chỉ riêng a completely homogenous speech-community đã là một điều kiện không tồn tại trong thế giới bên ngoài rồi.
Dũng Vũ: Anh nói cũng không khác tôi (xin xem chi tiết ở [7]). Chuyện “người nói/nghe lý tưởng” như Chomsky quan niệm là chuyện của ông ấy. Cái mà ông gọi “ideal” tất nhiên phải lý tưởng rồi. Có ai muốn cơ sở lý thuyết của mình không vững vàng, không hiển ngôn ? Muốn vậy, phải đặt điều kiện. Càng lý tưởng, càng ít lỗ hổng càng tốt.
Cái tôi ví như thế có lẽ hơi khắc nghiệt. Song tựu trung, lời phát biểu của tôi muốn ám chỉ, người sử dụng phải thành thạo ngôn ngữ để đủ khả năng xác định lời một người nói ra có phải là ngôn ngữ của mình hay không.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
6. Về những người dịch, anh Dũng Vũ phàn nàn rằng:
Liệu đây có phải là một đòi hỏi hợp lý hay không? Biết được “Hans singt” có cấu trúc thành tố:
[cp [ Spec Hansi ][C’ [ C singtk ] [IP ti tk ]]]
thì cũng thú vị, nhưng có cần thiết không?
Dũng Vũ: Tôi không dám phàn nàn ai đâu (tôi không viết vậy). Có buồn chăng là buồn cho nền giáo dục của xứ mình thôi.
Ðối với tôi, học hỏi để tiến bộ luôn là điều tốt và cần thiết. Song đối với khía cạnh này, chỉ cần hiểu sơ (thành tố, cấu trúc ngữ đoạn, …) cũng đủ. Chứ bắt các ông bà nhà văn phải hiểu sâu như ví dụ anh đưa ra, ngữ đoạn CP (comp. phrase), ngữ đoạn SP (specifier phrase), v.v. là gì (nhân đây xin hỏi, cách phân đoạn của anh có bắt buộc phải phức tạp vậy không), hoặc phải phân tích được một câu ví dụ của tôi “Nàng kể, nàng có ba người anh đi bộ đội lâu rồi” bằng cây cú pháp dưới đây:
thì thôi, kêu họ đổi nghề qua học ngôn ngữ học cho rồi. Không cần phải vậy, chỉ cần hiểu nôm na, thành tố là một cụm từ nói được, ngữ đoạn gồm có loại ngữ đoạn NP (noun phrase), VP (verb phrase), … có tính chất, chức năng thế nào, và một vài điểm căn bản, không khó lắm. Bởi vì nếu không hiểu, người viết sẽ dễ biến hóa ngôn ngữ theo chiều hướng sai. Người viết đây nói chung là người dịch, người viết văn, làm thơ, … Không những chỉ về dịch mà nói chung về viết tiếng Việt. Nhân đây, tôi cũng xin phép được tỏ bày vài ý kiến có liên quan đến vấn đề thực tiễn.
Như ta thấy, ca dao, tục ngữ, thơ, … Việt Nam thường sai ngữ pháp, hầu hết đều là do tỉnh lược. Ví dụ:
“Thằng Bờm có cái quạt mo
Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu”
Câu trước đúng, qua câu sau là sai ngay. Ngoài đời đâu ai nói “tôi mới bán ba bò”, “tôi mới mua chín trâu” bao giờ. Phải nói là “tôi mới bán ba con bò”, “tôi mới mua chín con trâu” mới đúng chứ (8). Song vì thể thơ lục bát chỉ cho phép dùng 6 và 8 chữ, cho nên người ta phải lược bớt từ để giữ đúng luật.
Dù thế nào đi nữa, theo tôi, chúng ta nên có ý thức sử dụng ngôn ngữ khi hành văn, nhất là những người cầm bút. Cái căn bản trước nhất cần để ý là nên cố gắng viết đúng ngữ pháp như có thể. Ngữ pháp là hạ tầng cơ sở của câu cú. Văn hay/dở còn tùy vào ý tưởng, cách dùng chữ, cách bố cục, … chứ không cứ phải sao chép cấu trúc ngoại ngữ vào tiếng Việt thì câu văn mới hay. Thử lấy nhà phê bình văn học Nguyễn Hưng Quốc làm ví dụ. Ông từng đòi đảo chính chữ (“thì”, “là”, “mà”) (nếu hiểu sai, cho tôi xin lỗi), nhưng lạ cái là ông lại viết tiếng Việt rất tịnh tiến. Có lần tôi lấy bài của ông ra ngồi đọc. Lẩm cẩm tôi đổi vị trí vài ngữ đoạn sao cho giống tiếng Anh, tiếng Ðức. Chỉ cần sửa vài ba câu là văn chương ông bị hỏng ngay. Từ đó suy ra, Nguyễn Hưng Quốc chỉ giữ được văn phong của mình theo lối đó. Ngoài cách dùng âm tố khá khéo léo theo kiểu Việt, Nguyễn Hưng Quốc có một cái hay nữa là biết dùng dấu phẩy đúng chỗ, chấm câu đúng chỗ. Những dấu phẩy thay thế “thì”, “là”, “mà” (những yếu tố quan trọng dùng phân đoạn câu tiếng Việt). Cách phân đoạn câu khá chuẩn. Thành tố dùng trọn vẹn, khác hẳn nhiều nhà thơ/văn Việt có cách xếp đặt chữ nghĩa không được đúng lắm. Một ví dụ trong thơ là người đọc rất dễ thấy hiện tượng câu cú bị cắt xẻ, từng chữ/cụm từ bị bứt ra thành từng mảnh, thả rơi xuống chục hàng, rất loạn chiêu. Ðọc thơ ngoại quốc, hầu như không thấy tác giả nào vô tư đến thế ngoại trừ đọc thơ Việt. Ðiều này không có gì khó hiểu. Dân văn chương ở đây thường là dân có học về ngữ văn, trong đó có hai môn cần học là ngữ pháp và ngữ nghĩa (như đã nói). Nếu không được học, người cầm bút chỉ còn cách là dùng thẩm năng ngôn ngữ (language competence) của mình. Không thiếu những người nằm trong trường hợp này: Nguyễn Du, bà Huyện Thanh Quan, Ðoàn Thị Ðiểm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Ðình Chiểu, … Ngay Nguyễn Trãi, một người sống trước ta bao nhiêu thế kỷ có biết ngữ văn là gì, nhưng dùng tiếng Việt vẫn chuẩn. Thử phân tích Hoa Ðào Thi trong Quốc Âm Tự Vị. Lê Quý Ðôn, Lê Thái Tổ cũng không phải là trường hợp ngoại lệ. Thử đọc Ðại Việt Thông Sử, Nam Sơn Thực Lục. Ngữ pháp của Nguyễn Du cũng rất chuẩn. Kiều là một tác phẩm lớn chỉ toàn thơ lục bát. Ai cũng biết, thể lục bát chỉ cho phép dùng 6 và 8 chữ. Vậy mà Nguyễn Du vẫn cố viết đúng ngữ pháp như thường. Rất khó, nhưng hay là hay chỗ đó. Trong khi thể thơ tự do sau này không bị quy tắc ngặt nghèo chi phối, nhiều người làm thơ vẫn không đạt được trình độ ấy. Có thể giải thích, một là hoặc người viết không chịu dùng, hoặc không tin tưởng vào thẩm năng ngôn ngữ của mình, hoặc hai là do không được trang bị những kiến thức tối thiểu về ngôn ngữ học, cho nên người ta mới vô tình viết không chuẩn chứ không ai dại gì mà nghĩ rằng, thà để bài thơ mất giá trị còn hơn viết đúng ngữ pháp của cái ngôn ngữ mình đang nhờ vả để làm ra bài thơ đó. Ví dụ, nếu tôi cắt xẻ bài thơ Con Cóc sau đây (nhớ đại khái):
Con cóc trong hang
Con cóc nhẩy ra
Con cóc ngồi đó
Con cóc nhẩy vô
thành:
Chắc chắn mọi người sẽ thấy lối xẻ thơ của tôi rất là loạn xạ:
Kết quả, loại trừ những cụm từ vô nghĩa, vô ngữ pháp, chính cả những thành tố (cụm từ nói được) cũng không bảo đảm sẽ cho tác giả một bài thơ có ý nghĩa không nằm ngoài ý muốn.
<
Cái cách xẻ thơ không biết gì về ngữ pháp của tôi bên trên hoàn toàn khác hẳn cách đặt thơ đúng thành tố trong bài Tình Già của Phan Khôi như sau (nhớ đại khái):
“Hai mươi bốn năm xưa
Một đêm vừa gió lại vừa mưa
Dưới ánh đèn mờ trong căn nhà nhỏ
Ðôi mái đầu xanh kề nhau than thở:
Ôi ! Ðôi ta thương nhau, tình vẫn nặng
Nhưng lấy nhau hẳn thì chẳng đặng.
Tình trước, phụ sau, chi bằng sớm muộn mình xa nhau”.
(Tình Già – Phan Khôi)
Xét về mặt ngữ pháp, từng dòng bài thơ trên của Phan Khôi là một thành tố. Còn nhiều tác giả xưa cũng có khả năng đó. Chẳng hạn một bài thơ của Phùng Cung:
“Ðêm vắng,
Buồng thơm.
Em soi gương trộm,
Ngọn đèn mượn gió, nghiêng nghiêng”
(Ðêm vắng – Phùng Cung)
So với hai ông cụ, trình độ ngữ pháp tôi bết quá. Giả như đem bài thơ xẻ sai ngữ pháp của tôi bên trên mà dịch sang ngoại ngữ, thì phải nói là vô vọng. Chính tôi còn không hiểu mình viết cái gì thì làm sao dịch.
Ngẫm nghĩ lại, chỉ còn nước là làm sao tôi phải có chút hiểu biết thì mới mong tránh được những vấn đề không cần thiết trong sinh hoạt ngôn ngữ.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
Giải thuật dịch của anh Dũng Vũ cũng có những bước mà tôi nghĩ một người dịch bình thường/chuyên nghiệp phải đánh dấu hỏi, ví dụ như:
Bước 1: Dịch 1-1 đúng vị trí từng chữ/từ trong câu bản gốc.
Bước 2: Ðổi vị trí từ hoặc lược từ trong từng thành tố một sao đúng kiểu tiếng Việt, theo văn nói.
Bước 3: Ðổi vị trí thành tố sao cho đúng cách hành ngôn tiếng Việt (văn nói)
Không hiểu để dịch một câu bình thường như “Hans hat seinem Freund die Stadt gezeigt” thì nên tiến hành thế nào.
Dũng Vũ: Theo như tôi viết trong bài thì gồm những bước sau:
Bước 1: Dịch 1-1 đúng vị trí từng chữ/từ trong câu bản gốc.
“Hans hat seinem Freund die Stadt gezeigt”
Hans đã của nó bạn cái thành phố đã chỉ
Xin lưu ý, dịch “hat” là “đã” (thay vì “có”) vì người biết tiếng Ðức thừa biết, “hat gezeigt” diễn tả thì quá khứ.
Bước 2: Ðổi vị trí từ hoặc lược từ trong từng thành tố một sao đúng kiểu tiếng Việt, theo văn nói.
Sau khi chuyển vị từ (movement), ta có :
Tỉnh lược:
“Hans đã đã chỉ bạn của nó cái thành phố”
“Hans đã chỉ bạn nó cái thành phố”
Bước 3: Ðổi vị trí thành tố sao cho đúng cách hành ngôn tiếng Việt (văn nói)
Trong trường hợp này, mọi thành tố đã nằm đúng vị trí, không cần chuyển vị nữa.
Bước 4: Chọn lọc từ ngữ, lược từ, mở rộng thành tố cho vừa ý.
Người Việt khi dẫn ai đi thăm một thành phố, không ai dùng từ “chỉ”. Ta có thể chọn một từ khác thích hợp hơn. Ví dụ “giới thiệu”. “Chỉ” và “giới thiệu” là hai từ nói được cùng loại (tức thành tố và cùng mang tính động từ):
Riêng tôi, tôi sẽ bỏ luôn chữ “nó”, “cái” cho gọn, thành:
Sau khi lược từ, ta thấy câu hơi thiếu thiếu. Vậy, mở rộng sao cho vừa ý:
“Hans đã giới thiệu bạn thành phố Hans đang ở”
“Hans đã dẫn bạn đi thăm thành phố”
“Hans đã đưa bạn đi thăm thành phố”
“Hans đã dắt bạn đi thăm thành phố”
Giải thích thì thấy có vẻ phức tạp, chứ thử trên thực tế thì đơn giản và nhanh hơn nhiều. Ðại để là với cách này, ta có thể đưa nội dung một câu tiếng Ðức vào tiếng Việt mà không sợ xa rời ngữ pháp của mình. Chủ yếu là có cái kiến trúc, cái khung trước đã. Sau đó, muốn trau chuốt câu, dùng từ thế nào cho hợp ý là tùy của mỗi người. Tuy nhiên, như đã nói, giải thuật 1 chỉ ứng dụng được đối với người dịch ít nhiều đã hiểu các đặc điểm hành ngôn của tiếng Việt (tính cảm đề, tính tịnh tiến, tính tỉnh lược, tính đề diễn, …) cũng như đã hiểu thành tố, ngữ đoạn, … là gì.
Anh Trịnh Hữu Tuệ viết:
7. Cuối cùng, xin trích câu sau của anh Dũng Vũ:
«Nguyên tắc hành ngôn tiếng Việt quyết định ngữ pháp. Ngữ pháp mà bị làm méo mó thì cả cái hệ thống nguyên tắc hành ngôn cũng bị ảnh hưởng lây. Theo thời gian, hạ tầng cơ sở tiếng Việt sẽ từ từ xuống cấp. Cuối cùng, một lúc nào đó, chắc chắn sẽ không còn ai đủ can đảm hoặc đủ khả năng giải thích nổi cái cấu trúc của tiếng Việt, bởi nó đã bị loạn chiêu hóa, phi logic hóa.»
Ðây là nỗi “lo bò trắng răng” điển hình: một ngôn ngữ không thể không có cấu trúc, không thể không có ngữ pháp được, vì ngữ pháp là một bản năng, được quyết định bởi (đúng vậy, quyết định bởi, passive voice, tịnh tiến hay không tịnh tiến xin tùy!!!) sinh học của loài người.
Dũng Vũ: Tôi không quá bi quan như Cao Xuân Hạo, thế nhưng đôi lúc cũng ngồi tư lự.
Hy vọng chúng ta sẽ còn nhiều dịp thảo luận bổ ích tương tự. Một lần nữa, xin cảm ơn anh Tuệ, Talawas và các anh chị.
______________________
Tài liệu tham khảo, chú thích:
1) Bresnan, Joan (1982). The Mental Representation of Grammatical Relations. Cambridge: MIT Press.
2) Chomsky, Noam (1965). Aspects of the Theory of Syntax. Cambridge, Mass.: MIT Press.
Chomsky, Noam (1957). Syntactic Structure. The Hague: MIT Press.
3) Halliday, Michael A.K (1994). Introduction to Functional Grammar, 2nd ed. London: Edward Arnold.
4) Chomsky, Noam (1979): Language and Responsibitity. New York: Pantheon.
5) Dũng Vũ (2001). Tiếng Việt và Ngôn ngữ học hiện đại – Sơ khảo về cú pháp, (đang được phổ biến trên Văn Học Nghệ Thuật, http://www.saomai.org, sẽ xuất bản), ch. 8, 9, 10.
6) Tài liệu về X-bar theory:
Chomsky, Noam (1970). “Remarks on Nominalization” in R.Jacobs and P.Rosenbaum (eds.), Readings in English Transformational Grammar. Waltham: Ginn.
Jackendoff, Ray (1977). X-bar Syntax:A Theory of Phrase Structure.Cambridge: MIT Press.
Lightfoot, David (1991). How to Set Parameters: Evidence from Language Change. Cambridge: MIT Press.
Radford, Andrew (1988). Transformational Grammar. Cambridge: Cambridge University Press.
Speas, Margaret (1990). Phrase Structure in Natural Language. Dordrecht: Kluwer Academic Publishers.
7) Xem Dũng Vũ (2001), chương 1.
8) Trong tiếng Việt có rất nhiều danh từ cụ thể tưởng chừng đếm được nhưng không.