Trong mấy tháng qua tôi vẫn thường xuyên theo dõi trên talawas và đặc biệt để ý đến những bài viết nhận xét và phê bình về chuyện dịch thuật. Nguyên nhân chính của cuộc tranh luận dịch thuật xuất phát từ bài dịch Mãnh cọp cuối cùng của Thường Quán (TQ) và bài phản hồi của Lê Ðình Khoa (LĐK). Câu chuyện đôi co dịch thuật giữa hai vị này đã lôi kéo một số độc giả khác nhập cuộc – người thì nghiêng về TQ, kẻ thì ngả về LÐK. Tôi đồ chừng rằng những độc giả nào của talawas chưa từng quan tâm đến việc nghiên cứu dịch thuật có thể đã phân vân, thắc mắc không biết mình nên nghiêng nên ngả về phía ai.
Trong tinh thần góp ý để mở rộng cuộc tranh luận về dịch thuật, tôi xin gửi đến quý độc giả đoạn chót trong bài viết Ði tìm cái tương đương trong phiên dịch mà talawas đã cho lên mạng năm 2002. Tưởng cũng xin nói thêm là bài viết được đặt trong bối cảnh phiên dịch tài liệu thông tin cộng đồng (community information translation) ở Úc, cho nên đối tượng độc giả chủ yếu là người Việt sống tại Úc. Hy vọng “tính chất cộng đồng” trong phiên dịch của bài viết sẽ được độc giả là ông N. Xu hoan nghênh.
5. Giải pháp dịch thuật
Nhìn chung, trong một số những trường hợp hiển nhiên ta thấy có một số tương đương một-đối-một, tương đương tuyệt đối (absolute equivalence), còn lại thì thực tế cho thấy khác biệt về kinh nghiệm, văn hóa, văn minh, chính trị, tiến bộ khoa học, kỹ thuật của hai cộng đồng nói ngôn ngữ khác nhau là nguyên nhân khiến cho phiên dịch viên, trong nhiều trường hợp, phải đi tìm cái tương đương tương đối (relative equivalence), cái tương đương gần nhất (nearest equivalence), song không phải vì thế mà không phản ảnh trung thực mục đích của tài liệu ngôn ngữ gốc.
Trong kho tàng khá mới mẻ về chiến lược và chiến thuật phiên dịch, mà tiếng Anh họ quen gọi là “translation strategies”, hoặc “translation procedures”, ta có thể nói đến các giải pháp dịch thuật như sau:
5.1 Chuyển nguyên ngữ (transference)
Thông thường khi phải dịch từ Anh sang Việt cho độc giả là những người đang sống ở nước nói tiếng Anh, người ta dùng lối chuyển nguyên ngữ (transference), tức là dùng nguyên chữ tiếng Anh trong bản văn tiếng Việt. Thí dụ “đi shop”, “đi pub”, “ở flat”, “bán sale”, “lãnh lump sum”.
Tuy nhiên, một bản văn quảng cáo gọi một dịch vụ là “dịch vụ Break even” thì tôi sợ rằng chuyển nguyên ngữ như thế là mình đã đi quá xa, vì không mấy ai hiểu “break even” là gì. Tôi nhớ mang máng đã nghe được quảng cáo này trên đài phát thanh ở Melbourne về dịch vụ giúp đỡ những người nghiền cờ bạc. Liệu có phải dịch vụ này nhằm giúp người nghiền cờ bạc “không bị thua xiểng liểng nếu đi đánh bạc” hay “đánh thua đậm rồi thì được giúp đỡ về mặt y tế, tài chánh để không bị ảnh hưởng nặng nề đến cá nhân mình và những người thân yêu” hay không? Nếu bảo rằng mình cố ý để nguyên chữ, hay chuyển nguyên ngữ tiếng Anh như thế để thu hút tò mò của người đọc, người nghe trong trường hợp này thì tôi lại sợ rằng lập luận đó không vững, vì từ “break even” vừa khó đọc vừa khó nhại. Tôi cũng đã thấy “dịch vụ Lifeline” (để nguyên không dịch hay có thể nói là đã dịch chuyển nguyên ngữ) cũng là dịch vụ giúp người ghiền cờ bạc, liệu xem dịch ra là ” dịch vụ Mạch sống (Lifeline)”, còn “dịch vụ Break even” là ” dịch vụ Thủ hòa (Break even)” hay “dịch vụ Thủ huề (Break even)” có phải là giải pháp hay hơn không, có đúng với mục đích của dịch vụ không?
5.2 Chuyển âm (naturalisation)
Một lối khác tạm gọi là lối chuyển âm (naturalisation), tức là nhái theo cách phát âm tiếng Anh, rồi phiên âm ra tiếng Việt. Thí dụ “lane”chuyển dịch thành ra “lên”, “gay (đồng tính luyến ái)” thành ra “ghê”, “compo” (chữ tắt của “compensation” nghĩa là “tiền bồi thường”) thành ra “com bồ”, “lãnh redundancy package” (nghĩa là lãnh trọn gói tiền bồi thường khi bị cho thôi việc) thành “lãnh bách kệt”, “đánh theo system” (tức là dùng “phương pháp” đánh bạc nào đó mà người ta nghĩ là có nhiều hy vọng thắng), thành “đánh theo xít-tầm,” “bán sale” thành “bán xeo”, “làm nail” thành “làm nêu”, “thịt kangaroo” thành “thịt căng-gu-ru”.
Người ta đã thấy tên người, tên thành phố, tên quốc gia đã được dịch theo lối này. Khi chiến tranh Việt Nam còn ở giai đoạn đầu, một Bộ trưởng Quốc phòng xa xưa của Mỹ đã được đài “Tiếng nói Mặt trận Giải phóng Miền Nam” gọi là tên “Cờ-lác Cờ-líp-phớt” (Clark Clifford). Người Miền Bắc trong nước chỉ biết thủ đô của nước Pháp gọi là “Pari” (Paris) chứ không phải là “Ba-lê”. Tòa đại sứ Úc tại Hà-nội có bảng hiệu đề trước cửa là “Ðại sứ quán Ốtx-trây-lia”(Australia).
5.3 Tương đương văn hóa (cultural equivalence)
Với những từ biểu hiện đặc trưng văn hóa (culture specific terms) thì ta dịch bằng từ tương đương văn hóa. Thí dụ “HSC” (viết tắt của Higher School Certificate dùng trong Tiểu bang NSW) hay “VCE” (viết tắt của Victorian Certificate of Education dùng trong Tiểu bang Victoria) đã được dịch là “Tú tài Úc”, hoặc “Tú tài HSC”, hay “Tú tài VCE”, hoặc cũng có thể dịch là “Bằng Tốt nghiệp Phổ thông Trung học Úc”, nếu muốn nhắm vào độc giả đã hoặc đang sống ở Việt Nam.
Có điều trớ trêu là một chức vụ trong đại học Anh Úc là Vice Chancellor mà nếu dịch theo tương đương văn hóa thì có lẽ phải dịch là “Viện trưởng” mới đúng, thay vì “Phó Viện trưởng”, bởi lẽ nhân vật này là trưởng nhiệm đại học, quản lý cả về học vụ lẫn hành chánh. Nếu dịch là “Phó Viện trưởng”, thì sẽ bị hiểu sai vai trò của người giữ chức vụ đó. Ðối với người Việt làm “Phó” cho ai là mình chỉ đóng vai trò thứ yếu, không có quyền hành gì, như có lần hồi còn nền Ðệ nhị Cộng hòa ở Miền Nam, cựu Thiếu tướng Không quân Nguyễn Cao Kỳ, nguyên Chủ tịch Uỷ ban Hành pháp Trung ương (tức là Thủ tướng), đã chua xót, mỉa mai gọi là chức vụ “Phó Tổng thống” mà ông đảm nhiệm sau này là chức vụ “ngồi chơi xơi nước”. Còn “Chancellor” thì có lẽ phải dịch là “Viện trưởng Danh dự” vì nhân vật này không trực tiếp điều hành đại học, chỉ có tên trên danh nghĩa, đảm nhiệm một chức vụ danh dự.
Khi nói về chuyện sinh đẻ, tùy theo kiến thức văn hóa của độc giả mà ta phải dịch thời gian có bầu, mang thai của phụ nữ bằng “ngày tháng” thay vì bằng “tuần lễ”. Thí dụ với câu tiếng Anh “She”s 20 weeks pregnant” (Cô ấy có bầu được 20 tuần), ở Úc, ở Việt nam có khi ta phải dùng tương đương văn hóa mà dịch là “Cô ấy có bầu được 5 tháng”. Tương tự “The baby weighs six pounds” (đứa bé cân được 6 cân Anh) phải dịch là “đứa bé cân được hơn 2 kí 7”. Hoặc “The two houses are 100 yards apart” (Hai nhà cách nhau 100 mã Anh) phải dịch là “Hai nhà cách nhau chừng 100 thước”. Nếu dịch cho độc giả Việt nam ở Mỹ, tức là những người đã quen với hệ thống đo lường của Anh Mỹ, thì ta phải tính chuyện khác. Chúng ta cũng đừng quên là người Việt ở Mỹ nay đã quen dùng “miles” để nói về khoảng cách đoạn đường xa gần và dùng độ “Farenheit” để chỉ nhiệt độ thời tiết.
Nói chung là ta phải biết mình đang dịch cho ai và họ hiểu được đến đâu, họ quen nghe lối nói nào. Người Anh, người Úc, người Mỹ họ gọi cái nhận thức đó là “common sense” mà họ đã định nghĩa ra là “năng khiếu tự nhiên khiến người ta có phán đoán thích ứng, có hành động hợp lý”(the natural abillity to make good judgement and behave sensibly, BBC English Dictionary), mà tôi quen gọi nó là “nhận thức thông thường”.
5.4 Tương đương chức năng (functional equivalence)
Cũng lại với những từ ngữ biểu hiện đặc trưng văn hóa, ta còn có thể phải áp dụng lối dịch tương đương chức năng, tức là dùng một từ chung, tổng quát cộng thêm với một từ hay cụm từ mới mô tả chi tiết nhiệm vụ, chức năng. Thí dụ “Shadow Cabinet” dịch là “Nội các đối lập” (chữ “Cabinet” dịch là “Nội các” còn chữ “Shadow” nghĩa đen là “Bóng tối”, nhưng nếu dịch sát nghĩa sợ người đọc không hiểu, nên phải dịch là “đối lập”). Tôi đã được nghe thông dịch viên trong phái đoàn của ông Nông Ðức Mạnh, Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, viếng Úc năm 1998 dịch “Shadow Cabinet” là “Nội các Bóng”. Tôi không hiểu từ này đã được dịch như thế ở Việt nam hay là vì tính cấp thiết do công tác đòi hỏi mà thông dịch viên, người tôi thấy đã chứng tỏ có đầy đủ khả năng và nhiều kinh nghiệm, phải vội ứng biến như vậy.
Một kiểu khác nữa là cắt nghĩa chức năng cộng thêm với chuyển nguyên ngữ đặt trong hai ngoặc đơn. Thí dụ “Open Day” thì dịch là “Ngày nhà trường mở cửa giới thiệu sinh hoạt, tiện nghi cơ sở cho công chúng vào xem (Open Day)”. Hay có thể dịch ngắn gọn hơn là “Ngày giới thiệu trường/cơ sở (Open Day)” cũng đâu có sao? Tương tự ta có từ “Red Nose Day”, đem dịch ra thành “Ngày quyên tiền/yểm trợ cho công cuộc nghiên cứu hiện tượng trẻ em chết trong nôi (Red Nose Day)”, mặc dầu còn thiếu yếu tố “mua mũi nhựa tròn màu đỏ bằng plastic đeo vào mũi”.
5.5 Tương đương miêu tả (descriptive equivalence)
Ngoài lối dịch tương đương chức năng, ta còn có thể dùng lối dịch tương đương miêu tả, nhưng tùy theo mục đích của tài liệu ngôn ngữ gốc mà ta phải cân đo chọn giữa miêu tả (description) và chức năng (function). Thí dụ “boomerang” được miêu tả là “cái khúc cây cong cứng, đẽo thành hình giống như cái lưỡi liềm của Thổ dân Úc”, còn chức năng của nó là “dùng làm vũ khí phụ gia để săn bẫy chim muông”. Khi dịch chữ “Continental breakfast” ta phải miêu tả như sau: “bữa điểm tâm nhẹ gồm có bánh mì (hay bánh sừng bò) ăn với mứt ướt (công-phi-tuya), uống cà-phê hay trà”. Lối dịch giảng nghĩa này có thể dùng làm cước chú (footnote), trong trường hợp dịch một đoạn truyện ngắn hay tiểu thuyết mà chi tiết này không cần thiết, còn trong truyện thì có thể chỉ để “bữa điểm tâm nhẹ” là đủ, mặc dù không thấy nói gì đến chuyện phân biệt giữa “Continental Europe” nghĩa là “Âu lục” với “Quần đảo Anh” (The British Isles).
Từ “hitchhiking backpackers” dịch theo lối miêu tả là: “khách du lịch đeo ba-lô thường đứng bên đường vẫy xe hơi/xe ô-tô/xe vận tải xin đi quá giang”. Ở Việt Nam nay họ gọi những anh chàng này là “khách du lịch ba-lô” hay “Tây ba-lô”, có thể là yếu tố “vẫy xe đi quá giang” không xẩy ra. Từ “chemical castration” nghĩa là “trích cho tội phạm chuyên trị hiếp dâm bằng những hoá chất để khiến cho họ không còn thấy hứng tình nữa”. Ý niệm “castration” thì người Việt ta có, vì ta quen với việc “thiến chó”, “thiến mèo”, “thiến gà”, “hoạn lợn”, nhưng ta chưa thấy ai nói “dùng thuốc để thiến”, mà nếu nói “dùng thuốc để diệt dục” thì liệu có sợ bị hiểu lầm là theo triết lí nhà Phật mà diệt mọi thứ dục vọng trên đời, mầm mống của mọi khổ đau, hay không?
5.6 Dịch phóng từ (calque)
Lối dịch phóng từ này (tiếng Pháp gọi là “calque”) còn gọi là lối dịch suốt (through translation), lối dịch vay mượn (loan translation), lối dịch ngữ nghĩa (semantic translation), hay lối dịch trực nghĩa (literal translation). Ðộng từ “calquer” trong tiếng Pháp nghĩa là “căn ke”, “tô lên”, “phóng lên”, “đồ theo”. Lối dịch phóng từ được áp dụng khi dịch nhưng kết hợp từ thông thường (collocations), tên các tổ chức, cơ quan, thành phần của những từ kép thông thường. Thí dụ ta dịch “galloping inflation” là “lạm phát phi mã”, “European Union” là “Liên hiệp Âu Châu”, “International Monetary Fund (IMF)” là “Quĩ Tiền tệ Quốc tế (IMF)”, “call girl” là “gái gọi”, “eyeball” là “nhãn cầu”, “superman” là “siêu nhân”. Nhìn chung ta thấy từ nào cũng được dịch “đồ theo” theo nguyên nghĩa của từ ấy, còn thứ tự, vị trí của từ thì được sắp xếp lại theo cú pháp tiếng Việt. Ngoại trừ trường hợp dùng tiếng Hán Việt, thì vị trí của từ không thay đổi, chẳng hạn như “nhãn cầu,” “siêu nhân”. Trong từ “siêu nhân” thì “super” phóng ảnh nghĩa của nó ra là “siêu”, “man” phóng ảnh nghĩa của nó ra là “nhân”, thay vì dịch theo thứ tự tiếng Việt là “*người đàn ông siêu đẳng” là từ mà người Việt ta chưa quen nói.
Là người phiên dịch, ta cũng phải thận trọng trong lối dịch phóng từ này, chớ tự sáng tác phóng tay. Từ dịch phóng phải là những từ đã nghe quen tai, bằng không ta sẽ có những cấu trúc, lối nói đầy dịch tính (translationese) mà diễn nghĩa nôm na là văn Ta thì sặc mùi “phô mai/phó mát”, văn Tây thì sặc mùi “nước mắm”. Tỉ dụ như “Season’s Greetings” mà dịch là “*Những Lời Chào mừng của Mùa”, thay vì “Cung chúc Tân xuân”, hay “Chúc mừng Năm mới”, hoặc “body language” dịch là “*ngôn ngữ thể xác”, thay vì tùy trường hợp, ngữ cảnh, văn mạch mà phải dịch là “cử chỉ”, “bộ điệu”, “vẻ mặt”, “thái độ”, “hành động”, “ứng xử không lời” (nonverbal communication) hay “ngôn ngữ không lời”.
Có người sẽ không chấp nhận dịch “body language” là “ngôn ngữ không lờí” vì lí do giản dị là “đã là ngôn ngữ thì phải có lời” và sẽ kết luận rằng “dịch như thế là sai, là mâu thuẫn, không hợp lí”. Ðối với những người này, ta có thể viện dẫn hai điểm: (1) không thể đòi hỏi ngôn ngữ phải hợp lí, phải có lô-gích, nhiều khi ta tưởng là cái hợp lí đối với ngôn ngữ này, thì lại không hợp lí với ngôn ngữ kia, hoặc ngay trong cùng một ngôn ngữ chỗ này hợp lí mà chỗ khác thì không; (2) tiếng Anh họ đã nói “human language” mà mình đã dịch là “ngôn ngữ loài người”, trong sách vở họ đã viết “animal language” mà mình đã dịch đâu đó là “ngôn ngữ loài vật” và nghe coi bộ xuôi tai, có thể chấp nhận được, mặc dù biết rằng loài vật đâu có nói thành lời, đâu có ngôn ngữ, có chăng là thứ ngôn ngữ được ta hiểu là tiếng kêu, tiếng gọi, hoặc điệu vũ ra hiệu cho nhau. Dịch “body language” là “*ngôn ngữ thể xác” , mà tôi đã được nghe, có thể bị người ta hiểu lầm vì chữ “thể xác” gợi ý “nhục dục của thân thể”.
Trong ngôn ngữ học có môn ngữ dụng học (pragmatics) là môn nghiên cứu về ý định của người nói và ý lãnh hội được, ý hiểu được của người nghe. Nếu bản văn gốc trong đó “ông nói gà”, mà trong bản văn ngọn “bà hiểu vịt” thì như thế tức là phiên dịch viên đã không thực hiện được cái “tương đương ngữ dụng” (pragmatic equivalence). Áp dụng máy móc lối dịch phóng từ để dịch “Rape Centre” thành “Trung tâm Hiếp dâm” thì chỉ tổ vô tình “nối giáo cho giặc”. Còn “Justice of the Peace (JP)” (ở Úc nghĩa chính của cụm từ này là người kí tên chứng nhận công chứng thư) mà đem dịch là “Thẩm phán Tòa án Công lí Hòa bình” vào tấm danh thiếp của mình khi giao dịch với đồng bào ở quê nhà là cố ý “lập lờ đánh lận con đen”.
6. Kết luận
Trong việc dịch thuật, cái bất công nằm ở chỗ là khi mình dịch hay, dịch đúng thì cũng không mấy ai biết mà khen vì họ đâu có bản văn gốc đem đối chiếu để mà biết những cam go, cạm bẫy mà người dịch đã trải qua, đã tháo gỡ. Ðộc giả coi đó như là chuyện tự nhiên, không thắc mắc. Chỉ khi nghe thấy cái gì lạ tai, đọc thấy cái gì gai mắt thì lúc đó người nghe, người đọc mới nhăn mặt, cau mày, chê lấy chê để. Chuyện dịch thuật , nhất là trong lúc bị công việc thúc bách, đòi hỏi ứng phó tức khắc, hoặc trong lúc phải dịch liên miên, ngày này qua ngày khác, thì “đi đêm lắm cũng có ngày gặp ma”. Ai mà chả vậy. Kể cả những dịch giả “số dzách” hoàn vũ, chắc là họ cũng biết trọng chữ thành chữ tín để không ngần ngại mà nhìn nhận rằng mình đã có hơn một lần lầm lỗi.
Tôi nhớ lại gần hai chục năm về trước trong Ban Việt ngữ Ðài BBC Luân đôn, vào đầu năm 1980, khi Chủ tịch Nhà nước Cộng sản Việt Nam Tôn Ðức Thắng từ trần, thì bỉnh bút Ðài BBC thi đó là bà Judy Stowe có viết bài ai khải (obituary) nói về công đức và sự nghiệp của ông này để cho phát thanh về Việt Nam. Trong bài viết, nữ kí giả người Anh này có dùng chữ “figurehead” để mô tả vị Chủ tịch họ Tôn. Từ “figurehead” này đã được một người bạn đồng nghiệp của tôi thời đó dịch là “bù nhìn”, thì bị một đồng nghiệp khác phản đối, cho rằng dịch như thế là không đúng, vì “bù nhìn” nghĩa là “puppet”. Tôi không nhớ là anh đồng nghiệp tố giác bạn mình dịch sai đã đề nghị chữ nào mới là dịch đúng, mà chỉ còn nhớ là nội vụ sau đó được đem ra trình với anh Trưởng ban Việt ngữ người Ăng-lê. Tưởng cũng nên nhắc lại ở đây là Chính phủ Hà-nội đã gọi Chính phủ Việt Nam Cộng hòa trước kia là “Chính phủ Nguỵ” mà tiếng Anh đã được dịch ra là “Puppet Government”, có nghĩa là “Chính phủ bù nhìn”.
Nếu gọi Ông Tôn Ðức Thắng là “bù nhìn”, dịch từ chữ “figurehead” ra, thì có đúng không? Theo tôi nghĩ, nếu chúng ta được dịp đọc kĩ lại bài viết của bà Judy Stowe để xem thêm giọng điệu, chê hay khen, của bà trong toàn bài ai khải thì may ra ta có thêm ý kiến để có thể quyết định chọn chữ nào dịch cho đúng, mà chữ đó chưa biết chừng trong từ điển chưa có, hoặc không có liệt kê dùng để dịch chữ “figurehead”.
Nói tóm lại, đi tìm cái tương đương để dịch sao cho đúng, sao cho chính xác, hay nói đúng hơn sao cho thích hợp (appropriate), không phải là chuyện dễ. Nó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, chẳng hạn như mục đích tài liệu, thể loại tài liệu, đối tượng độc giả, thực thể của hai ngôn ngữ mục tiêu.
Sydney 2004
Tài liệu tham khảo
- Baker, M. In Other Words:
- A Course Book on Translation. London: Routledge, 1992.
- Benson,M., E. Benson, R. Ilson.
- The BBI Combinatory Dictionaryof English. Amsterdam: John Benjamins, 1993.
- Berlin, B.& P. Kay.
- Basic Color Terms: Their Universality and Evolution. Berkley: University of California Press, 1991.
- Carroll, J.B. (ed)
- Language, Thought, and Reality (Selected Writings of Benjamin Lee Whorf). Cambridge: MIT Press, 1956.
- Carter, R.
- Vocabulary: Applied Linguistic Perspective. London: Allen & Unwin, 1987.
- Collins Cobuild
- English Dictionary. London: HarperCollins, 1995.
- Ðào, Duy Anh.
- Hán Việt Từ điển (ấn bản in lại). Hồ Chí Minh: NXB TP HCM, 1996.
- Ðào, Thản.
- “Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc của tiếng Việt trong sự liên hệ với mấy điều phổ quát”. Trong tạp chí Ngôn ngữ. Số 2. Hànội: Viện Ngôn ngữ học, 1993.
- Fernando, C.
- Idioms and Idiomacity. Oxford: Oxford University Press, 1996.
- Hartmann, R. R. K.
- “Equivalence in Bilingual Lexicography: From Correspondence Relation to Communicative Strategy”. Papers and Studies in Contrastive Linguistics. Jacek Fisiak (ed.). Poznan: Adam Mickiewics University. Vol. 22 (1988), 2128.
- Hoàng, Phê.
- Từ điển Tiếng Việt. Hà-nội: NXB Giáo dục, 1996.
-
Kirkpatrick,E.M. and C.M. Schwarz (eds).
- Idioms. Edinburgh; Chambers, 1991.
- Lyons, J.
- Introduction to Theoretical Linguistics. London: Cambridge University Press, (1971).
- Mai, Ngọc-Chữ, V. Ð, Nghiệu, H.T. Phiến.
- Cơ sở Ngôn ngữ học và Tiếng Việt. Hànội: NXB Ðại học và Giáo dục Chuyên nghiệp, 1991.
-
Nattinger, J.R. and J.S. DeCarrico.
- Lexical Phrases and Language Teaching. Oxford: Oxford University Press, 1992.
- Newmark, P.
- A Textbook of Translation. London: Prentice Hall, 1988.
- Nguyễn, Ðình-Hoà.
- Vietnamese (Tiếng Việt không son phấn). Amsterdam: John Benjamins, 1997.
- Nguyễn, Như-Ý, N.V. Khang, P.X. Thành.
- Từ điển Thành ngữ Việt nam. Hànội: NXB Vănhóa, 1993.
- Thompson, L.C.
- A Vietnamese Grammar. Seattle: University of Washington, 1965.
© 2004 talawas