Nguyễn Hoàng Văn
Nước Mỹ cái thời đường hoả xa chưa nối liền hai bờ biển lớn, những ngả đường thiên lý và những dấu chân dọ dẫm vận may. Một thị trấn gắt nắng và gã cao bồi đỏ bụi giang hồ. Lạnh lùng, khinh bạc với khẩu súng sáu xề xệ bên hông cùng túi bạc trên vai, gã khệnh khạng bước vào quán rượu. Mấy em điếm xum xoe mời mọc ái tình và một tay chơi địa phương nóng mặt ba gai. Chẳng nói chẳng rằng, gã điệu đàng nhét cả nắm tiền vào nịt ngực một em điếm nõn nà, gườm gườm hai con mắt dí điếu xì gà quặn khói vào ly Whisky vàng óng, rồi, trong chớp mắt, quả knock-out thần sầu đã phóng ra tự lúc nào, như gió. Tay chơi tỉnh lẻ ôm mặt máu quằn quại trên sàn gỗ và cuộc vui khựng lại. Bao con mắt dồn về. Ai dám trái ý gã? Súng hay sức, gã chơi được tất, mà chơi rất thiện nghệ. Ðã thế lại thêm túi bạc kè kè. Gã làm ra lẽ phải. Gã là hiện thân của công lý.
Suốt cả một thời, huyền thoại về người hùng của nước Mỹ cũng đều đều, từa tựa như vậy đó; cái huyền thoại lấp lánh hào quang nhưng lại ẩn chứa bao điều bệ rạc, tồi tàn và hung ác bên trong, như đã hé mở qua những thước phim cao bồi về chiều Unforgiven. Và cái… nước ấy cũng từa tựa như thế. Xem mình là ngọn hải đăng của thế giới tự do, là thành trì của những giá trị dân chủ, con đường “nghĩa hiệp” mà Mỹ theo đuổi suốt một thời cũng bao hàm những thực tại bệ rạc và tồi tàn như thế. Ðó là họng súng, nắm đấm, và túi tiền. Ðó là thứ lẽ phải gắn liền với những lợi lộc nào đó. Một đế quốc. Nhưng phải nói thêm: đế quốc cao bồi.
Nếm mùi… cao bồi ấy sớm nhất, phải kể đến Mexico. Porfiario Diáz, Tổng thống Mexico từ năm 1877 đến 1911, đã than thở: “Khốn nạn thay cho tổ quốc của chúng ta. Thượng Ðế thì xa quá mà nước Mỹ lại gần quá!” Hẳn là… nhất Mỹ nhì Trời: Thượng Ðế xa quá nên thản nhiên như chỗ không người. Trong cuộc chiến Mỹ-Mễ 1846-1848, Mexico bị buộc phải cắt dâng cho Mỹ gần một phần hai lãnh thổ của mình, tuy nhiên, qua những thước phim, hay những trang sách phiên lưu rặt giọng cao bồi, người Mexico bao giờ cũng xuất hiện như một phường vô lại ngày cướp bóc người dân Mỹ lương thiện. Trăm năm sau, vị anh hùng thuở nọ đã thay đổi hình tướng, bao phen, từ cớm độc Harry cho đến biệt kích Rambo, cái… nước ấy vẫn tiếp tục khệnh khạng một phong thái như thế và, tiếp nối lời than thở của Diáz, lại có bà Buhto, cái ngày còn ngồi ghế thủ tướng Pakistan: “Làm kẻ thù của Mỹ có khi còn dễ chịu hơn là làm đồng minh của Mỹ!”
Một đế quốc như thế, trong những ngày khai phá và bành trướng, có thể hiện một phong cách cao bồi với láng giềng kề cận thì cũng thường thôi. Ðiều đáng nói là khi nó được nâng thành lý thuyết như một thứ văn minh chính trị. Khởi thuỷ, một lý thuyết ngoại giao như thế đã được TT James Monroe công bố trước quốc hội Mỹ ngày 2.12.1823, trong một cương lĩnh gọi là “Chủ thuyết Monroe”. Chủ thuyết này bao gồm ba yếu tố chính: thứ nhất, chấm dứt việc khai phá thuộc địa của Âu Châu tại Châu Mỹ Latin; thứ hai, nền chính trị Mỹ sẽ tách rời nghị trình chính trị của Âu châu; thứ ba, Âu châu không có quyền can thiệp vào công việc “nội bộ” của… Tân thế giới. Như vậy, có nghĩa là, sau khi đã cướp hẳn cái tên America của nguyên một lục địa: United States of America, nước Mỹ lại vươn lên làm chủ cả châu lục: Mỹ châu là của người Mỹ, Âu châu hãy xéo đi! Nhiều sử gia tin là Monroe còn muốn răn đe Nga vì nước này đang lăm le dòm ngó khu vực Bắc Mỹ; tuy nhiên, trong giai đoạn này, Mỹ chưa thể nắm được ưu thế tuyệt đối nên Chủ thuyết Monroe dành hẳn một biệt lệ đối với những thuộc điạ của Âu châu: Những phần đất đang bỏ ngỏ mới là của Mỹ, Mỹ thừa nhận những thuộc địa hiện hữu của Âu châu nhưng họ phải chấm dứt việc bành trướng thuộc địa.
Ðến năm 1895 thì cuộc đối đầu với Anh qua cuộc tranh chấp biên giới giữa Venezuela và thuộc điạ Guiana đã thổi bùng những ý thức quốc gia nhuốm màu chauvinism tại Mỹ, và để bảo vệ quyền lợi quốc gia, Mỹ cần phải mạnh hơn. Và như thế, kể từ thời TT Grover Cleveland, ngân sách quân sự, nhất là với hải quân, được gia tăng đáng kể. Khi đã tự tin hơn với móng vuốt này, đế quốc cao bồi lại càng nghênh ngang và càng làm nhiều chuyện động trời hơn nữa. Thậm chí, chỉ trong vòng mấy mươi tiếng đồnng hồ nó đã có thể tạo nên một quốc gia mới, như trường hợp Panama.
Panama vốn là một phần của lãnh thổ Colombia, một mãnh đất mà Mỹ vẫn nhỏ dãi thèm thuồng. Khi Mỹ đề nghị mua đứt khu vực có con kênh đào với giá 10 triệu dollars và đã bị Thượng nghị viện Colombia, nhóm họp vào tháng Tám 1903, thẳng thừng bác bỏ. Tức giận, TT Mỹ Theodore Rooselvelt miệt thị những kẻ không tôn trọng quyền lợi Mỹ kia như “những súc vật nhỏ nhoi tởm lợm” và ra lệnh khuấy động phong trào ly khai Panama. Manuel Amador, một chính khách địa phương được Mỹ chọn mặt gởi vàng và, thế là, ngày17.10 năm đó, ông ta cùng vài “đồng chí” khác cùng đến Mỹ để sắp đặt chương trình cách mạng chống lại “ách thống trị” Colombia.
Chỉ một ngày sau, ngay tại New York, tất cả – từ “hiến pháp” cho đến “quốc kỳ” Panama – đều đã sẵn sàng. Bunau-Varilla, một kỹ sư Pháp, từng làm việc cho hãng thầu đào kênh Panama, được bổ nhiệm làm đại sứ Panama tại Mỹ. Có lẽ đây là vị đại sứ kỳ dị nhất trên thế giới bởi “nước” vẫn chưa ra đời và đại sứ thì chưa từng làm công dân của… nước. Hai tuần sau, ngày 3.11.1903, với tiền Mỹ, “cách mạng” đã có thể mua chuộc toàn bộ lực lượng an ninh tại Panama nhưng cũng phải đợi khi tàu chiến Mỹ tiến vào cảng Colon, họ mới… dũng cảm công bố “tuyên ngôn độc lập”. Ngày 6.11, Mỹ chính thức công nhận tân quốc gia và ngay hôm sau, phái đoàn của tân chính phủ lên đường sang Mỹ nhằm thương thảo về thoả ước kênh đào. Tuy nhiên, phái đoàn đã chậm chân: họ đến chỉ để nghe tin rằng viên đại sứ độc đáo trên đã ký kết thoả ước đã được mấy tiếng đồng hồ rồi.
Giai đoạn này Mỹ Châu Latin đang lâm vào một cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng. Vay những món nợ với lãi suất khá cao từ Âu Châu, họ mất hẳn khả năng hoàn trả và trước “tục lệ” dùng tàu chiến để đòi nợ khá phổ biến lúc bấy giờ, Luis M. Drago, Ngoại trưởng Argentina, ra sức vận động một điều ước quốc tế nhằm ngăn cản những phương thức đòi nợ võ biền này. Tuy nhiên, đoán trước ý đồ đó, ngày 3.12.1902, TT Theodore Rooselvelt lại minh định thái độ không can thiệp với điều kiện những chủ nợ Âu châu không có ý định ở lỳ tại châu lục mà tổ quốc mình đã giật mất cái tên.
Venezuela là một thí dụ khác. Giành được quyền bính trong tay, nhà độc tài Cipriano Castro đã ra lệnh xoá nợ và mặc tình cho thủ hạ chiếm hữu hoá tài sản của người ngoại quốc, đa số là người Âu. Không phải Castro không sợ tàu chiến Âu châu mà mấu chốt của vấn đề là ông ta tin tưởng vào Chủ thuyết Monroe. Tuy nhiên, với chiếc đèn xanh đã bật từ bài diễn văn của Rooselvelt; những hạm đội của Anh, Ðức và Ý, đã rầm rộ ra khơi… đòi nợ. Ðường biển bị phong toả, tàu bè bị đánh đắm hay bị tịch thu, thành phố, hải cảng bị pháo kích, Cipriano vội vã cầu cứu Mỹ và Mỹ lại ngoảnh mặt làm ngơ: Âu Châu vẫn tỏ ra biết điều, vẫn chưa dám chà đạp những nguyên tắc của Chủ thuyết Monroe. Vấn đề, như thế, lại được đưa ra trước Toà án Quốc tế và khi bản phán quyết của Toà án Hague ngày 22.2.1904 chính thức nhìn nhận hành động đòi nợ bằng tàu chiến.
Nhưng điều này lại khiến Mỹ lo lắng: nếu tàu chiến Âu Châu có thể danh chính ngôn thuận xuất hiện tại châu Mỹ Latinh với lý do nợ nần, họ cần phải xem xét lại chủ thuyết đối ngoại. Ðường lối ngoại giao Mỹ, từ đây, lại được nâng cấp với cương lĩnh Roosevelt Corollary, do Theodore Rooselvelt công bố ngày 6.12.1904. Vị tổng thống thứ 26 của Mỹ nghiêm giọng cấm ngặt bất kỳ sự can thiệp của những chính quyền phi-Mỹ trong những vấn đề của Mỹ Châu Latin, đồng thời tự giao cho Mỹ sứ mạng của sen đầm khu vực, kẻ có nhiệm vụ đoan chắc những quốc gia con nợ phải “hoàn thành nghĩa vụ quốc tế” của mình. Có thể xem Dominican như một trường hợp tiêu biểu: để khỏi lâm cảnh nợ nần, xứ sở nhỏ bé này có “nghĩa vụ” phải chấp nhận một cố vấn kinh tế Mỹ trong nội các, và sau đó là “nghĩa vụ” phải bổ nhiệm viên cố vấn đó vào vị trí cầm cân nẩy mực hệ thống tài chính tại đây.
Tuy nhiên, vấn đề vẫn chưa được giải quyết tận gốc rễ. Ðiều quan trọng là Mỹ phải thay thế Âu châu ở vị trí chủ nợ. Như một mũi tên bắn vào hai đích, Mỹ muốn gạt Âu châu ra khỏi Mỹ châu Latin và hợp pháp hoá quyền can thiệp bằng vũ lực tại khu vực với tư cách chủ nợ. Thế cho nên khi William Howard Taft kế nhiệm Roosevelt vào năm 1909, ngoại trưởng của ông ta, Philander Knox, lại khởi xướng chính sách ngoại giao con bê vàng, tức đã đến lúc phải sử dụng túi bạc kè kè. Ðường hướng này có thể tóm tắt vào những chu kỳ như thế này: những ngân hàng Mỹ “tích cực” cho những quốc gia trong khu vực vay tiền và chính phủ Mỹ sẽ “tích cực” bảo vệ quyền lợi của công dân mình trong trường hợp cần thiết. Như thế, trong trường hợp “cần thiết”, quân đội Mỹ sẽ gánh vác trách nhiệm vãn hồi trật tự và sau đó tổ chức bầu cử nhằm thiết lập một chính quyền “ổn định” và dĩ nhiên là phải thân Mỹ.
Nicaragua là một khổ chủ tiêu biểu. Với Mỹ, xứ sở này có một vị trí chiến lược đầy ý nghĩa: tàu bè Mỹ ra vào kênh đào Panama đều phải băng qua hải phận Nicaragua. Tuy nhiên, dưới bàn tay cai trị của nhà độc tài José Zeleya (1893-1910) xứ sở này trở thành một cái gai trong con mắt Mỹ khi chỉ biết… vay nợ từ những ngân hàng Âu châu và thế là, năm 1909, một nhóm quân nhân thân Mỹ đã ra tay lật đổ José Zaleya. Tuy nhiên, một năm sau cái ngày hát khúc khải hoàn, những nhà lãnh đạo mới này vẫn chưa được Mỹ công nhận. Ðiều kiện? Nicaragua phải vay tiền Myõ để rũ sạch những món nợ Âu Châu. Mỹ phải nắm lấy độc quyền làm chủ nợ cái đã! Nhưng chưa đủ: Nicaragua còn phải chuyển giao ngành quan thuế cho các viên chức Mỹ kiểm soát, một hình thức chèn ép mà không một quốc gia có chút xíu tự trọng nào dễ dàng chấp nhận. Tháng 12.1911, khi Knox đơn phương công bố “Mỹ hoá” ngành quan thuế tại đây, bạo động đã bùng nổ và thế là, “cây gậy” Mỹ lại có dịp dùng đến với những chiến hạm bên bờ biển và thủy quân lục chiến trên đất liền. Họ phải vãn hồi trật tự để “bảo vệ” những khoản tiền đã ép buộc Nicaragua vay mượn. Một thứ công lý của những kẻ vừa có súng trong tay, vừa có tiền trong túi!
Với túi tiền dày cộm và với những họng súng đen ngòm, đế quốc cao bồi ấy đã ngang ngược bóp ngẹt hầu bao của bao kẻ yếu và chỉ chấp nhận mỗi một thứ công lý riêng của mình. Người Mỹ châu Latin, hơn lúc nào hết, thực sự thấm thía nổi lòng của Diáz: Thượng Ðế thì xa quá, nước Mỹ thì gần quá.
Cả TT Woodrow Wilson, người kế nhiệm Taft, cũng đã chỉ trích tính cách phản đạo đức ở chính sách ngoại giao đô-la kè kè họng súng: năm 1913, sau khi nhậm chức, Wilson đã nêu lên những bất công giữa Mỹ và những quốc gia phương nam: những đặc quyền đặc lợi ê hề của Mỹ dưới mỹ từ “nhân nhượng” nhưng nước Mỹ chưa bao giờ “nhân nhượng” ai cả. Nhưng lý tưởng thì lý tưởng, Wilson chỉ đả kích chính sách của người tiền nhiệm cho sướng mồm; và, càng đả kích bao nhiêu, ông ta càng củng cố vị trí và quyền lợi Mỹ tại khu vực này bấy nhiêu. Năm 1918, sau Ðệ nhất thế chiến, với “Cương 14”, Wilson lại tô vẽ đường lối ngoại giao bề trên mới dưới ánh hào quang “phổ quát hoá” giá trị Mỹ trên toàn thế giới.
Nhưng thế nào là giá trị Mỹ? Có phải đó là thứ huyền thoại anh hùng và những gã cao bồi với những hình ảnh bệ rạc, tồi tàn và hung ác che phủ dưới lớp hào quang lấp lánh bên ngoài? Có phải đó là những phiên họp ở ngọn đồi Capitol, nơi – như Anatole Frank đã ẩn dụ diễn tả trong Penguin Island – những thành viên nối tiếp nhau yêu cầu những cuộc chiến tranh sắt, những cuộc chiến tranh than, những cuộc chiến tranh chuối? Hay, như sau này, những nhãn hiệu Coca Cola, McDonald, hay những biểu tượng Holywood? Bất cứ nơi dính dáng đến quyền lợi chiến lược của Mỹ, nhất định nơi đó, ít hay nhiều, sẽ lởn vởn những trò chính trị cao bồi: những trò phá thối, những cuộc đảo chính đẫm máu, bất nhân hay cuộc bầu cử gian manh, bởi, Mỹ phải tạo cho kỳ được những chính phủ tuyệt đối phục tùng mình mới thôi. Cứ thế, kể từ những ngày chập chững của Chủ thuyết Monroe, thì với Mỹ, Thượng Ðế bao giờ cũng… xa quá. Mà thực. Lúc nào Thượng Ðế cũng đủ cách xa để những nơi chốn cách trở đến nửa vòng trái đất cũng có thể trở nên gần quá. Việt Nam chẳng hạn: 1963, Huế với Sài Gòn; 1973, Hà Nội, Sài Gòn và Paris; rồi 1975, sau khi cộng thêm hai năm decent interval…
Tài liệu tham khảo
Horowitz, D. 1967. From Yalta to Vietnam. Penguin Book.
Kennan, G. K. 1968. American Diplomacy, 1900-1950. New York: Mentor Book.
Schulzinger, R. D. 1984. American Diplomacy in the 20th Century. Oxford University Press.