Các bạn thơ, bạn văn thân quí,
Sau bức thư ngỏ gởi đi vào ngày 18 tháng 3, 2003 tới nay chúng tôi đã nhận được một đáp ứng tích cực – tích cực ít ra là hơn sự dự phỏng của người gởi thư ngỏ. Ðáp ứng ấy của các bạn đã làm nên diễn đàn Thi Giới Chống Chiến Tranh.
Cuộc chiến thì đã không có gì ngăn được. Cho tới giờ này, sự hành sử cuộc chiến và hậu quả của nó ra sao, nó nằm trong quán sát và tư duy của từng mỗi người (và mỗi con người thì độc lập trong chỗ đứng).
Hôm nay tôi mạn phép thông báo danh sách các bạn đã tích cực đứng vào Thi Giới Chống Chiến Tranh.
Sự thông báo này hoàn toàn không mang tính “biểu dương” dù trong ý nghĩa nào của từ này. Nó chỉ xác định, một cách khiêm tốn, sự hình thành của một cái gì cho hiện tại, mà cũng ôm cả trong đó hy vọng ở tương lai. Nó nói lên ít nhất cũng là một chia xẻ với những nạn nhân của chiến tranh những đau buồn chịu đựng của họ. Chia xẻ trong tâm tưởng, trong thế phận làm người, chứ những niềm đau và mất mát thì không bao giờ có thể hoán chuyển. Nó nói lên ưu tư cho công chính. Nó nói lên ý thức rằng ở cuộc chiến nào thì rồi kẻ bại trận rốt cuộc vẫn là nhân dân. Và những tổn thất sinh mạng của con người trong một đất nước bị thảm hoạ chiến tranh, là những gì không thể bù đắp được. Nó cũng gói ôm hy vọng là sau cùng con người sẽ ý thức được phi lý ấy và sẽ tìm kiếm được những cách thế giải quyết dị biệt ôn hoà và thận trọng.
Chiến tranh, hoà bình là vấn đề cấp thiết. Người cầm bút ý thức điều ấy. Thơ và những cái viết của các bạn gởi về cho Thi Giới nói lên ý thức ấy.
Thi Giới Chống Chiến Tranh vẫn tiếp tục mở rộng cho các bạn đứng vào và gởi bài vở liên quan tới chiến tranh, hoà bình.
Cảm ơn tất cả, tôi không thể không mượn dịp này để gởi các bạn một đoạn viết mà tôi tâm đắc. Trích đoạn sau đây của nhà văn Albert Camus. Nó nằm trong một bài viết xuất hiện lần đầu ở nhật báo Combat mà Camus là một nhà văn giữ phần biên tập và xã luận, và được đăng lại trong Instead of Violence (Thay Vì Bạo Ðộng) do Arthur và Lila Weinberg biên tập
Thân ái,
Thường Quán
14/04/2003
Albert Camus
Về một cuộc giằng co không thôi giữa bạo động và đối thoại, thuyết phục ôn hoà …
Chúng ta bị yêu sách phải yêu hay ghét một quốc gia nào đó, một dân tộc nào đó. Nhưng một số trong chúng ta đang cảm thấy nhân tính và tình đồng loại là một cảm giác qúa mạnh để phải đáp ứng yêu sách kia. Những ai thực sự yêu dân tộc Nga, khi tri ân những gì mà dân tộc này không ngừng thể hiện – một chất men tinh thần của thế giới mà Tolstoy và Gorky nói tới – sẽ không mong cầu cho họ thành công trong trường chính trị quyền lực, mà thay vì thế mong mỏi sao cho họ, sau những tai ương của quá khứ, đừng bị rơi vào một cuộc lưu huyết mới kinh thiên hơn. Cũng thế, với dân tộc Mỹ, và với nhiều dân tộc của một Âu Châu sầu khổ . Ðây là loại chân lý cơ bản nhất mà chúng ta có khuynh hướng dễ quên nhất giữa những triều uất bi phẫn hận của thời đại chúng ta .
Vâng, chính sự hãi sợ và lặng im và sự cô lập tâm linh gây ra bởi hãi sợ và lặng im này phải được chiến đấu chống lại. Và chính cuộc đối thoại với kẻ khác, sự thông tri liên đới chung khắp mọi con người phải được bảo vệ. Nô lệ, bất công và dối láo phá huỷ đối thoại và giao lưu; và vì thế chúng ta phải lên tiếng khước từ. Tuy nhiên những tai ác ấy giờ đây đang là ruột rà gân cốt của lịch sử, và vì thế nhiều người đang xem chúng là những tai ác cần thiết . Quả thực là chúng ta không thể “trốn thoát khỏi lịch sử”, bởi vì chúng ta nằm lọt trong lịch sử ấy, loi ngoi khỏi đầm lầy ấy một cái đầu. Thế nhưng, đứng bên trong lòng lịch sử, một cá nhân có thể đề xướng chống lại cái phi nhân để bảo tồn phần cốt lõi của con người mà lịch sử không thể xâm phạm được. Ðiểm mà tôi muốn nêu ra có thể được đúc kết như sau:
Những quốc gia hiện đại đang bị thúc đẩy bởi những xung lực, thế lực cường mạnh dọc đường tiến quân của quyền uy và chinh phục. Tôi sẽ không nói rằng những thế lực này nên được thúc đẩy hay nên bị cản trở. Họ không cần tới sự giúp sức của chúng ta, và ngay lúc này, họ sẽ cười nhạo vào những toan tính cản trở họ. Họ sẽ tiếp tục. Tôi chỉ muốn nêu một câu hỏi đơn giản như thế này: Nếu, giả nếu, những thế lực, xung lực ấy sau những mũi tấn kích sẽ sau rốt đâm sầm vào một con ngõ cụt. Nếu, giả nếu, lô gíc lịch sử mà nhiều người đang dựa vào để nói năng và hành động tới giờ hiện mặt thực chỉ là những bóng ma trơi, giả nếu thế thì điều gì sẽ xảy ra? Nếu, mặc dù đã có hai cuộc đại thế chiến, mặc dù đã có sự hy sinh của nhiều thế hệ và nguyên toàn bộ một hệ thống những giá trị, thì con cháu của chúng ta – và giả như chúng sống sót – vẫn tìm thấy chúng không tiến gần hơn tới một xã hội liên đới và mở rộng, gọi là xã hội thế giới, thì điều gì sẽ xảy tới? Rất có thể những kẻ sống sót của kinh nghiệm ấy sẽ quá suy nhược để hiểu khổ đau và chịu đựng của chính mình. Bởi vì những thế lực này đang tìm kiếm ra được những chỗ đứng thuận lợi, và vì sự tiếp tục bành trướng của họ về một hướng tương lai là một điều hiển nhiên, không có lý do gì một số trong chúng ta sẽ từ nan đảm nhận một trách vụ nuôi dưỡng – nuôi qua suốt con đường lịch sử kinh thiên trải dài trước mặt – một tư duy đầy đặn, sâu lắng khiêm tốn; một tư duy không giả vờ sẽ giải quyết toàn bộ mọi thứ, cứ sẽ kiên trì liên tục sắp sẵn dọn mình cho việc đem lại một ý nghĩa mang khuôn mặt người cho đời sống hàng ngày tự mỗi mặt trời lên tự một đêm dài tới. Ðiều cốt yếu nhất nhất kia là: con người ta nên cân đo thận trọng cái giá mà họ phải trả.
Rốt lại, nếu có một điều tôi đòi hỏi đợi mong thì điều đó là: giữa một thế giới người giết người, chúng ta đồng ý sẽ trầm tư quán niệm về hành vi giết người ấy, và rồi tự mình mỗi người có một lựa chọn. Sau đó, chúng ta có thể phân biệt được một bên là những ai chấp nhận hệ quả của việc sát nhân – hoặc là chính tay ta thủ phạm hoặc ta là đồng lõa dự phần, và một bên là những ai từ chối làm thế, một khước từ mạnh mẽ trong tỏ bày và bằng chính bản thể. Bởi vì đường ranh giới kinh khủng này thực sự hiện hữu, nó sẽ là một điều thu gặt tốt lành khi nó được tô đậm lên một lần nữa. Suốt cả năm châu lục trong những năm sắp tới một cuộc đấu tranh mải miết sẽ được theo đuổi giữa một bên là bạo hành bạo động và một bên là thuyết phục ôn hòa bầu bạn, một cuộc đấu tranh ở đó, nếu được phép cái trước sẽ có cả nghìn cơ hội lớn hơn để thành công hơn cái sau. Nhưng tôi mãi mãi vốn tin rằng, nếu một người đặt hết những hy vọng của mình vào bản tính của con người là một kẻ khờ khạo, thì những ai buông xuôi tay trước nghịch cảnh cũng là một anh hèn nhát. Và nếu thế, con đường đáng trân quí duy nhất sẽ là sự đặt tất cả lên một ván cờ hồng hào năng lực: rằng chữ lời có sức mạnh hơn vũ khí.
(1946)
Away, Hà Nội, Vietnam
Bạt Xứ, Dili, East Timor
Bình Minh, Paris, France
Chim Hải, Sydney, Australia
Cổ Ngư, Paris, France
Đàm Quang Tùng, Hà Nội, Vietnam
Đào Tuấn, Brussels
Đinh Cường, Virginia, USA
Đinh Linh, USA
Đinh Phạm Quỳnh Châu, Hà Nội, Vietnam
Đinh Trường Chinh, Fairfax, Virginia, USA
Đỗ Kh., Yorba Linda, California, USA
Đỗ Minh Tuấn, Hà Nội, Vietnam
Đỗ Quang Nghĩa, Limburg, Germany
Đỗ Quyên, Toronto, Canada
Dương Tuờng, Hà Nội, Vietnam
Hà Vũ Trọng, Toronto, Canada
Hà Duy Hưng, Hà Nội, Vietnam
Hoa Độ, Paris, France
Hoa Thi, Ammon, Idaho, USA
Hoàng Hưng, Hà Nội, Vietnam
Hoàng Ngọc Tuấn, Sydney, Australia
Hoàng Quốc Hải, Hà Nội, Vietnam
Hoàng Xuân Sơn, Canada
Kacheong, HongKong
Khánh Hà, Oslo, Norway
Khế Iêm, Westminster, California, USA
Khương Hà, Đồng Nai, Vietnam
Kim Anh, Saigon, Vietnam
Kim Yến, Germany
Lê An, Berlin, Germany
Lê Đạt, Hà Nội, Vietnam
Lê Hân, Ontario, Canada
Lê Minh Hà, Limburg, Germany
Lê Nghĩa Quang Tuấn, San Francisco, USA
Lê Thị Thấm Vân, Los Altos, California, USA
Lê Trọng Phương, Bonn, Germany
Luân Hoán, Montreal, Canada
Lưu Hy Lạc, USA
Lưu Linh, Georgia, USA
Mạch Nha, Paris, France
Mai Chi, Wien, Austria
Mai Ninh, Caen, France
Miêng, Paris, France
Ngô Thanh Nhàn, New York, USA
Ngô Thu Hiền Taylur, Los Angeles, USA
Ngô Tự Lập, Hanoi, Vietnam
Nguyễn Bình, Hà Nội, Vietnam
Nguyễn Chi Hoan, Hà Nội, Vietnam
Nguyễn Đăng Thường, London, England
Nguyễn Đăng Tuấn, Toronto, Canada
Nguyễn Hoài Phương, Germany
Nguyễn Hoàng Tranh, Sydney, Australia
Nguyễn Hưng Quang, Hà Nội, Vietnam
Nguyễn Hữu Hồng Minh, Hồ chí Minh, Vietnam
Nguyễn Hữu Viện, Paris, France
Nguyễn Quí Đức, San Francisco, California, USA
Nguyễn Tấn Nghĩa, Vietnam
Nguyễn Thị Hồng, Hà Nội, Vietnam
Nguyễn Thị Ngọc Diễm, Nancy, France
Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Orange, California, USA
Nguyễn Thị Thanh Bình, Virginia, USA
Nguyễn Xuân Hoàng, San Jose, California, USA
Phạm Hải Anh, Amsterdam, Holland
Phạm Miên Tưởng, Sydney, Australia
Phạm Quốc Thăng, Sài Gòn, Vietnam
Phạm Thị Hoài, Berlin, Germany
Phạm Trần Hải Hà & Nguyễn Thu Thủy, Vietnam
Phạm Xuân Nguyên, Vietnam
Phan Tấn Hải, Westminster, California, USA
Phan Thị Trọng Tuyến, Rouen, France
Phan Thị Vàng Anh, Vietnam
Phùng Nguyễn, Bakersfield, California, USA
Poisson, Cẩm Thi Đoàn, Paris, France
Poisson, Emmanuel, Paris, France
Tạ Duy Bình, Sydney, Australia
Tài Lực, Paris, France
Thận Nhiên, Seattle, Washington, USA
Thơ Thơ, Westminster, California, USA
Thường Quán, Melbourne, Australia
Trần Đình Lương, Sydney, Australia
Trần Mộng Tú, Seattle, Washington, USA
Trân Sa, Toronto, Canada
Trần Thị Trường, Hà Nội, Vietnam
Trần Trọng Hoàng Bách, SàiGòn, Vietnam
Tùng Linh, Paris, France
Uyên Nguyên, Sydney, Australia
Vi Hòa, Sydney, Australia
Vũ Huy Quang, San Jose, California, USA
Vũ Ngọc Thăng, Toronto, Canada
Y Chi, Sydney, Australia
Y Nguyên, Paris, France
Ý Nhi, Toronto, Canada