trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
25.10.2004
Ngô Quốc Phương
Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học – Những khiá cạnh thiết chế hoá
 

Trong số nhiều mốc phát triển về mặt chính sách mà giáo dục Việt Nam đạt được từ đổi mới đến nay, bên cạnh hệ thống các văn kiện mang tính pháp lệnh, định hướng, chỉ đạo chiến lược thuộc hệ thống đảng [1] , riêng trong lĩnh vực giáo dục Đại học và liên quan đến nó, có thể kể đến một việc quan trọng mà Việt Nam đã làm được về mặt chính sách quản lý vĩ mô như sau:

  • Ban hành Luật Giáo dục (02/02/1998)
  • Phê duyệt «Quy hoạch mạng lưới trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2001 – 2010» (04/4/2001)
  • Phê duyệt «Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010» (28/12/2001)

Nếu chỉ tính riêng giai đoạn đã được tổng kết từ 1986 – 1996 [2] , giáo dục và đào tạo nói chung và giáo dục đại học, cao đẳng Việt Nam nói riêng, đã làm một số việc quan trọng khác:

  • Cấu trúc lại hệ thống giáo dục quốc dân (trong đó có hệ thống giáo dục đại học).
  • Sắp xếp lại mạng lưới các cơ sở giáo dục – đào tạo (trong đó đặc biệt ở giáo dục đại học).
  • Đa dạng hoá các loại hình giáo dục – đào tạo.
  • Xã hội hoá giáo dục (mà từ khoá là huy động tối đa các nguồn lực và chủ thể xã hội tham gia GD-ĐT). [3]
  • Dân chủ hoá giáo dục.
  • Thực hiện chính sách mở cửa trong giáo dục – đào tạo (trong đó hợp tác quốc tế và khu vực được coi là một trục chức năng có vai trò ngày càng lớn nhằm phát triển giáo dục đại học một cách bền vững).
  • Gắn đào tạo với nghiên cứu, thực nghiệm khoa học và lao động sản xuất (nhất là ở bậc ĐH, CĐ).

Gần đây, một số lĩnh vực và công việc có tầm vóc quan trọng khác cũng đã và đang được triển khai, có liên quan mật thiết đến quản lý giáo dục đại học, trong đó, có thể đặc biệt kể đến:

  • Trao và đồng thời quy định quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học, cao đẳng. [4]
  • Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học. [5]
  • Xây dựng bộ chính sách giáo dục đại học. [6]
  • Quy chế trường đại học tự thục. [7]

Riêng trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, điều mới và đáng khích lệ là lần đầu tiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã thành lập «Phòng kiểm định chất lượng đào tạo», được đặt trong Vụ Đại học và sau đó, Chính phủ đã có nghị định thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng (Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003). Đây là các cơ quan chuyên trách có thẩm quyền chuyên môn cao , vừa đóng vai trò tham mưu cho ngành, vừa trực tiếp xây dựng, quản lý, hướng dẫn, theo dõi, đánh giá… trên quy mô lớn đến tận cấp cơ sở việc đảm bảo chất lượng giáo dục (mà thực chất là dựa trên hệ thống chuẩn quốc gia) ở các trường đại học và cao đẳng Việt Nam, ở cả các cấp đào tạo đại học và sau đại học. [8] Giới nghiên cứu về giáo dục trong nước rất quan tâm đến sự kiện này và coi đây là một bước đi dài trong việc chuẩn hoá và đảm bảo chất lượng giáo dục đại học cho Việt Nam, một động thái «thiết chế hoá» chức năng quản lý giáo dục ở cấp vĩ mô cần thiết.

Thực ra, từ lâu, đã có mong muốn đẩy mạnh việc phát triển một hệ thống cơ quan chuyên môn độc lập (ngoài hệ thống nhà nước), cơ quan quản lý chuyên môn (thuộc hệ thống nhà nước), có quan hệ tương tác tích cực, có tầm vóc quản lý và vị thế chuyên môn đủ lớn, có tiếng nói độc lập khác nhau, bổ sung nhau, trong lĩnh vực này.

Hiện nay, cơ quan, từ phía quản lý nhà nước về giáo dục, đã được thành lập. Hy vọng công tác kiểm định chất lượng giáo dục từ nay có thể vươn rộng các chức năng của mình ra bên ngoài hệ thống giáo dục đại học. Vì thực ra, giáo dục đại học là một tiểu hệ thống trong toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân và lại có thể coi là một trong những tiểu hệ thống kế thừa đầu ra (outputs)và tương tác với của các tiểu hệ thống GD-ĐT khác.

Chúng tôi xin trình bày ở đây một lô-gíc tổ chức-chức năng được thao tác hoá và nhấn mạnh sự cần thiết của việc thiết chế hoá một số cấu trúc của đảm bảo chất lượng và chính sách giáo dục đại học thông qua việc giới thiệu và bàn về khả năng tích hợp một số cấu trúc chức năng trong đảm bảo chất lượng đại học ở Việt Nam và mô hình đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ trong cơ sở đào tạo đại học. Chúng tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng, mọi hệ thống giải pháp, dù là tiếp cận từ góc độ bộ phận, cần phải có cái nhìn hệ thống luận so với tổng thể vấn đề của toàn hệ thống mà mình nghiên cứu, xử lý hoặc tham góp. Cái nhìn đó không nên đơn giản hoá vấn đề mà ngược lại cần tôn trọng các cấp độ phức tạp của vấn đề của tổng thể hệ thống được nghiên cứu.

I. Sự cần thiết của việc thành lập đơn vị nghiên cứu, hỗ trợ chính sách nội bộ trong trường đại học:



Trước khi bắt đầu, chúng tôi muốn lưu ý rằng, giữa đảm bảo chất lượng giáo dục đại học và lĩnh vực nghiên cứu chính sách giáo dục đại học có mối quan hệ hết sức khăng khít. Cả hai đều là các tiểu lĩnh vực của quản lý giáo dục đại học, trong đó, bản thân đảm bảo chất lượng giáo dục đại học vừa là một lĩnh vực tác nghiệp quản lý, vừa theo một nghĩa nào đó, nằm trong hệ thống chính sách quản lý giáo dục (chính sách đảm bảo chất lượng giáo dục). Mặt khác, như sẽ trình bày ở phần sau của báo cáo, các chức năng của cả hai lĩnh vực đảm bảo chất lượng và nghiên cứu, tư vấn chính sách giáo dục đại học đều có thể được triển khai trong khuôn khổ các cấu trúc chức năng thiết chế hoá mà chúng tôi tạm gọi là các đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ.

Ngoài ra, một điều cần lưu ý khác là, như chúng ta đã biết, các hình thức cấu trúc, tổ chức và các thiết chế đều bắt nguồn từ việc xem xét các chức năng của hệ thống hay tổ chức giáo dục, mà trong trường hợp này là trường đại học hay cao đẳng, trong hệ thống giáo dục bậc cao. Đến lượt nó, các chức năng của tổ chức hay hệ thống giáo dục lại bắt nguồn từ việc tiếp cận thoả mãn các nhu cầu giáo dục, đào tạo của xã hội.

Từ trước đến nay, chúng ta đã nhất trí rằng, một trong những chức năng quan trọng của giáo dục là sản xuất, tái sản xuất các giá trị văn hoá phục vụ quá trình xã hội hoá kép của các chủ thể xã hội : gia nhập đời sống văn hoá với hệ thống giá trị, chuẩn mực văn hoá, xã hội và gia nhập thế giới nghề nghiệp và chuyên môn với hệ thống các chuẩn mực và năng lực chuyên môn, nghề nghiệp. Với giáo dục đại học, một hiện tượng của các thế kỷ gần đây của nhân loại, sản xuất, tái sản xuất các giá trị phục vụ quá trình gia nhập về mặt chuyên môn, nghề nghiệp của các chủ thể xã hội có một vị trí đặc biệt và ở một trình độ cao và rất cao, nhất là trong bối cảnh các chức năng của giáo dục đại học ngày càng phát triển và đa dạng hoá.

Từ các hội nghị vừa qua của UNESCO về giáo dục và giáo dục đại học [9] như Hội nghị Thế giới về Giáo dục cho tất cả mọi người (Jomtien, Thái Lan, 1990), phiên họp lần thứ 45 của Hội nghị quốc tế về Giáo dục và Vai trò của Giáo viên trong một Thế giới đang biến đổi (Geneve, 1996), Hội nghị quốc tế về giáo dục cho người lớn (Hamburg, 1997), đến các Hội nghị khu vực tổ chức tại La Havana (11/1996) cho châu Mỹ Latinh và Caribê, tại Dakar (4/1997) cho châu Phi, tại Tokyo (7/1997) cho châu Á và Thái Bình Dương, tại Palermo (9/1997) cho châu Âu và Beiruth (3/1998) cho thế giới Ả-rập và đến Hội nghị then chốt bàn về Giáo dục Đại học trong thế kỷ 21 «Tầm nhìn và hành động» được tổ chức ở Paris (10/1998), các chức năng của giáo dục đại học đương đại dường như đã được xem xét một cách toàn diện hơn.

Người ta nhìn thấy ở giáo dục đại học các chức năng mới và quan trọng như:

  • Đối tác của phát triển: phát triển bền vững, phát triển con người bền vững, phát triển địa phương, quốc gia và khu vực. [10]
  • Đối tác của văn hoá và xã hội: với nhiều chủ đề trong đó nổi bật có tự chủ, trách nhiệm xã hội và tự do học thuật và trở thành một đối tác lớn trong tương tác giáo dục– xã hội.
  • Đối tác với bản thân giáo dục: đặc biệt khi mà giáo dục đại học được coi là chất xúc tác của toàn bộ hệ thống giáo dục quốc dân, là trung tâm của sự đa dạng, mềm dẻo đang gia tăng của các hệ thống xã hội và sự đẩy mạnh của việc học tập suốt đời, của quyền được học tập của mọi chủ thể xã hội. [11]

Tóm lại, ngoài các chức năng vốn có của nó như đào tạo và nghiên cứu khoa học bậc cao theo cung cách truyền thống của các thể kỷ trước, giáo dục đại học trong bối cảnh mới có các sứ mạng và chức năng chính sau đây [12] :

  • Đào tạo sinh viên đạt trình độ cao, hỗ trợ họ trở thành các công dân có trách nhiệm, có khả năng đáp ứng nhu cầu của các lĩnh vực hoạt động của con người bằng cách cung cấp cho họ các trình độ chuyên môn phù hợp, bao gồm đào tạo nghề nghiệp (trong đó gắn kết tri thức với các kỹ năng ở trình độ cao), bằng cách sử dụng các giáo trình và nội dung được liên tục điều chỉnh phù hợp với các nhu cầu hiện tại và tương lai của xã hội (đây là một lĩnh vực của chính sách giáo dục đại học).
  • Cung cấp các cơ hội hay không gian mở cho việc học tập đại học và học tập suốt đời, cung cấp cho người học một phạm vi lựa chọn tối ưu và sự linh hoạt trong các đầu vào và đẩu ra của hệ thống, cũng như cơ hội cho sự phát triển cá nhân và cơ động xã hội để giáo dục về ý thức quyền lợi và bổn phận công dân [13] , về sự tham gia tích cực trong xã hội với tầm nhìn toàn thế giới, để xây dựng năng lực nội sinh, để củng cố các quyền con người, sự phát triển bền vững, dân chủ và hoà bình, trong một bối cảnh công bằng.
  • Nâng cao, sáng tạo và phổ biến tri thức thông qua nghiên cứu và cung cấp (chức năng phục vụ cộng đồng) kiến thức chuyên môn giúp đỡ sự phát triển văn hoá, kinh tế, xã hội của xã hội, tăng cường và phát triển nghiên cứu mọi lĩnh vực khoa học.
  • Giúp cho việc hiểu biết, giải thích, bảo tồn, nâng cao, thúc đẩy và phổ biến các nền văn hoá quốc gia, khu vực, quốc tế và văn hoá của lịch sử trong bối cảnh đa dạng về văn hoá.
  • Đóng góp cho sự phát triển và cải thiện giáo dục ở tất cả các cấp kể cả thông qua việc đào tạo giáo viên.
  • …

Nếu so sánh với liệt kê tạm thời các chức năng và sứ mạng của giáo dục đại học nói trên như một chuẩn quốc tế mang tính định hướng, thì sơ đồ cấu trúc-chức năng của các bộ máy chức năng trong trường đại học, cao đẳng của chúng ta có thể là còn có nhiều việc cần phải làm. Chúng ta hãy quan sát mấy bảng sau:

Bảng 1. Sơ đồ tổ chức của một trường đại học / cao đẳng Việt Nam nói chung

Hệ thống Chuyên môn – chức năng   Hệ thống chính trị  
Ban Giám hiệu Khối chuyên môn Đảng uỷ Khối đoàn thể
Các phòng, ban chức năng giúp việc BGH Các khoa, bộ môn, tổ chuyên môn, các viện, trung tâm, la-bô, phòng, trạm thí nghiệm… Văn phòng đảng uỷ, chi uỷ, tổ đảng… Đoàn thanh niên, hội sinh viên, công đoàn, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, các hiệp hội…
Các Hội đồng Khối dịch vụ    
Hội đồng Khoa học – Đào tạo, các hội đồng khác. Thư viện, trung tâm thông tin, trung tâm TDTT, ký túc xá, nhà ăn, trạm xá, nhà kho, xưởng, gara v.v…    

Bảng 2. Sơ đồ tổ chức của khối phòng ban chức năng phục vụ Ban Giám hiệu ở một trường đại học, cao đẳng Việt Nam (khái quát)

    Ban Giám hiệu    
    Hiệu trưởng    
  Phó hiệu trưởng 1 – thường trực Phó hiệu trưởng 2 Phó hiệu trưởng n  
    Khối phòng, ban giúp việc    
Phòng Đào tạo [14] Phòng Khoa học [15] Phòng Chính trị và công tác SV Phòng Tổ chức – Cán bộ Phòng tài vụ
Phòng Hành chính – Tổng hợp Phòng Quản trị Phòng Hợp tác quốc tế hoặc Đối ngoại. [16] Văn phòng Hiệu trưởng [17] Thanh tra

Có hai vấn đề cần nói ở đây liên quan đến các cấu trúc bảo đảm chất lượng đào tạo đại học và nghiên cứu, dự báo chính sách. Thứ nhất, ngay trong sơ đồ cơ cấu – tổ chức của các trường đại học, không có một bộ phận nào mà chức năng tư vấn, dự báo, thiết kế, triển khai chính sách đào tạo được phát triển ở mức cao, chuyên phụ trách công việc giúp việc, tư vấn chính sách cho Ban Giám hiệu. Khi một yêu cầu về nghiên cứu, dự báo, lập kế hoạch chính sách, hoặc thống kê, hoặc đánh giá chất lượng đào tạo, hay nghiên cứu… được nêu ra, mà thường là theo cách tiếp cận hành chính hoá, từ trên xuống và không thường xuyên (như là một nhiệm vụ chức năng), người ta thường xé lẻ các yêu cầu ra thành công việc lẻ của các bộ phận. Công việc tập hợp và tổng hợp nhanh các ý kiến được trao cho một, hai cá nhân, thậm chí là một phó hiệu trưởng hoặc hiệu trưởng trong một thời gian gấp rút. Xong việc, người ta lại xếp công việc đó lại. Khi nào có một thông báo mới yêu cầu báo cáo, thống kê, thì lại bắt đầu, nếu không thì không nhất thiết. Gần đây, đôi khi có một số dự án hoặc đề tài nghiên cứu từ bên ngoài đặt yêu cầu nghiên cứu, thống kê, với một số kinh phí nhất định (nhưng thường không vì mục tiêu nghiên cứu thường xuyên và dài hạn), các cơ sở đại học, cao đẳng lại tham gia cũng với cách làm trên và đôi khi là điều chỉnh lại một vài số liệu. Như vậy, có thể thấy, công tác nghiên cứu, thiết kế, đánh giá, dự báo chính sách đào tạo ở đại học, cao đẳng Việt Nam còn chưa được tổ chức một cách có hệ thống, chưa có một cấu trúc với chức năng chuyên biệt, không chỉ làm nhiệm vụ đảm bảo chất lượng đào tạo, dự báo chính sách, xây dựng các kế hoạch và chương trình mang tính hệ thống, khoa học và chuyên nghiệp, mà còn tiến hành tư vấn nội bộ.

Thứ hai, với cách làm cũ, nếu nhìn bằng con mắt của khoa học hệ thống, hay tiếp cận hệ thống cấu trúc – chức năng, thì việc tự thoả mãn chắp nối cơ học các mảng số liệu từ các phòng ban khác nhau, bởi các bộ phận không có hoặc thiếu chuyên môn, nghiệp vụ làm chính sách đào tạo, sẽ dẫn đến những sai lệch hệ thống trong nhận định, phân tích, dự báo chính sách, nhất là trong thời đại của tiêu chuẩn hoá mang tính toàn cầu và khi chuyên môn hoá đã trở thành một thông lệ trong lĩnh vực nghiên cứu chính sách cũng như nhiều lĩnh vực khác.

Ngoài hai điều trên, cũng cần phải nói thêm rằng, rất nhiều các dự án, chương trình nghiên cứu, cũng như các chỉ thị chỉ đạo của các cấp quản lý vĩ mô cũng còn chưa chuẩn bị một cách đúng mức trong việc tư vấn cho các cơ sở đào tạo cách triển khai các nội dung của mình bằng việc xây dựng các cấu trúc chức năng được thiết chế hoá như những công cụ chính sách. Ngay cả các công trình nghiên cứu về đảm báo chất lượng đào tạo cũng mải miết trình bày các chuẩn chất lượng để đánh giá, mà quên rằng để thực hiện, phải có một bộ máy được tổ chức và cấu trúc một cách chuyên nghiệp và có hệ thống, với những yêu cầu và điều kiện được thoả mãn về các phương diện chuyên môn, nhân lực và các nguồn lực khác. [18]

Vấn đề là sau khi chúng ta đồng ý là cần có bảo đảm chất lượng giáo dục đại học, cần xây dựng các chuẩn để ngõ hầu đánh giá khách quan, dễ hoà nhập vào giáo dục quốc tế, cũng như sau khi đã có Phòng Kiểm định chất lượng đào tạo (bước đầu được đặt trong tổ chức Vụ Đại học, Bộ GD-ĐT) rồi Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng, mà có thể trong tương lai sẽ có một hệ thống các tổ chức kiểm định độc lập đi nữa, thì chúng ta vẫn cần phải xem xét một chuẩn về phương diện xây dựng các thiết chế và cấu trúc đảm báo chất lượng ở trong chính cơ sở đại học.

Sơ đồ: Bộmáy tổ chức chuyên môn của một trường đại học tại Pháp (Ví dụ tham khảo) [19]

Việc thành lập các đơn vị nghiên cứu và triển khai chính sách giáo dục đại học này sẽ giúp hình thành một mạng lưới, vừa đảm báo tốt công tác thông tin, thống kê giáo dục, vừa là một công cụ chính sách vi mô giúp các trường đương đầu tốt với các thách thức, tự tin trong việc đáp ứng tốt và chuẩn xác các nhu cầu về năng lực chuyên môn cần đào tạo trên thị trường lao động, cũng như các mong đợi về mặt kinh tế, văn hoá, xã hội khác.

© 2004 talawas


[1]Có thể kể đến các văn kiện quan trọng qua các đại hội và hội nghị Ban chấp hành TƯ đảng CSVN như nghị quyết TƯ2, khoá VIII, nghị quyết đại hội IX…
[2]Bộ Giáo dục và Đào tạo, «Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục và đào tạo (1986 – 1996) . Báo cáo tổng hợp và chi tiết», Hà Nội, 1/1997, 291 trang.
[3]Song còn phải chờ xem về độ mở đến mức nào cho sự tham gia ở các quy mô có ý nghĩa hơn trong cung đào tạo của khu vực tư nhân và khu vực xã hội dân sự, của vai trò giáo dục quốc tế và khu vực, không chỉ về mặt số lượng mà còn về nhiều mặt khác như nội dung, chất lượng, hiệu quả và công bằng xã hội.
[4]Bộ Giáo dục – Đào tạo, UNESCO-PROAP, «Hội thảo Quốc gia về Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học», Hà Nội, 27-29/4/2003, Kỷ yếu, 94 trang.
[5]Bộ Giáo dục – Đào tạo, UNESCO-PROAP, Kỷ yếu Hội thảo «Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Việt Nam», Đà Lạt, 04-06/4/2000, 156 trang.
[6]Dự án và các đề tài do Vi ện NCPTGD (trước đây), nay là Viện chiến lược và chương trình giáo dục thuộc Bộ GD- ĐT thực hiện.
[7]Quy chế đã được dự thảo đến lần thứ 10, hiện đang chờ sự hoàn thiện của Bộ GD- ĐT để trình lên Thủ tướng Chính phủ. Quy chế này có thể mở đường cho việc tăng cường cung về đào tạo đại học, về mặt kỹ thuật và số lượng. Có thể tham khảo trên địa chỉ trang web: http://www.vnn.vn
[8]Cũng cần nhắc lại là Bộ Giáo dục – Đào tạo, một số Vụ, Viện như Vụ ĐH, Vụ SĐH, Viện NCPTGD trước đây, hay Đại học Quốc gia Hà Nội (Trung tâm BĐCLĐT và NCPTGD)… cũng đã tổ chức các đề tài, chương trình nghiên cứu các cấp về vấn đề bảo đảm chất lượng GD-ĐH, mà vấn đề xây dựng và đảm bảo một hệ thống chuẩn quốc gia là trung tâm.
[9]UNESCO, Tài liệu «Hội nghị Thế giới về Giáo dục Đại học trong thế kỷ 21 – Tầm nhìn và hành động», Paris, 5-9/10/1998, xin tham khảo bản dịch của Vũ Văn Tảo, Lâm Quang Thiệp, Nghiêm Xuân Nùng, Nguyễn Kỳ, Hà Nội, 2000, 117 trang.
[10]Và quốc tế, nếu tính thêm các chiều kích và động thái của toàn cầu hoá, vốn có nguồn gốc thậm chí sớm hơn cả thời kỳ của những con đường tơ lụa và phát kiến châu Mỹ của Christophe Columbus.
[11]Như Điều 26 (1), Bản Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền đã nêu rõ «Mọi người đều có quyền được giáo dục. Giáo dục sẽ không mất tiền, ít nhất ở các bậc tiểu học và cơ sở. Giáo dục tiểu học phải là bắt buộc. Giáo dục kỹ thuật và nghề nghiệp nói chung sẵn sàng đáp ứng và giáo dục đại học sẽ có sự nhập học bình đẳng đối với mọi người trên cơ sở sự thích hợp/xứng đáng.»
[12]Tài liệu đã dẫn, UNESCO «Hội nghị Thế giới về Giáo dục ĐH…», trang 36.
[13]Bên cạnh khái niệm bổn phận công dân trong quan hệ với một nhà nước cụ thể, ngày nay còn có các khái niệm khác liên quan đến «công dân quốc tế», «công dân trái đất», đó là chưa kể đến các khía cạnh của quyền được làm người nói chung và các quyền, nghĩa vụ cơ bản đi kèm khác.
[14]Đôi khi là một kết hợp của ít nhất 2 trong 3 bộ phận: đào tạo chính quy, đào tạo tại chức, đào tạo sau đại học, ở một số nơi khác có thể là đào tạo thường xuyên (trong đó có đào tạo từ xa…)
[15]Đôi khi là một kết hợp Khoa học – Thiết bị, hoặc Khoa học – Đào tạo sau đại học.
[16]Có nơi gộp bộ phận này vào bộ phận Hành chính – Tổng hợp, nơi khác lại gộp vào bộ phận Đào tạo sau đại học.
[17]Có nơi có bộ phận này, nơi khác thì không. Thông thường có thể có một vị trí làm việc với chức danh đi kèm là «Thư ký hiệu trưởng» hoặc «Trợ lý hiệu trưởng» mà công việc lại có thể không mấy phân biệt nhau.
[18]Trung tâm Đảm bảo Chất lượng Đào tạo và CNPTGD (thuộc ĐHQGHN), «Sổ tay hướng dẫn kiểm định chất lượng – Dùng cho các trường đại học Việt Nam», Hà Nội, tháng 7/2001, 30 trang . Ở trang 21, 22, các tác giả cho rằng trường được kiểm định chỉ cần cử một cán bộ làm điều phối viên cùng với nhóm công tác theo các đợt kiểm định là đủ. Thực ra, kiểm định chất lượng đại học là một hoạt động chức năng thuộc lĩnh vực bảo đảm chất lượng giáo dục đại học. Đến lượt nó, bảo đảm chất lượng giáo dục đại học là một trong các lĩnh vực của chính sách giáo dục ở bậc đào tạo này.
[19]Sơ đồ dựa trên mô hình Mintzberg về phân tích tổ chức, của Jean-Louis Hermen, tiến sĩ kinh tế học giáo dục, chủ nhiệm Tiểu ban UNESCO/UNITWIN và giám đốc mạng lưới RIIFADEL về công nghệ đào tạo (Hội thảo Huế, 6/2002 về giáo dục đại học và các môi trường chuyên môn. Trong sơ đồ, SUIO là viết tắt của Service Universitaire d’Information et d’Orientation (Trung tâm thông tin và tư vấn hướng nghiệp đại học), OVE: Observatoire de la Vie Etudiante (Trung tâm nghiên cứu và quan trắc sinh viên), mà tại Pháp có đến trên 30 cơ sở đặt ở khắp mạng lưới giáo dục đại học.

 
© talawas 2026