trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
25.10.2004
Ngô Quốc Phương
Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học – Những khiá cạnh thiết chế hoá
 

II. Nội dung của nghiên cứu chính sách nội bộ:



Một tổ chức nghiên cứu chính sách nội bộ đặt trong cơ sở đào tạo đại học là một bộ phận tư vấn chiến lược quan trọng cho Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu. Sự có mặt của cấu trúc kỹ thuật này không hề tạo ra mâu thuẫn về mặt chức năng với các hội đồng tư vấn của Hiệu trưởng, cũng như các tổ chức, trung tâm, chương trình khác nghiên cứu về giáo dục. Các hội đồng khoa học và đào tạo, cũng như các hội đồng và tổ chức khác nói trên tiếp tục hoạt động, đưa ra các ý kiến tư vấn, xong chính tổ chức nghiên cứu chính sách nội bộ sẽ là bộ phận tổng kết, phân tích các ý kiến đó, ứng xử với các ý kiến đó như một nguồn tư vấn chính sách quan trọng. Điều khác biệt là trong khi các Hội đồng khoa học thỉnh thoảng mới được triệu tập và mặc dù thường trực hội đồng có thể làm việc ở mức độ thường xuyên hơn so với Hội đồng, thì Đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ, với số lượng cán bộ chuyên môn chính nhiệm bên cạnh số kiêm nhiệm, là một cấu trúc hoạt động thường trực, liên tục, chuyên môn hoá về các mặt nghiên cứu, đánh giá, phân tích, xây dựng các chính sách và tư vấn chiến lược, hỗ trợ các quyết định chính sách, chiến lược và kế hoạch của Hiệu trưởng.

Các đơn vị nghiên cứu chính nội bộ đặt ở các cơ sở đào tạo đại học và cao đẳng khác nhau, khi được kết nối với nhau, tạo thành một mạng lưới các tổ chức chính sách ở cấp vi mô và tương tác kỹ thuật với nhau cũng như với các cấp chính sách vĩ mô và trung mô, đẩy nhanh các quá trình tích hợp chính sách theo các tiếp cận dưới lên, trên xuống… và tăng cường độ tin cậy cũng như việc thực hiện các chính sách.

1. Các lĩnh vực chính sách vi mô đại học:



Một cơ sở đào tạo bậc đại học có nhiều căn cứ khác nhau để nghiên cứu, thiết lập hệ thống chính sách của mình. Một trong số các cơ sở chính là: các nhu cầu của xã hội được thể hiện qua các nhu cầu và kỳ vọng của các chủ thể, đối tác có liên quan đến cơ sở đào tạo. Người ta thường liệt kê các chủ thể sau:

  • Sinh viên, học viên, gia đình của họ
  • Giáo chức, cán bộ, nhân viên trong nội bộ cơ sở đào tạo
  • Người lãnh đạo cơ sở đào tạo
  • Các cơ quan quản lý giáo dục các cấp: địa phương, vùng và quốc gia
  • Nhà chức trách địa phương, vùng và quốc gia
  • Các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế, xã hội (địa phương, vùng, miền…)
  • Giới chuyên môn, kỹ thuật
  • Giới dịch vụ
  • Các đối tác đào tạo đại học

Nếu lấy các nhu cầu và quan hệ nhu cầu, chủ thề làm căn cứ, có bao nhiêu nhóm nhu cầu thì có thể xây dựng bấy nhiêu nhóm mục tiêu để định hướng đáp ứng nhu cầu. Các định hướng này được tổ chức lại thành các mục tiêu với cấp độ ưu tiên khác nhau, phân loại thành các mục tiêu theo trục thời gian: trước mắt, trung hạn, dài hạn, đồng thời, xuyên suốt v.v. Các mục tiêu chiến lược cũng được xác định từ đây.

Một cách giản yếu, có một số tác giả đã tổng kết các lĩnh vực chính sách [1] trong giáo dục đại học như sau:

  • Chương trình đào tạo
  • Quản lý sinh viên
  • Phát triển đội ngũ và nguồn nhân lực
  • Phương tiện, thiết bị, công nghệ
  • Tài chính
  • Quan hệ với bên ngoài

Chúng tôi, thiên theo hướng phân các lĩnh vực chính sách theo tiếp cận công nghệ đào tạo mà theo đó ta có các lĩnh vực sau:

  • Các chính sách về quản lý phần con người (các chủ thể đào tạo nội bộ của cơ sở đào tạo)
  • Các chính sách về quản lý phần kỹ thuật, công nghệ
  • Các chính sách về quản lý phần tổ chức, thiết chế (phần tổ chức)
  • Các chính sách về quản lý nguồn tài lực (phần tài chính)
  • Các chính sách về quản lý phần thông tin
  • Các chính sách về quản lý tương tác với môi trường kinh tế, xã hội, văn hoá, chính trị… (phần môi trường)

Một cách cụ thể hơn nữa, gắn với môi trường đại học, chúng ta có các lĩnh vực sau:

  • Các chính sách đào tạo cho người học
  • Các chính sách về khoa học, công nghệ (nghiên cứu cơ bản, định hướng, triển khai v.v…)
  • Các chính sách tương tác tích cực với môi trường kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá (cam kết đại học và phát triển KT-XH địa phương, vùng, miền và quốc gia)
  • Các chính sách quản lý và phát triển nguồn nhân lực nội bộ tổ chức
  • Các chính sách đối với các lĩnh vực nguồn lực khác, các dịch vụ phục vụ hoạt động chức năng của tổ chức (phần kỹ thuật, trị sự)
  • Các chính sách gắn với các quá trình chuẩn hoá quốc gia, khu vực và quốc tế, với các trào lưu, khuynh hướng, động thái và chuẩn quốc tế về giáo dục (như toàn cầu hoá, khu vực hóa, pháp chế hoá , chuẩn hoá …), các lĩnh vực phát triển con người, trách nhiệm xã hội, bảo đảm các quyền cơ bản của con người và cam kết quốc tế…
  • Các chính sách khác

2. Các hoạt động chuyên môn của đơn vị nghiên cứu – tư vấn chính sách nội bộ:



Thực ra, đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ đặt trong một trường đại học có ít nhất hai chức năng: (i) chức năng nghiên cứu chính sách, kế hoạch chiến lược và tư vấn nội bộ, (ii) chức năng phối hợp với mạng các tổ chức nghiên cứu ở cấp vi mô, hình thành một hệ thống công cụ nghiên cứu chính sách cấp vi mô và phối hợp với cấp nghiên cứu trung mô và vĩ mô. Trong khuôn khổ bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ điểm qua các tác nghiệp chuyên môn thuộc nhóm chức năng thứ nhất – nghiên cứu, tư vấn chức năng nội bộ.

Các công việc chuyên môn của đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ trong trường đại học có sản phẩm là các báo cáo thường xuyên, định kỳ về các mảng chính sách cần nghiên cứu và tư vấn. Đây là bộ phận kỹ thuật thuộc lĩnh vực «think tank» của Trường đại học. Đơn vị thực hiện đồng thời nhiều công việc có tính chuyên môn giúp việc cho Hiệu trưởng và Ban Giám hiệu như sau:

  • Xác định và dự báo vấn đề chính sách: tìm hiểu vấn đề, lựa chọn vấn đề (đánh giá nhu cầu, tập hợp, phân tích, xử lý số liệu, xây dựng các kênh thông tin bền vững, xây dựng các nguồn thu thập, điều tra thông tin thường xuyên).
  • Xây dựng chính sách: xác định các mục tiêu chính sách, sắp xếp các ưu tiên, đề xuất và lựa chọn các phương án chính sách, công cụ và giải pháp (trong đó, lưu ý việc hình thành quan điểm về nghiên cứu chính sách, lựa chọn và xây dựng đội ngũ nghiên cứu, tư vấn chính sách : chính nhiệm, kiêm nhiệm, cộng tác viên, điều phối viên…).
  • Lên kế hoạch triển khai chính sách: tư vấn việc thực hiện (lưu ý các công cụ, phương pháp đảm bảo hiệu quả truyền đạt kết quả nghiên cứu).
  • Tư vấn triển khai chính sách: với sự tham gia triển khai của các bộ phận chuyên môn và giúp việc quản lý khác cho Ban Giám hiệu trong trường đại học (cần lưu ý rằng, đơn vị nghiên cứu chính sách là đơn vị nghiên cứu, tư vấn, việc triển khai, thực hiện, cũng như các tác nghiệp tiến hành và công cụ triển khai chính sách cụ thể thuộc phạm vi điều phối và quyết định của hiệu trưởng, kể cả việc chỉ định bộ phận, đối tác nào thực hiện, tham gia, giữ các vai trò nào).
  • Đánh giá các tác động chính sách.
  • Xác định vòng đời chính sách: kết thúc [2] để chuyển hướng chính sách mới hoặc điều chỉnh thích nghi.

3. Cách tổ chức đơn vị nghiên cứu chính sách:



Đơn vị nghiên cứu chính sách là đơn vị độc lập với các đơn vị và tổ chức chức năng, giúp việc khác trong trường đại học. Đơn vị này cần được thành lập với một quyết định phân định rõ phạm vi chức năng nghiên cứu, tư vấn chính sách, các quyền hạn chuyên môn và trách nhiệm, đặc biệt trong đó quy định tính tự chủ của nó: quan hệ với các hội đồng tư vấn chuyên môn (hội đồng khoa học, đào tạo, các hội đồng khác), các tổ chức nghiên cứu khác liên quan đến lĩnh vực giáo dục trong cơ sở đào tạo đại học (nếu có) và đặc biệt với các bộ phận chức năng, chuyên môn giúp việc Hiệu trưởng và Ban giám hiệu (khối phòng ban, hiệu bộ…)

Có thể lưu ý rằng, trong quá trình hoạt động, đơn vị luôn giữ mối quan hệ, phối hợp chuyên môn với các bộ phận chức năng và giúp việc Hiệu trưởng khác trong trường. Bản thân các bộ phận và tổ chức chức năng và giúp việc trên (từ đối ngoại, đến tài vụ, công tác sinh viên, đào tạo đến nghiên cứu khoa học…), trong các phần việc có liên quan đến xây dựng chính sách của mình có thể phối hợp với đơn vị nghiên cứu chính sách như trong quan hệ đối tác, đồng thời cũng có thể nhận sự tư vấn của đơn vị nghiên cứu chính sách (về phương pháp, công cụ nghiên cứu, chia xẻ các thông tin, số liệu và thống kê). Các thành viên của các tổ chức chức năng cũng có thể đồng thời là các cộng tác viên trong hoạt động của đơn vị nghiên cứu chính sách. Mặt khác, tuỳ theo nội dung và quan hệ chính sách – người thực hiện cụ thể, thủ trưởng của các đơn vị chức năng đó cũng có thể được mời để có mặt trong các cấu trúc đánh giá, xây dựng, tư vấn… các chính sách (thông thường dưới dạng các báo cáo về chính sách) mà đơn vị nghiên cứu chính sách thực hiện.

Tóm lại, tương tác chuyên môn với các đơn vị chức năng khác trong trường là một trong các đòi hỏi chuyên môn trong quá trình hoạt động của Đơn vị nghiên cứu chính sách.

Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu của mình, tuỳ theo nội dung chính sách cần nghiên cứu cụ thể, đơn vị sẽ có các tương tác với mạng lưới các đơn vị, tổ chức nghiên cứu chính sách giáo dục nói chung và nội bộ nói riêng nằm bên ngoài cơ sở đào tạo của mình. Các hợp tác với các cấu trúc chính sách vĩ mô (Bộ, Sở giáo dục đào tạo, các cơ quan chuyên trách khác) là một hoạt động thường xuyên. Ví dụ, như việc thường xuyên có các liên hệ qua lại, phối hợp, cộng tác, triển khai, cung cấp thông tin, số liệu… với Phòng Kiểm định chất lượng đào tạo (thuộc Vụ Đại học của Bộ GD-ĐT) trong lĩnh vực đảm bảo chất lượng giáo dục đại học.

III. Đơn vị nghiên cứu chính sách – một vài ví dụ về mô hình và cách làm tham khảo:



Cũng cần lưu ý rằng, đơn vị nghiên cứu chính sách, trong hoạt động của nó, cũng có những giới hạn riêng. Tổ chức này không phải là một con ma-mút, theo cách nói của các nhà khoa học phương Tây để chỉ những siêu tổ chức, làm đủ các công việc và đảm nhiệm vô giới hạn các chức năng một lúc. Một đơn vị nghiên cứu chính sách có các giới hạn về nguồn nhân lực, thông tin, tài chính, vị thế, cơ sở hạ tầng. Các sản phẩm của nghiên cứu được thể hiện qua các báo cáo đánh giá và tư vấn chính sách. Người tư vấn lại không phải là người trực tiếp thực hiện trong nhiều trường hợp, vả lại, các lĩnh vực của thực hiện chính sách lại rất rộng, phong phú và thường chồng lấn lên nhau.

Ở những nơi có thể bắt đầu, người ta lập ngay các nhóm / tổ công tác nghiên cứu – tư vấn chính sách làm nòng cốt cho đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ về giáo dục đại học. Cần tránh cách làm theo lối hành chính hoá, nhiều ban bệ, quá nhiều cuộc họp hội đồng mà việc triển khai không được thường xuyên hoặc thiếu sự lựa chọn ưu tiên trong chương trình và kế hoạch hoạt động, dẫn đến quá tải công việc. Khi đơn vị nghiên cứu chính sách đã được thành lập, thì tuỳ theo công việc cụ thể, có thể tiếp tục sử dụng tiếp cận dự án và chương trình (tiếp cận động), kết hợp với tiếp cận ổn định tổ chức chức năng (tiếp cận tĩnh), mà lập ra các tổ công tác và chuyên đề. Cần lưu ý đển công tác cộng tác viên, việc phối hợp với cán bộ của các đơn vị chức năng, giúp việc khác trong trường và đây cũng là cách để mở rộng, tăng cường đội ngũ làm chính sách sau này của một đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ.

Ở một số đại học quốc tế, các chính sách được phân loại, với tiếp cận tổ chức tĩnh và với nguồn lực và các điều kiện cho phép, người ta thiết chế hoá ngay các chức năng chính sách: ví dụ, thành lập bộ phận đảm bảo chất lượng như một bộ phận tự chủ trong trường, trực tiếp trợ giúp khâu quản lý chất lượng và các quyết định về chính sách đào tạo, nghiên cứu của hiệu trưởng, người đứng đầu cơ sở đào tạo hoặc hội đồng quản trị. Ở Đức hoặc Hoa Kỳ, thậm chí, bên ngoài các chức vụ và vị trí phó hiệu trưởng truyền thống và thông thường, tuỳ theo nhu cầu mới, người ta có thể cử ra các phó hiệu trưởng phụ trách các lĩnh vực chính sách mới (tất nhiên điều này chỉ là một tham khảo vì mỗi hệ thống có đặc thù riêng về quy định tổ chức, điều lệ hoạt động v.v.). Tại Pháp chẳng hạn, người ta có thể cử một phó hiệu trưởng chuyên trách về hỗ trợ quá trình gia nhập về phương diện chuyên môn và xã hội của sinh viên. Thực chất đây là khâu cầu nối đào tạo – việc làm. Ở nơi khác, người ta có thể cử một phó hiệu trưởng phụ trách ứng dụng các công nghệ sư phạm và quản lý mới. Có nơi lại cử phó hiệu trưởng phụ trách công tác thông tin, định hướng, hướng nghiệp cho sinh viên. Nhu cầu đảm bảo chất lượng cuộc sống sinh viên, chẳng hạn, đã buộc nhiều đại học ở châu Âu và Bắc Mỹ thiết lập các cấu trúc nghiên cứu và quan trắc đời sống sinh viên trên các phương diện : gia nhập học đường, gia nhập chuyên môn và kinh tế – xã hội. [3]

Một ví dụ khác, về định hướng – hướng nghiệp đại học chẳng hạn, đây là một lĩnh vực chính sách của giáo dục đại học, đáp ứng một nhu cầu xã hội rất lớn về lựa chọn ngành nghề đào tạo đại học, cao đẳng với sinh viên và gia đình họ, cũng như với nhứng ai quan tâm, về việc lựa chọn lĩnh vực nghề nghiệp phù hợp với năng lực và phẩm chất tâm lý, nhân cách cá nhân… Về mặt đảm bảo chất lượng giáo dục đại học, đây được coi là một trong các chức năng đảm bảo chất lượng theo đuổi toàn bộ quá trình đào tạo của sinh viên, học viên từ đầu vào, trong quá trình đào tạo đến đầu ra. Mặc dù đã có các dự án khởi động ở Việt Nam [4] , hệ thống trường đại học ở nước ta vẫn chưa xây dựng được mạng lưới các trung tâm thông tin – hướng nghiệp với đội ngũ cán bộ làm việc có tính chuyên nghiệp và thực hiện các công việc chuyên môn thường xuyên. [5]

Cũng như vậy, việc nghiên cứu các thông tin đầu ra để điều chỉnh chính sách, các chương trình đào tạo theo hướng đảm bảo chất lượng tổng thể còn chưa được đồng bộ thực hiện, nhiều nơi, người ta hiểu lầm lĩnh vực nghiên cứu chính sách này chỉ là hoạt động nghiên cứu đơn thuần về đầu ra của sinh viên.

Để kết luận, chúng tôi nhấn mạnh sự hoan nghênh về chủ trương của ngành giáo dục trong việc đẩy mạnh công tác đảm bảo chất lượng giáo dục nói chung và ở bậc đại học nói riêng, ở Việt Nam, đặc biệt là việc thành lập bước đầu một tổ chức phụ trách về công tác kiểm định chất lượng đặt trong Vụ Đại học thuộc Bộ và hiện nay là việc thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng Giáo dục. Song chúng tôi cũng khuyến nghị rằng, trong lĩnh vực kiểm định chất lượng giáo dục, một cơ quan hay tổ chức với vị thế và tầm vóc lớn như Cục khảo thí và đảm bảo chất lượng, cần sớm được đặt trong mối quan hệ với hệ thống các cơ quan kiểm định chất lượng khác (độc lập hoặc chỉ định). Bước tiếp theo, dù thành lập dưới hình thức nào, cơ quan quản lý vĩ mô này cần được hậu thuẫn bởi một hệ thống các tổ chức đảm bảo chất lượng và nghiên cứu, tư vấn chính sách nội bộ, đặt trong các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng như những chân rết, vệ tinh (grass-root network). Cuối cùng, các đơn vị nghiên cứu chính sách nội bộ này có tính tự chủ cao trong cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng của mình, vừa làm công tác tư vấn nội bộ theo nhu cầu và đặt hàng của Ban Giám hiệu, vừa tương tác với các cấu trúc chính sách và đảm bảo chất lượng bên ngoài và ở cấp vĩ mô, lại vừa chủ động trong các nghiên cứu dự báo chính sách.



Tài liệu tham khảo

  1. Nghị định số 85/2003/NĐ-CP ngày 18/7/2003 về thành lập Cục Khảo thí và Kiểm định Chất lượng.
  2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, «Tổng kết và đánh giá 10 năm đổi mới giáo dục và đào tạo (1986 – 1996) . Báo cáo tổng hợp và chi tiết», Hà Nội, 1/1997, 291 trang.
  3. Bộ Giáo dục – Đào tạo, UNESCO-PROAP, «Hội thảo Quốc gia về Quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học”, Hà Nội, 27-29/4/2003, Kỷ yếu, 94 trang.
  4. Bộ Giáo dục – Đào tạo, UNESCO-PROAP, Kỷ yếu Hội thảo «Đảm bảo chất lượng trong giáo dục đại học Việt Nam», Đà Lạt, 04-06/4/2000, 156 trang.
  5. UNESCO, Tài liệu «Hội nghị Thế giới về Giáo dục Đại học trong thế kỷ 21 – Tầm nhìn và hành động», Paris, 5-9/10/1998, xin tham khảo bản dịch của Vũ Văn Tảo, Lâm Quang Thiệp, Nghiêm Xuân Nùng, Nguyễn Kỳ, Hà Nội, 2000, 117 trang.
  6. Tuyên ngôn Thế giới về Nhân quyền, bản tiếng Pháp.
  7. Trung tâm Đảm bảo Chất lượng Đào tạo và CNPTGD (thuộc ĐHQGHN), «Sổ tay hướng dẫn kiểm định chất lượng-Dùng cho các trường đại học Việt Nam», Hà Nội, tháng 7/2001, 30 trang.
  8. Jean-Louis Hermen, “Trung tâm nghiên cứu đời sống sinh viên – Công cụ trợ giúp quản lí chiến lược của các trường đại học”, Hội thảo Huế, 6/2002 về “Giáo dục đại học và các môi trường chuyên môn – những tiếp cận lý thuyết và thực tiễn, ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam”
  9. Francis Bestion, “Hiệu quả của hệ thống giáo dục đại học: định hướng và trợ giúp cho việc hoà nhập nghề nghiệp”, “Giáo dục đại học và các môi trường chuyên môn – những tiếp cận lý thuyết và thực tiễn, ứng dụng trong bối cảnh Việt Nam.

  10. Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, “Chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục”, NXB Giáo dục, 1999, 256 trang.

  11. Văn kiện Nghị quyết TƯ2, khoá VIII, Nghị quyết đại hội IX ĐCSVN

Ngô Quốc Phương là giảng viên, cán bộ nghiên cứu, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG Hà Nội, địa chỉ email : ngoquocphuong@yahoo.com

© 2004 talawas


[1]Xem Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, «Chính sách và kế hoạch trong quản lý giáo dục», NXB Giáo dục, 1999, 256 trang, trang 16. Tuy vậy, ở đây chúng tôi không sử dụng cách phân chia của các tác giả về chính sách cấp vi mô của cơ sở giáo dục thành: lĩnh vực đào tạo và lĩnh vực quản lý. Theo chúng tôi, hoạt động đào tạo cũng là đối tượng của lĩnh vực quản lý và chính sách giáo dục.
[2]Xem thêm: Đặng Bá Lãm, Phạm Thành Nghị, 1999, tài liệu đã dẫn.
[3]Trường hợp hệ thống OVE của Pháp. Để biết thêm, xin liên hệ với Jean-Louis Hermen, giám đốc mạng lưới quốc tế nghiên cứu về công nghệ đào tạo và hệ thống việc làm thuộc Tiểu ban UNESCO/UNITWIN (ove.ut1@univ-tlse1.fr).
[4]Chẳng hạn dự án của Ngân hàng Thế giới, các dự án độc lập của Canada v.v…
[5]Đã có chương trình và dự án hỗ trợ chuyên môn cho các cơ sơ đại học và cao đẳng… xây dựng và đào tạo cán bộ tư vấn – hướng nghiệp theo mô hình đào tạo chuyên gia tư vấn tâm lý – hướng nghiệp ở châu Âu và Bắc Mỹ. Xin liên hệ trực tiếp với tác giả và Trung tâm NC-TK công nghệ đào tạo (CERIF), địa chỉ email: cerif2003@yahoo.com, địa chỉ trang web : http://www.univ-tlse1.fr/CERIF.


 
© talawas 2026