trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.8.2004
Marcel Reich-Ranicki
Czeslaw Milosz – Lực hút của thi ca
 
Những ngày này, thành phố Krakow rủ cờ tang và khắp nơi trên thế giới tưởng niệm nhà thơ Ba Lan Czeslaw Milosz vừa mất ngày thứ bảy, 15.8. 2004, thọ 93 tuổi. Với độc giả Việt Nam, Milosz vẫn tiếp tục là một trường hợp khó tiếp cận. Quá khứ tị nạn cộng sản cùng tác phẩm Tư duy nô lệ (1953) và cuộc đời lưu vong hơn 40 năm của ông khiến một thời gian dài ông cũng là một persona non grata tại Việt Nam như tại nước Ba Lan xã hội chủ nghĩa, và việc giới thiệu ông –ngay cả sau khi ông được giải Nobel (1980) – chỉ dừng ở mức dè dặt. Thơ ông, vốn đã khó dịch đối với các ngôn ngữ châu Âu khác hệ Slave, lại thường đến với độc giả Việt Nam rải rác qua những bản dịch không từ nguyên bản. Bài tưởng niệm sau đây của Marcel Reich-Ranicki, nhà phê bình văn học Đức gốc Ba Lan danh tiếng và khét tiếng, điểm lại những nét nổi bật trong cuộc đời và sự nghiệp của Czeslaw Milosz và cho biết lí do vì sao thơ ông khó thành công trong một ngôn ngữ khác.
talawas



Công dân thế giới

Milosz trưởng thành, rồi theo học ngành luật tại Vilnius, nơi mà ảnh hưởng của cả Ba Lan, Nga, Lithuania [1] và Do Thái cùng đan xen. Cái thành phố hơi lạ lẫm hương xa này đã khắc nên thái độ khoan dung và tính cách công dân thế giới của ông. Khi Vilnius bị Liên Xô chiếm đóng, ông trốn được về Warszawa, và trải qua những kinh nghiệm không kém phần mạo hiểm tại đây. Ông viết báo cho phong trào giải phóng và là tác giả của những tác phẩm bị cấm.

Năm 1945, khi Ba Lan được Hồng quân Xô-viết giải phóng, Milosz thuộc về một bộ phận không nhỏ trong giới trí thức Ba Lan không hề chia sẻ niềm ngây ngất chung, tuy chẳng hân hoan nhưng mặt khác lại cho rằng không thể từ chối tham gia tái xây dựng đất nuớc Ba Lan vừa bị chiến tranh tàn phá. Cũng năm ấy, Czeslaw Milosz vào làm việc trong Bộ ngoại giao. Những năm sau đó, ông lần lượt giữ chức tham tán văn hoá tại Washington, rồi Bí thư thứ nhất Đại sứ quán Ba Lan tại Paris.

“Đi theo tiếng gọi của tự do”


Đối với chủ nghĩa cộng sản, ông tiếp tục giữ thái độ dè dặt và hoài nghi. 1951, tên tuổi ông bỗng xuất hiện trên mọi tờ báo phương Tây, ông đột nhiên nổi tiếng thế giới –dù chỉ trong một thời gian ngắn: Ông đã quyết định đoạn tuyệt với chủ nghĩa cộng sản, đã „đi theo tiếng gọi của tự do“, như báo chí hồi đó thường diễn tả.

Song báo chí không nhắc gì đến việc nhà ngoại giao Ba Lan này từng xuất bản vài tập thơ trước và sau Thế Chiến. Có lẽ các hãng thông tấn thời đó e rằng, sự nghiệp thi ca của Milosz nếu được nêu ra thì tư cách tị nạn của ông có thể bị ngờ là thiếu nghiêm túc và ý nghĩa của hành vi chính trị này có thể bị suy giảm trong con mắt của dư luận.

Vài năm sau, dẫu sao Milosz cũng được ghi nhận như một nhà văn: Tác phẩm Tư duy nô lệ xuất bản năm 1953 tại Paris của ông lập tức có một tiếng vang quốc tế khiêm nhường. Bản dịch tiếng Đức, với lời giới thiệu của Karl Jaspers [2] , được nhắc khá nhiều trên báo chí, rồi nhanh chóng rơi vào lãng quên.

Milosz kết án chế độ độc tài

Trong tác phẩm này, Milosz trình bày những cơ chế tư duy của văn nghệ sĩ và trí thức trong xã hội cộng sản, cả kẻ nồng nhiệt tán thành chế độ lẫn người chỉ lạnh lùng đi theo, cả kẻ cơ hội lẫn người giễu cợt. Câu hỏi mà cuốn sách của ông theo đuổi là: Làm cách nào một con người biết suy nghĩ có thể tồn tại trong xã hội cộng sản và thích nghi với hoàn cảnh ấy. Đối tượng bị ông kết án không phải là giới trí thức, mà là chế độ độc tài đè đầu và hạ nhục các cá nhân con người.

Sau Tư duy nô lệ, Milosz thường được giới quan sát cho đứng cùng một hàng với Arthur Koestler [3] và Ignazio Silone [4] . Việc ông bị đứng vào cái danh sách đó đã cho thấy một sự hiểu lầm căn bản. Bởi lẽ, khác với Koestler và Silone, ông chưa bao giờ là cộng sản và cũng chẳng bao giờ thích làm một nhà tuyên truyền chống cộng. Hơn nữa: Ông không hề là một con người chính trị.

Nhân điện của thi ca

Sau khi li khai với chủ nghĩa cộng sản, Milosz sống một thời gian ở Paris rồi chuyển sang Mỹ, ở đó ông được bổ nhiệm vào ghế Giáo sư Ngôn ngữ và Văn học Slave tại Đại học Berkeley ở California. Những buổi giảng của ông thường chật ních người nghe. Lí do nào đã khiến hằng bao nhiêu sinh viên Mỹ, phần lớn không theo học ngành Ngôn ngữ và Văn học Slave, tìm đến giờ dạy của một người lưu vong Ba Lan? Có thể là vì từ người đàn ông này, với tất cả phong thái điềm đạm và tỉnh táo cố hữu, toát lên một điều gì đó mà người ta không thể cố tình tạo ra – một trường nhân điện của thi ca.

Tập thơ đầu tay của Milosz được xuất bản năm 1933, tập thứ hai năm 1936. Thời kì đó người ta xếp ông vào nhóm tác giả „thảm hoạ chủ nghĩa“. Là thi sĩ, Milosz quả thật cũng luôn là một nhà phê bình văn hoá bi quan – và là một nhà phê bình văn hoá, ông cũng là một nhà tiên tri của ngày tận thế. Ngay từ những câu thơ đầu tiên ông đã có một giọng điệu riêng, gần như khô khan, một phong cách lạnh lùng, hoặc tỏ vẻ lạnh lùng không thể trộn lẫn. Người ta không thể không cảm thấy một độ căng thật đặc thù trong cả những câu thơ đầu tiên này lẫn những câu thơ về sau. Nó xuất phát từ sự tương phản giữa suy tưởng và tình cảm, giữa trầm tư sầu muộn và tinh thần trách nhiệm nhiệt thành. Bởi ngay từ đầu Czeslaw Milosz là một thi sĩ trí thức – và một tác giả văn xuôi đầy chất thơ. Một mẫu mực cho văn xuôi tràn đầy cảm giác của ông là cuốn tiểu thuyết tự thuật Thung lũng Issa.

“Campo de’ Fiori”

Thơ của Milosz đạt đỉnh cao đầu tiên trong thời kì Đức chiếm đóng Ba Lan. Ông viết bài thơ có lẽ nổi tiếng nhất của mình, “Campo de’ Fiori”, khi người Do Thái trong trại ghetto ở Warszawa, chỉ bằng một số vũ khí ít ỏi kiếm được với cái giá thật đắt, chống cự việc bị chở đến lò thiêu và qua đó tiến hành một cuộc chiến đấu vô vọng song đầy ý nghĩa chống lại nước Đại Đức.

Trên khu chợ La Mã mang tên này, Giordano Bruno từng bị thiêu sống trước bao cặp mắt của những kẻ chỉ biết hiếu kì. Khi cuộc khởi nghĩa trong ghetto nổ ra, Milosz đã kinh hoàng chứng kiến cảnh vui chơi giải trí cứ việc diễn ra ở một khu chợ Warzsawa, và liên tưởng đến địa danh La Mã ấy cùng sự lãnh đạm của các nhân chứng. Nhạc xập xình, át đi tiếng súng sau bức tường của khu ghetto, và những cặp trai gái trẻ trung theo chiếc đu bay, vút lên “bầu trời quang đãng”.

Xa lạ với thói tủi thân

Những tác phẩm bi ca của Milosz không hề biết đến sự ca thán, chúng xa lạ với thói tủi thân. Nổi bật trong tác phẩm của ông là sự phê phán nghiêm khắc và đau đớn về chính dân tộc mình. Trong một bài thơ, Milosz viết rằng ở chốn tha hương, Tổ Quốc chính là ngôn ngữ. Nhưng trong địa hạt thi ca, ngôn ngữ Ba Lan lại thường tỏ ra là một thứ rào cản định mệnh. Vì vậy mà thế giới có một hình dung sai lệch về văn học Ba Lan: Cùng lắm thì người ta biết đến một số tiểu thuyết và thấy chúng cũng thường thường bậc trung hoặc nặng tính mô phỏng.

Nhưng Ba Lan không phải là một đất nước của tiểu thuyết hay kịch, mà là của thơ, ngay từ thời kì của chủ nghĩa lãng mạn đã như vậy. Thơ Ba Lan càng độc đáo và càng hay bao nhiêu thì lại càng khó dịch sang một ngôn ngữ khác bấy nhiều, nhất là sang một ngôn ngữ nằm ngoài hệ Slave. Người ta có thể dịch mọi thứ, nhưng không thể chuyển tải được cái duyên của nền thi ca này. Chính vì vậy mà ở mọi nơi, văn học Ba Lan bị đánh giá thấp hơn giá trị thật của nó. Nhưng nhân đây cũng nên nhớ, văn học Nga cũng vậy, vị trí vinh quang trên thế giới mà nó có được không phải là do thơ của Pushkin hay Lermontov, mà nhờ tiểu thuyết của Tolstoj và Dostojevski, hay các vở kịch của Tshechov.

Ba mươi năm liền tác phẩm của Milosz không được phép xuất bản ở Ba Lan. Lệnh cấm đối với ông mãi đến năm 1980 mới được hủy bỏ, khi Milosz được tặng giải thưởng Nobel. Phải đến lúc đó công chúng Ba Lan mới biết đến tầm vóc viễn kiến của nhà thơ lớn này. Vài năm sau khi nhận giải Nobel, Czeslaw Milosz trở lại Ba Lan – và đã được đón nhận với lòng biết ơn và nồng nhiệt.

© 2004 talawas


[1]Các cách viết khác cho Lithuania: Lietuva, Lit-va (các chú thích trong bản dịch đều của talawas)
[2]Karl Jaspers (1883-1969), triết gia và nhà tâm lí học Đức, có ảnh hưởng mạnh đối với văn học Đức sau Thế Chiến thứ hai.
[3]Arthur Koestler (1905-1983), nhà văn Anh-Đức gốc Hung, từng là đảng viên cộng sản một thời gian ngắn rồi li khai năm 1937, nổi tiếng với tác phẩm „Nhật thực“ (1940)
[4]Ignazio Silone (1900-1978), nhà văn và nhà báo Ý, tham gia sáng lập Đảng cộng sản Ý (1921) và li khai năm 1930

 
© talawas 2026