“Cuộc chiến đấu vẫn còn tiếp diễn” là tên một bộ phim của Việt Nam. Tôi xem bộ phim này lâu rồi, từ lúc còn chưa biết chữ. Nhưng xin quý vị yên tâm, cuộc chiến “vi tính” ở talawas sắp đến hồi kết thúc rồi. Dường như những ý kiến có thể có ở trên đời này đã xuất hiện hết cả rồi. Có muốn kéo dài cuộc chiến cũng chẳng còn gì để viết nữa. Khỏi phải lo là “còn cái lai quần còn đánh”. Hồ Thích khi nghiên cứu lịch sử triết học Trung Quốc đã rút ra kết luận là một trong những nguyên nhân làm triết học Tiên Tần rực rỡ bị tàn lụi là do tư tưởng từ hoài nghi tranh luận của Trang Tử, chứ chẳng phải do Tần Thủy Hoàng đốt sách, chôn học trò.
Tham gia tranh luận chuyện “vi tính” ở talawas tôi mới biết thêm là tiếng Việt có nhiều quy tắc cấu tạo từ thật. Thế mới biết là đi một ngày đàng học một sàng khôn. Nhưng tôi vẫn lấy làm kỳ quái là không biết căn cứ vào đâu mà từ “bợm” trong “đại bợm” lại không phải là danh từ, mà là động từ. Tôi không am tường tiếng Việt lắm, nên có quý vị nào có thể dẫn cho tôi ví dụ một câu tiếng Việt nào đó mà “bợm” là động từ được không ạ (chỉ “bợm” không thôi, chứ đừng “bịp bợm” nhé). Nếu là câu trích dẫn từ các phẩm văn học thì càng tốt. Cũng xin quý vị yên tâm, từ “bợm” này có nguồn gốc kinh điển từ lâu đời rồi, chứ không phải là từ mới ra lò hay tiếng lóng gì đâu. Khi vịnh Truyện Kiều, Chu Mạnh Trinh từng viết: “Làng nho người cũng coi ra vẻ/ Bợm xỏ ai ngờ mắc phải tay”, để cụ Nguyễn Khuyến phê cho câu: “Rằng hay thì thực là hay/ Nho đối với xỏ lão này không ưa”. Tôi nghĩ là ai muốn sổ toẹt “vi tính” về cấu trúc ngữ pháp thì phải bước qua xác… “đại bợm” đã. Nhưng không phải chỉ có một mình xác “đại bợm” không đâu, mà còn có cả một đống xác nữa cơ như “đại ngàn”, “công chúa”, “học bạ”, “hương cả” (nếu ai có băn khoăn về chữ “chúa”, “bạ” thì tôi có thể cung cấp thiết âm của chúng). Đó là chưa kể các từ tuy có cấu trúc khác với “vi tính” nhưng cũng cùng một tuýp như “lớp trưởng”, “lớp phó”, “xê trưởng”, “xê phó”. Còn có một từ đã tồn tại cả nghìn năm nay rồi mà chưa thấy ai nói gì: Đại Cồ Việt (Ôi tiếng Việt đáng yêu ghê!). Quý vị cứ tiếp tục phát minh thêm các quy tắc ngữ pháp nữa cho phong phú “chính trước phụ sau”, hay đơn giản hơn cho các từ đó ở ngoài vòng pháp luật. Nhưng tôi cũng xin tiết lộ cho quý vị biết là bằng cách nào tôi có thể tìm ra được các từ có cấu trúc như thế để quá trình phát kiến các quy tắc mới của quý vị được thuận lợi và tôi đỡ phải cứ thỉnh thoảng thòi ra một, hai từ. Để tìm ra các từ như thế chỉ cần lấy một từ ghép tiếng Hán, chuyển một thành tố thành từ tiếng Việt mà từ nguyên của từ tiếng Việt này chính là thành tố tiếng Hán đó. Không phải bất kỳ từ nào cũng thu được kết quả, song chịu khó nghĩ thể nào cũng tìm ra. Tôi tìm ra “tạp ghi”, “đại bịp”, “công chúa”, “học bạ” bằng cách đó. Những từ như “tựa đề”, “tựa hồ”, “vô cớ”, “bất ngờ” cũng có thể tìm ra bằng cách này. (Ôi chẳng phải vô cớ mà người ta thường bảo nếu chưa thuộc hết các từ trong Từ hải, chưa biết hết kho từ vựng Môn-Khmer thì đừng bàn chuyện tiếng Việt. Tôi chỉ biết lõm bõm vài từ trong Từ hải, mù tịt từ vựng Môn-Khmer, chưa biết hết từ Việt-Mường, không nhớ tới lời, cả gan bàn chuyện ngôn ngữ, tránh sao khỏi khốn cùng. Nhưng biết làm sao?) Còn chuyện có tồn tại từ microcomputing trong tiếng Anh hay không thì tôi thấy hơi kỳ vì chẳng biết người Anh, người Mỹ có tranh luận về chuyện này không mà một đám người Việt lại đi tranh luận thay họ. Tôi vào amazon tra thử, ra cả một đống sách có từ microcomputing ở nhan đề. Chẳng biết các nhà xuất bản đó ngu dốt hay mù tiếng Anh mà in ra cả một đống sách như thế. Quái lạ thật. Tôi thấy cũng may là các nhà ngôn ngữ học talawas không có mặt ở nửa đầu thế kỷ trước, chứ không thì tôi dám nghĩ là “ma trận” dễ chung số phận lắm vì nếu “ma” là ma quái thì có liên quan gì đến matrix, còn nếu phiên âm là “ma” thì “ma trận” có cấu trúc ngữ pháp kiểu gì?
Để kết thúc cũng xin khẳng định, ở trên tôi sử dụng các khái niệm danh từ, động từ… là do trong quá trình tranh luận xuất hiện các khái niệm đó, chứ tôi không chấp nhận việc áp dụng các quy tắc ngữ pháp châu Âu vào tiếng Việt. Còn một điểm nữa, mà đáng lẽ ngay từ đầu tôi đã phải xác định rõ ràng nhưng lại quên đi mất là khi phát biểu các quy tắc ngữ pháp, quý vị lấy tiêu chuẩn gì để xác định tính đúng đắn của quy tắc ngữ pháp đó. Tôi lấy thực tại khách quan làm tiêu chuẩn đánh giá. Quý vị không nhất thiết phải theo tiêu chuẩn này, chẳng hạn quý vị có thể lấy sự thông thái của mình hay của một nhà ngôn ngữ nào đó làm tiêu chuẩn cũng chẳng sao. Nhưng quả thật dù có không thích Kuhn đi nữa thì tôi cũng phải ngậm ngùi mà cho rằng có lẽ chúng ta đang ở các paradigm khác nhau và sự trao đổi có khi là bất khả. Cuối cùng, tôi quan niệm rằng ngôn ngữ là một hệ động lực (dynamical system), do đó phải nghiên cứu ngôn ngữ trong quá trình động của nó, để từ đó tìm ra các quy luật ổn định (stable), chứ không phải đóng đinh câu rút ngôn ngữ vào một cái khung tĩnh để từ đó tìm ra các quy luật tĩnh (static). Tĩnh không phải bao giờ cũng là ổn định.
© 2005 talawas