Robert Payne
The Russian intelligencia produced a faith Based upon a strange syllogism: Man is descended from the ape, Therefore we must love one onother.
(Vladimir Solovyev)
[1]
Trên bàn làm việc cuả Lenin tại điện Kremlin, trong hầu hết thời gian ông làm việc ở đây, có đặt một bức tượng bằng đồng khá lạ lùng: một con vượn đang sững sờ chăm chú nhìn một chiếc sọ người lớn quá khổ. Bức tượng cao khoảng 10 inches chiếm một vị trí quan trọng ngay đằng sau bình đựng mực. Con vượn ngồi, hay đúng hơn là ngồi xổm, trên một đống sách, trong tư thế nhại lại bức điêu khắc Le Penseur cuả Rodin. [2] Chẳng có gì thú vị với dáng vẻ cuả con vượn, một loại thú nhớp nhúa,với cái đầu nhỏ, một cái vai cong vòng và đôi tay dài lòng thòng đong đưa; và cái sọ người miệng há to, hốc mắt trống huyếch, lại càng kém thú vị hơn nữa. Con vượn nhìn đăm chiêu chiếc sọ, và ngược lại chiếc sọ nhìn chằm chằm con vượn. Chúng ta chỉ có thể đoán rằng giữa chúng tồn tại một cuộc song thoại vô tận.
Lenin không giấu diếm tình cảm của ông với con vượn, (do vậy) nó đã được đặt tại một vị trí nổi bật để mọi người cùng thấy. Đó là tác phẩm điêu khắc duy nhất trên bàn làm việc của ông, vật đầu tiên đập vào mắt (người ta khi bước vào phòng); và bất cứ khi nào Lenin, từ bàn giấy, ngước nhìn tấm hình to lớn cuả Karl Mark và tấm bảng khắc tên của Stepan Khalturin [3] bằng chữ vàng, ông chắc chắn sẽ nhìn thấy nó trước. Có cảm giác rằng sự sống động cuả nó bao trùm cả căn phòng.
Thời gian lâu sau khi Lenin chết, căn phòng làm việc cuả ông được chuyển thành viện bảo tàng và khi tất cả những vật dụng có trên bàn ông lúc còn sống như – điện thoại, kéo, dao rọc giấy, bật lửa ông thường dùng để đốt giấy tờ – đều được sắp đúng vị trí cuả chúng đã từng như trước đây, và con vượn cũng không bị bỏ quên. Nó cũng được sắp đặt đúng vị trí thích hợp, cho nên khi nó xuất hiện, trong những bức hình chụp căn phòng, cho dù có bị che khuất đi một nửa, cũng vẫn nhìn ra ngay. Những đệ tử trung thành cuả ông (His devout followers) rất quan tâm tới việc duy trì căn phòng đúng như nó đã từng như thế trước khi ông chết. Ngay cả bức tượng con vượn đáng ra phải bị bỏ đi.
Bức tượng xấu xí và thiếu thẩm mỹ này thực ra không phải được đặc biệt làm cho riêng Lenin. Nó được sản xuất đại trà vào cuối thế kỷ 19. Nó là biểu tượng cuả sự hồ nghi, một mẫu đối thoại, có thể thấy tại vô số những gia đình ở Pháp, Đức, Scandinavia và Nga, theo gu thưởng ngoạn của giới trưởng giả, cái rất xấu xí, thiếu thẩm mỹ cuả bức tượng góp phần vào sự phổ biến của nó. Nó biểu tượng cho, nếu thực sự có một biểu tượng như thế, lời chế nhạo học thuyết Darwin, và cho thấy con vượn có cuộc sống lâu đời hơn con người, đang vấn tra, trong dáng vẻ sửng sốt của nó, về sự tồn tại cuả con người.
Lenin là loại người biết chính xác mình thích điều gì và ghét bỏ điều gì. Không có bất cứ một vật nào trong phòng làm việc lại không mang một ý nghĩa rõ ràng nào đấy với ông. Chẳng hạn như một mảnh nỉ đặt dưới gầm bàn làm việc để giữ cho chân ông ấm khi ngồi làm việc về mùa đông. Viên thư ký cuả ông quyết định thay thế bằng một tấm thảm da gấu mầu trắng. Ông nổi đoá ngay tức thì. Ông muốn biết tại sao ông lại cần được sống trong những tiện nghi tư bản như vậy, và ai là người trách nhiệm trong toan tính bao phủ ông trong những thứ xa xỉ như thế. Viên thư ký nhẹ nhàng trình bầy rằng ngay cả một viên chức thường cũng có thể có được một tấm thảm da gấu nhỏ như vậy, nhưng ông không bao giờ chấp nhận một sự trang bị như thế: nó không phù hợp với những trật tự mà ông đã mường tượng về căn phòng nơi ông dành nhiều thời gian nhất trong ngày.
Rồi có một cái chậu cao trong đó có trồng một cây cọ tán lá xanh mượt, dựng bên cửa sổ. Chính điều này cũng có một ý nghĩa đặc biệt và khó hiểu với ông. Hàng ngày ông phải lau chùi cánh lá, xem xét xem chúng có bị sâu nấm xâm hại gì không. Đó là sinh vật duy nhất – trừ ông – ở trong phòng, và vì lý do nào đó, ông muốn nó tươi tốt. Ông không thích trưng hoa được cắt tỉa ở trong phòng; ông ghét những cánh hoa rơi, dấu hiệu cuả sự tàn lụi được nhìn thấy. Cây cọ dù sao cũng xanh tốt quanh năm; nó chống lại sự tàn lụi, và luôn xanh tốt. Người ta thắc mắc tò mò về việc ông chăm sóc cây cọ rất nhiều, nhưng thực ra có một lời giải thích rất đơn giản. Ở Simbirsk và Kazan, rồi sau đó tại Moscow và St. Peterburg, mẹ ông luôn có một sưu tập những cây chậu cảnh, và khi còn là một đứa trẻ cũng như khi ở tuổi vị thanh niên, một trong những nhiệm vụ của ông là lau chùi lá cây. Do vậy, cây cọ là một thứ trang trí có liên quan thiết thực trong phòng. Cây cọ là biểu tượng bên ngoài có thể nhìn thấy được tình yêu và sự quyến luyến của ông đối với gia đình.
Bởi vì mọi đồ vật khác trong phòng đều có một ý nghĩa nhất định đối với ông, cho nên cũng cần phải tìm hiểu xem ý nghĩa cuả ông đối với con vượn, một vật chiếm vị trí oai vệ trong căn phòng. Ở một vị trí như thế, những người sùng đạo sẽ đặt hoặc một cây thánh giá, một bức tượng Phật, hoặc những biểu tượng khác biểu trưng cho đức tin cuả họ. Lenin đặt tượng một con vượn. Tại sao?
Sự giải thích có vẻ nằm trong thái độ tôn thờ khoa học của giới trí trí thức Nga trong thế kỷ 19. Một quốc gia độc đoán phi lý hiện tồn, nó hoàn toàn thất bại trong việc đáp ứng nhu cầu của dân chúng. Rõ ràng là nó lỗi thời, không hiệu quả, thối nát, và không còn sức phát triển. Mọi người quay lưng lại với nhà nước, và Giáo hội Chính thống (Orthodox Church) cũng ngày càng trở nên xa lạ với dân chúng, họ đặt niềm tin vào khoa học. Chỉ có khoa học mới mang cho họ chìa khoá đến tương lai. Đối với trí thức Nga (thời đó), tranh biện về học thuyết Darwin hoặc bất cứ học thuyết khoa học khả nhận nào đều là những kẻ dị giáo. Khoa học, cho dù máy móc, cho dù nguy hiểm và võ đoán, chính nó là một thứ niềm tin (an article of faith). Khi đại triết gia Vladimir Solovyev viết “Giới trí thức Nga đưa ra niềm tin dựa trên một tam đoạn luận kỳ cục: con người bắt nguồn từ loài vượn, do đó chúng ta phải thương yêu lẫn nhau”, chắc hẳn ông hàm ý rằng giới trí thức Nga tin tưởng mãnh liệt rằng khi nhà nước Mác xít được thành lập, chỉ khi đó con người mới sống trong hoà bình và thuận thảo với nhau.
Nhưng trong bản chất, khoa học là vô nhân tính (inhuman). Nó không thể quy định cho sự đa dạng vô tận cuả con người; nó chỉ quy định cho con người như những thống kê, những khuynh hướng hay như những chướng ngại để áp dụng những quy luật khoa học. Lenin hoàn toàn sẵn sàng để xem con người như những thống kê hay như những xu hướng ; ông cũng đồng thời sẵn sàng để xem con người như những chướng ngại trên con đường độc tài khoa học cuả ông và ông không thấy áy náy gì khi cần phải huỷ diệt cả những giai cấp để xác minh cho những quy luật khoa học. Giới quý tộc, trưởng giả, nông dân, và tu sĩ Chính thống giáo phải bị huỷ diệt để cho nhà nước vô sản được thành lập. Đó là một việc làm táo bạo, bởi vì nó có nghĩa là huỷ diệt hoặc bắt buộc chín phần mười dân số Nga phải vào khuôn mẫu mới.
Mặc dù sự thật rằng việc làm táo bạo này về bản chất là vô lý và những lý thuyết khoa học này thiếu hẳn những cơ sở khoa học, nhưng ông vẫn cố chấp. Hiển nhiên, ông đã coi con người đơn giản là những thống kê, những con số, những thứ có thể lưu chuyển theo ý ông. Điều này không có nghĩa ông coi thường con người, hoặc hạ nhục họ bằng bất kỳ cách nào – một người không thể khinh thị hoặc hạ nhục những con số thống kê – chỉ đơn giản rằng, với ông, chúng không hiện hữu, cũng như con người. Họ là những con số in trên trang sách, không có sự tồn tại bên ngoài trang giấy. Họ là những huỷ thể (nullities), chỉ sở đắc cái giá trị mà ông chọn đặt lên họ. Không có gì ngăn cấm ông xé bỏ toàn bộ trang giấy (có ghi chép) những con số thống kê trên đó để làm cho cuốn sách nhỏ đi hơn, gọn gàng hơn, và dễ quản lý hơn.
Những tính chất xuất phát từ những hành động và bài viết cuả ông là bản chất của người thuận thành theo chủ nghĩa hư vô, hoàn toàn xa lạ với những ưu tư bình thường cuả con người, ông thủ đắc một niềm tin vững chắc vào khoa học, lão luyện trong mọi nghệ thuật huỷ diệt. Giống như Nechayev [4] , ông là người tận tụy với niềm tin vào “Tàn bạo, toàn bộ, không khoan nhưọng và huỷ diệt toàn bộ”. Ông là người với niềm tin vào sự vô giá trị cuả sự tồn tại (worthlessness of existense) đến nỗi ông chỉ có thể làm cho đời sống của chính ông thú vị bằng cách phóng chiếu nhân cách của mình lên hàng ngàn năm của lịch sử. Ông hoàn toàn không sợ hãi, vì không có điều gì trở thành vấn đề đối với ông ngoại trừ những quy luật khoa học ngụy tạo của ông phải được xác minh, bất kể cái giá cuả cuộc sống hay nỗi khổ đau. Ông đòi hỏi một sự trung thành tuyệt đối, dù chính ông không trung thành với bất cứ cá nhân nào, thậm chí ngay cả những đồng chí thân tín cận kề nhất cuả ông, những người mà ông có thể loại bỏ không thương xót hoặc vận dụng họ như thể chính họ cũng là những con số thống kê của quyền lực. Tính khí cuả ông là quý tộc, xa lạ, châm biếm, hơi khinh khỉnh. Chung cuộc, cả nước Nga đã trở thành tài sản riêng cuả ông, ông cai quản tài sản đó bằng những lệnh ban phát ra từ Moscow và lâu đài của ông tại Gorki.
Trong ánh sáng soi rọi tính cách và niềm tin của Lenin, con vượn và cái sọ người khoác một ý nghĩa khủng khiếp. Chúng là biểu tượng của sự huỷ hoại và sự xuống cấp của tâm hồn con người. Chúng đại diện cho những quyền lực vô chính phủ (anarchic forces) mà ông quyết áp đặt lên trên đó những quy luật khoa học: Mọi người là vượn, và họ phải di động theo lệnh của ông, nếu không họ sẽ trở thành những cái sọ. Họ phải được huấn luyện, và gom vào các trường học để nhận những chỉ thị của thầy giáo. Họ không được tranh cãi với ông hoặc bất kỳ ai kế vị ông, bởi vì họ không được ban cho quyền tự do tranh luận. Ông muốn chúng vâng lời không suy nghĩ (mindless obedience), vì là vượn, chúng ngu đần và không xứng đáng để có một thân phận tốt hơn.
Lenin có rất nhiều tội lỗi, nhưng tội trọng nhất là sự khinh bỉ loài người. Giống như Mark, ông có sự khinh thường ghê gớm với những người nông dân. Trong một đoạn văn nổi tiếng cuả Mark nói về “sự ngu xuẩn cuả đời sống thôn dã” (the idiocy of rural life) ông mô tả nông dân Pháp không khác hơn một bao khoai tây không còn sự sống, không bao giờ có thể khuấy động trở thành những hoạt động được; nó giống như một cái thây ma quăng ra chờ thối rữa. Tuy nhiên, Lenin đi xa hơn Mark. Không phải chỉ những nông dân, mà đối với ông, tất cả mọi giai cấp trong xã hội đều là đáng ghét – ngoại trừ giai cấp vô sản, mà với giai cấp này, ông hầu như không tiếp xúc với họ. Quanh ông là những nhà trí thức và thần học, và ông coi khinh họ hệt như ông coi khinh những người nông dân, vì ông chẳng tìm thấy ai trong bọn họ có khả năng hiểu biết ngang tầm như ông. Thảm kịch nơi ông là, ông không không bao giờ có cơ hội mài sắc ý tưởng của mình với người đạo đức, thông thái hơn ông. Một đám thấp kém loanh quanh theo gót ông. Zinoviev, Radek, Kamenev, Bukharin và tất cả đám còn lại chìm sâu sau cái bóng của ông. Họ, chỉ là những đầy tớ của ông, những người chỉ bắt chước chủ mà không hề có sự sắc bén nào tri tuệ và khả năng không ân hận của ông để biến những lý thuyết cuả ông thành những kết luận hợp lý của họ.
Những hệ lụy này là một trong những hệ lụy nặng nề nhất đã từng làm thương tổn loài ngưới. Chúng đem ý hướng nô lệ vào lý thuyết trong đó đòi hỏi sự vâng phục tuyệt đối cuả cá nhân đối với vị thần đang trầm tưởng cuả quốc gia (the brooding genius of the state), đấng Chánh thẩm toà Dị Giáo (the Grand Inquisitor), người có quyền uy thường trực, thủ đắc chiếc chìa khoá mở vào bí mật. Như trong tiểu thuyết Anh em nhà Karamazov, Dostoyevski đặt lời nói sau đây vào miệng cuả vị Chánh thẩm toà Dị giáo lời với Chúa: “Chúng con sẽ thuyết phục họ rằng họ sẽ không bao giờ được tự do cho đến khi họ từ bỏ tự do cuả chính mình trong ân điển của chúng con và quy phục hoàn toàn cho chúng con, rồi họ sẽ được hạnh phúc, tất cả triệu triệu người, ngoại trừ hàng trăm ngàn người khác, những người đang cai quản họ. Chúng con đã chỉnh đốn lại công việc vĩ đại cuả chúng con, và chúng con đã làm điều ấy dựa trên Phép lạ (Miracle) , Sự bí nhiệm (Mystery) và Quyền năng (Authority.)” Nhưng đấng Chánh thẩm Toà Dị giáo này không gọi đến Phép lạ, Sự bí nhiệm và Quyền năng cuả Đấng Christ; ông kêu gọi tới chủ thuyết cuả chính ông mà con người chỉ xứng đáng là nô lệ.
Lenin là người rất giản dị, nhưng lại không có những giải pháp giản dị. Ông muốn đưa ra một quốc gia lý tưởng – và không nghi ngờ gì về tài năng và đam mê đích thực cuả ông về cái quốc gia ấy – nhưng lý tưởng đã trốn lánh ông, như nó đã từng trốn lánh bao người khác. Đến lúc cuối đời, ông nhận ra rằng dân tộc Nga đã chịu biết bao khổ đau và hi sinh to lớn dưới sự cai trị độc đoán cuả ông, ông đã dẫn họ đi sai đường. “Chính tôi, hình như, đã phạm trọng tội với những người Lao động Nga “ ông tuyên bố như thế; [5] và chính những lời nói đó đáng lẽ phải là lời chính thức ghi trên mộ chí cuả ông. Có rất ít những nhà cai trị trong lịch sử đã thốt ra những lời nhận tội rõ ràng như thế (so clear a mea culpa).
Việc Stalin thành người kế vị ông lại là điều mỉa mai đáng sợ. Nhà độc tài thô lỗ bạo tàn và hoang tưởng này không có tài năng trí tuệ bẩm sinh như Lenin và cũng hiếm khi viết được một câu tiếng Nga cho đúng cách. Chủ nghĩa cộng sản dưới thời đại Stalin đã trở nên tàn bạo tới mức độ vượt qua mọi chế độ tàn bạo trên thế giới được biết tới cho tới thời điểm của ông ta. Lenin với một trí tuệ nghiêm ngặt , tính vị kỷ, sức mạnh tinh thần kỳ lạ, luôn sai sót ngay cả trong những thành tựu lớn, nhưng ông vẫn được coi là một dị nhân; còn Stalin là con ác quỷ. Tuy nhiên cũng phải nhận xét rằng nếu không có Lenin thì cũng không thể có Stalin. Stalin là đứa con của Lenin, và rồi, Lenin người ghét bỏ, khinh bỉ và sợ hãi đứa con đó, là người duy nhất chịu trách nhiệm về việc đã đưa Stalin lên nắm quyền lực.
Từ khi Lenin quyết định rằng mọi phương cách đều được phép làm miễn sao đạt được nền chuyên chính vô sản, với chính ông cai trị trong danh xưng vô sản, ông đã đưa dân tộc Nga vào việc mất quyền tự do của con người đến mức không thể chấp nhận được. Quyền lực của ông là một thứ quyền lực trần trụi; vũ khí cuả ông là sự huỷ diệt; mục tiêu cuả ông là kéo dài sự độc đoán. Ông từng viết “Đưa châu Âu vào ngọn lửa” (Put Europe to the flames) – và rồi không nghĩ gì về điều đó nữa. Ông có thể ban lệnh chết cho hàng ngàn người, và cái chết của họ không hề quan trọng, bởi vì họ chỉ là những con số thống kê cản trở tiến bộ của lịch sử. Cuộc tàn sát trong các hầm chứa ở Lubyanka [6] không làm ông quan tâm. Ông giành được thắng lợi trong cuộc Cách mạng Nga, rồi phản bội nó, và ở thời điểm ấy, ông tạo ra Stalin là điều không thể tránh được.
Sự cai trị không luật pháp của Cộng sản là do chính Lenin tạo nên. Những luân thường của con người không bao giờ làm ông quan tâm; ngay từ lúc khởi sự, ông luôn dùng từ như “tiêu diệt” và “không khoan dung” như những con bài trong trò chơi. Bất cứ điều gì ông ban bố đều là luật, và ai chống lại điều ấy là những kẻ vi luật, bị đặt ra ngoài pháp luật, do vậy họ không có bất kỳ quyền gì, ngay cả quyền để thở. Tuy vậy, có đôi khi, vì tính chất độc lập của tri thức đã cho phép ông nhìn ra một vài sắc lệnh của ông là vô nghĩa, và với Kế hoạch Kinh tế Mới, ông thừa nhận có sai sót theo kiểu cách cuả ông. Stalin, không thủ đắc tính độc lập tri thức, không bao giờ thừa nhận khuyết điểm, sai sót cuả mình, tiếp tục tàn sát không nương tay và hết lời ngợi ca như thể “chủ nghĩa Marxist khoa học” đã trở thành hiện thực bởi vì không có mục tiêu nào khác hơn là để làm thoả mãn cơn thèm khát quyền lực cuả ông ta. Lenin cũng là người thèm khát quyền lực nhưng ông còn đủ nhân tính để coi sự sùng bái cá nhân là điều đáng ghét.
“Lenin không phải là người ít tham vọng”, Lunacharsky đã viết như thế. “Tôi tin rằng ông ta không bao giờ nhìn lại mình, không bao giờ xem xét những tấm gương lịch sử, thậm chí chẳng bao giờ nghĩ về hậu thế sẽ nghĩ về mình như thế nào – ông ta, đơn giản chỉ làm công việc cuả ông ta thôi”. Lunacharsky đã viết điều này trong lúc Lenin còn sống và trước khi tờ báo cuả ông ta được xuất bản; và trong bài viết của ông có thừa bằng chứng cho thấy rằng từ giai đoạn rất sớm, Lenin đã coi chính ông là một nhân vật lịch sử. Ông tin tưởng, hoàn toàn đơn giản, rằng ông được đẩy vào một thời điểm mới. Ông không khiêm tốn giả tạo, ông coi mình như vị anh hùng bảo vệ một niềm tin mới, là người có nhiệm vụ trả thù cho sự bất công và khốn khổ của quá khứ.
Chúng ta, những kẻ hậu sinh không nhất thiết phải chấp nhận giá trị cuả chính ông ta. Cái quốc gia mà ông ta khai sinh ra đã chứng tỏ nhiều bất công hơn và tàn bạo hơn cái quốc gia mà ông ta lật đổ. Ông tuyên bố rằng mọi thứ sẽ đổi mới, nhưng trên thực tế chẳng có gì mới, ngoài cái tên; bởi vì mọi sự tàn bạo đều giống nhau, chỉ khác nhau về mức độ. Cơ quan mật vụ Cheka của ông chỉ là cơ quan mật vụ Okhrana dưới thời Nga hoàng dưới một cái tên khác: bất nhân hơn, khủng khiếp hơn và chỉ hữu dụng khi nó tận diệt những nhóm đối lập cho tới người cuối cùng. Dưới thời Stalin, Cheka còn tàn sát hơn bao giờ, nó trở thành người cai trị thực thụ cuả đất nước; và dần dần từng người lãnh đạo cuả cơ quan này bị giết chết giống hệt như những nạn nhân của nó.
Khi quyền cai trị được trao cho cảnh sát mật vụ, lúc ấy, theo bản chất tự nhiên, nó đánh mất nhân tính, tự đặt nó ra ngoài ranh giới cuả văn minh, và không thủ đắc lich sử nữa, vì sự lập lại của tội ác không là lịch sử. Cái chính quyền do Lenin giới thiệu và tin tưởng là nó mới mẻ, thì ra cũng cũ kỹ như con người, bởi vì không có điều gì mới về sự tàn bạo cả. Một chính quyền như thế chỉ là thứ “chính quyền bởi loài vượn và sọ người”.
Lenin là một trong những người hiểu biết những bí ẩn của sự khốn khổ của con người không bắt nguồn từ những qui luật của thiên nhiên mà là từ những cơ cấu (do con người tạo ra) nên con người phải biết học để thay đổi. Do vậy ông thay đổi chúng, và thảm kịch là sự thay đổi đó chỉ ở bề mặt. Độc tài vẫn là độc tài, và những cuộc thảo luận công khai, mà từ thời Cleisthenes [7] đã là một đặc tính của một cộng đồng văn minh, đã không được thừa nhận. Nhà độc tài nói cho các triết gia phải nghĩ điều gì, các thi sĩ phải viết cái gì, các hoạ sĩ phải vẽ cái gì, và các người lao động phải làm như thế nào và khi thì nào làm; tất cả phải vâng lời ông, bởi vì ông có quyền uy để bắt họ phải vâng phục. Rồi nhà độc tài tin rằng ông đã ban phát lợi ích cho loài người là điều châm biếm cuối cùng.
Trong The 18th Brumaire of Louis Napoleon, Kark Mark giải thích trong một đoạn văn mang đầy ý nghĩa điều gì sẽ xẩy ra khi những cuộc cách mạng thành công và việc chúng bị cầm tù bởi gánh nặng trì trệ của quá khứ như thế nào:
“Con người làm nên lịch sử cho chính mình, nhưng họ không tạo ra nó theo đúng như ý họ; họ không tạo ra nó trong những hoàn cảnh do chính họ lựa chọn, mà là dưới những hoàn cảnh họ trực tiếp thấy được, cho bởi và truyền lại từ quá khứ. Truyền thống cuả mọi thế hệ quá vãng đè nặng lên họ như cơn ác mộng lên những người còn sống. để tạo dựng nên một điều gì đó hoàn toàn mới, chính xác là trong thời đại cuả những sự biến động cách mạng như thế, họ gọi dậy những linh hồn của quá khứ cho công việc cuả họ và mượn từ đó những danh xưng, những khẩu hiệu chiến đấu và trang phục để giới thiệu một tình thế mới cuả lịch sử thế giới trong sự giả trang hợp thời và với ngôn ngữ vay mượn này.”
Đó là điều Lenin đã làm, ông không bao giờ ý thức được rằng ông đã kêu dậy những hồn ma quá khứ khi ông phác hoạ những kế hoạch rộng lớn cho việc tái tổ chức hoá mọi phương diện của đời sống ở Nga. “Chúng ta sẽ phá bỏ mọi thứ“, ông đã nói như thế, “và trên sự đổ nát đó chúng ta sẽ xây dựng nên ngôi đền thờ cuả chúng ta.” Ông đã huỷ diệt mọi thứ mà ông có thể huỷ diệt được, và đã xây dựng nên ngôi đền chỉ là ngôi đền cũ với một bề mặt mới. Trong thời đại chúng ta, những ngôi đền thờ như thế đã lỗi thời (anachronism). Không phải vì cái học thuyết man rợ đó mà chủ đích cuả nhân loại sẽ được bảo đảm (không phải bằng sự áp đặt) nhưng bởi sự thảo luận công khai và bằng sự thuyết phục hoà nhã (gentle persuation). Chúng ta không cần phải nhìn ngắm con khỉ chơi đùa cái sọ nữa. Chúng ta đã biết rằng những chủ thuyết là thuốc độc, và rằng nền độc tài dưới bất kỳ hình thức nào đều là sự xúc phạm tới nhân phẩm con người. Chúng ta cũng biết rằng khi một quốc gia trở thành nhà tù thì cuối cùng chính nó cũng bao gồm cả những kẻ cai trị trong những bức tường rào kẽm gai.
Trong một thời gian ngắn nữa bóng ma của Lenin sẽ còn ám ảnh trái đất, cái chủ thuyết không thể thay đổi được này sẽ còn đưa hàng triệu người xuống mồ. Chẳng bao lâu, Lenin cũng sẽ khuất vào trong những bóng đen cùng với những hồn ma của những người cổ xưa, những đế vương và những kẻ chinh phục lỗi thời, những người tự cho mình là người duy nhất bảo vệ chân lý, những nhà lãnh đạo do Thượng đế ban cho loài người (God-given leaders of mankind). Ông là người hoàn toàn không biết sợ hãi, tinh thần của ông dâng cao trong nghịch cảnh, lúc khiêm tốn, lúc cao ngạo, khi nhân ái khi bất nhân, một nửa của tộc Chuvash và một nửa cằn khô (dry-as-dust) cuả một giáo sư người Đức tận tụy với lý thuyết của sự huỷ diệt, và trong một trong những biến cố lạ lùng nhất của lịch sử, ông đã chế ngự nước Nga và trở thành người chi phối sân khấu lịch sử thế giới. Ông thuộc hàng ngũ của Sennacherib, Nebuchadnezza, Genghis Khan và Tamalane – và vì thế ông đã trở thành huyền thoại.
Ghi chú về tác giả và nguồn: Pierre Stephan Robert Payne (1911-1983) Là nhà văn, sử gia, người viết tiểu sử sinh tại Cornwall Anh quốc. Ông có hơn 100 đầu sách về nhiều chủng loại. Đặc biệt những cuốn sách viết về tiều sử cuả Lenin, Stalin, Mao trạch Đông, Tưởng Giới Thạch… của ông là những đầu sách được nhiều người biết tới. Bản dịch này là chương cuối cuả cuốn The Life and Death of Lenin do nhà xuất bản Simon and Schuster, Inc. ấn hành năm 1964 từ trang 626-633. Trong bài viết, ngoại trừ ghi chú 5, các ghi chú còn lại là của người dịch.
Bản tiếng Việt © 2007 talawas
[1]Vladimir Solovyev (1853-1900) là nhà triết học, nhà thơ, nhà phê bình văn học… người Nga, ông có nhiều đóng góp vào nền triết học và thi ca Nga vào khoảng nửa thế kỷ 19. Ông là bạn thân của văn hào Dostroevsky và được cho là bóng dáng cuả nhân vật Alogosha trong tập tiểu thuyết “The Brother of Karamazov” của Dos.
[2]Rodin Nhà điêu khắc người Pháp. Bức tượng “Người suy tưởng“ (Le Penseur) của ông được nhiều người biết tới.
[3]Stepan Khalturin một gương mặt quan trọng trong phong trào cách mạng Nga vào thời gian thập niên 1917 – đặc biệt là vụ tổ chức mưu sát Sa Hoàng Alexander II vào ngày 1/3/1881 tại phòng ăn trong lâu đài Mùa đông (Winter Palace).
[4]Nechaev: (1845-1822) M ột khuôn mặt cách mạng Nga có liên đới với “Nihilist movement”. Ông cùng với Bakunin (có lời đồn đãi rằng là người tình đồng tính cuả ông) soạn cuốn “Cathechism of a Revolutionary“ (Cách mạng vấn đáp) trong đó có đoạn viết như sau:
“Người làm cách mạng là người huỷ diệt (doomed man). Hắn không có quyền lợi tư rêng, không có những mối quan tâm cá nhân, tình cảm, ràng buộc, gia sản, không có ngay cả một cái tên cho chính hắn. Toàn bộ cuộc sống cuả hắn dành cho một mục tiêu, một ý tưởng, một đam mê – cách mạng – (bằng cả) trái tim và linh hồn, không chỉ bằng lời nói mà bằng việc làm, hắn rất nghiêm khắc với mọi liên hệ giao tiếp với trật tự xã hội và với toàn thể thế giới văn minh; với những luật pháp; những tập tục tốt đẹp (good manners), qui ước của thế giới đó. Hắn không khoan nhượng với kẻ thù và tiếp tục lưu trú trong nó với chỉ một mục tiêu – tiêu diệt nó.”
[5]Letter to the Congress (Moscow, Foreign Languages Publishing House, p. 22) chú thích này của Robert Payne.
[6]Bộ chỉ huy cuả cơ quan mật vụ KGB, có liên hệ mật thiết với nhà nằm tù trong quảng trường Lubyanka Square ở Moscow. Trong cuộc cách mạng Bolshevic, cấu trúc này là Bộ chỉ huy cuả mật vụ, lúc đó có tên là Cheka.
[7]Cleisthenes (515-495 B.C) Chính trị gia người Athen, được coi là người đặt nền móng cho chế độ dân chủ.