Hoàng Vũ Thuật
Từ thế kỷ 19, các nhà triết học, các nhà văn đã cảnh báo về sự tha hoá của con người. Thế giới mà con người tạo ra càng văn minh, thì sự tha hoá càng có nguy cơ nảy nở. Loài người chống lại sự tha hoá là chống lại cái phần ma quỷ – phần con trong con người.
Sự bừng ngộ này trở thành ấn tượng mạnh trong sáng tạo của nhà văn. Nhà văn viết như nhu cầu tự thân. Tự mình mổ xẻ chính mình. Có lẽ, nếu tiểu thuyết, truyện ngắn chống lại sự tha hoá của con người bằng cấu trúc các tuyến nhân vật, hình ảnh, sự việc, thì với thơ, bằng biên độ dao động của ngôn ngữ, sự thăng hoa của cảm xúc vẫn giữ vai trò quyết định.
Những suy nghĩ, mặc cảm ấy ám ảnh bao năm qua khi đọc Mảnh trời qua ô cửa của Văn Thao, một người viết và nói đều rất kiệm lời. Hình như mỗi tiếng bật ra hay ghi lên mặt giấy đối với Văn Thao được coi như thứ tài sản tinh thần quý giá, không thể sử dụng tuỳ tiện. Kiệm thế vẫn chưa đủ, Văn Thao phải thốt lên: Có nhiều điều không dễ viết nổi…/ Khóc lên ta bỗng hiểu lẽ đời. Phải chăng đạt tới độ nào đó, đôi khi thơ nằm ngoài lời. Thơ hàm chứa trong im lặng, trong dòng nước mắt, trong khoảng không vô sắc đất trời. Nếu như thế, thơ cũng là cõi huyền diệu từ một thế giới tâm linh và, chỉ có tâm linh mới mở được cánh cửa bí ẩn, khám phá phía sau nó.
Ba mươi hai bài thơ, dưới con mắt Văn Thao, ngõ hầu hội tụ cả thế giới từ thời ngọn lửa rìu hồng hoang đến thời gió đã chuyển. Nỗi ám ảnh đến mức tôi cho rằng sao ít người nhắc đến Văn Thao. Tại vì anh chưa nhập được vào người ta, hay thơ anh chưa có gì để nói? Tôi vẫn quan niệm thơ càng khó hiểu, không dễ dàng hiểu, càng mở rộng trí tuệ ra nhiều phía, càng lặn sâu vào tâm thức người đọc. Chính Goethe từng tuyên bố: “Một tác phẩm thi ca càng độc nhất vô nhị và khó nắm bắt đối với trí tuệ bao nhiêu thì lại càng hay bấy nhiêu”. [1] Nguyễn Trọng Tạo, trong lời Bạt tập thơ Văn Thao, cho rằng: “Thơ anh không thuộc trường phái khó hiểu”. Một nhận xét tế nhị. Có điều, trong những câu thơ không lấy làm rắc rối kia lại giàu sức liên tưởng, tàng ẩn cái thế giới mà nhà thơ đang quan tâm – đó là sự tha hoá, cô đơn và khát vọng của con người.
Trong tiến trình đi tới, con người ý thức được bước chân sau cùng của mình, đó là quy luật khách quan không thể đo ngược: Hoàng hôn sẽ về đâu / Ðêm ngẩn ngơ / Trăng mười sáu… / Hoàng hôn sẽ về đâu / Ngọn lửa rìu / Bập bùng vách đá, để rồi nhà thơ nhận ra:
Tôi và Em
Hai cánh chim đơn lẻ
Tìm lại thời tuổi trẻ
cho nhau
Hoàng hôn sẽ về đâu?
(“Hoàng hôn sẽ về đâu”)
Ðọc lướt qua, chẳng có gì để bàn, nhưng ngẫm kỹ câu hỏi sẽ về đâu, hàng nghìn năm nay nhân loại đã hỏi mà chưa có lời đáp lại. Ðó chính là ý niệm cao cả về tồn tại, bao hàm cả nỗi cay đắng nghiệt ngã giữa con người và thế giới tự nhiên, được phản chiếu cụ thể qua hai người: Tôi và Em. Hai chữ Tôi, Em viết hoa có chủ đích.
Câu hỏi ấy đeo đẳng mọi nguồn cảm xúc nhà thơ: Hoàng hôn vỡ vụn / Trong mưa / “Diêu bông” chửa thấy / Người xưa nơi nào… (“Người đi tìm lá”); Bỗng một ngày nhận ra / Thẳm sâu một đôi mắt (“Bóng lương tâm”); Hoàng hôn ngáp ngủ / Ngóng cơn mưa (“Vô đề 1”); Dáng gầy mẹ gánh cả hoàng hôn (“Dáng mẹ”); Những quả bóng / Bảy sắc cầu vồng / Từ cọng rau muống / Bay lên / Vỡ (“Bảy sắc cầu vồng”); Một khoảng trống nói gì trên trang giấy (“Suy tư”)… Ðắm chìm trong nỗi niềm trắc ẩn ấy nhà thơ nhìn thấy cái không dễ nhìn thấy:
Giọt lệ cằn
Lăn không tiếng động
(“Sắc không”)
“Nửa”, “Hội hoá trang”, “Rối đất”, “Dấu hỏi không lời”, “Người bán bóng”, “Em bé mù và chiếc lá” là những bài thơ đầy tâm trạng hốt hoảng về sự tha hoá nhân cách con người trong thế giới của nó. Bằng đôi mắt khám phá và đồng cảm, Văn Thao gửi đi thông điệp nỗi lo lắng khi con người xa lạ với con người, quan hệ giữa con người với con người trở nên mờ nhạt. Ðiều mà Trương Ðăng Dung đã nhấn mạnh trong bài viết giới thiệu, đánh giá về “Thế giới nghệ thuật của Franz Kafka” [2] khi dịch tác phẩm của ông.
Văn học viết về thân phận con người không khu biệt một vùng đất, một quốc gia nào. Nghệ thuật phi biên giới. “Hội hoá trang” được viết từ ý niệm đó: Những chiếc mặt nạ / Trong ngày hội hoá trang / Nhảy nhót / Họ chọn mình / Những khuôn mặt ưa thích. Thế là tất cả đều đảo lộn. Ông già bảy mươi thành em bé, lão đồ tể thành thầy tu, bà chủ nhà hàng thành nàng Bạch Tuyết, người mẫu mang bộ mặt quỷ sa tăng… Ðiều nhà thơ gửi gắm không phải sự hài hước vui vẻ ngày hội, mà thế giới loài người đang đối mặt với một thực tế kinh hoàng:
Hai khuôn mặt
Trong một con người
Ðứa bé mù loà trong bài “Em bé mù và chiếc lá” ngả lòng tay như một đài hoa để kiếm sống giữa cái chợ đời huyên náo, rốt cục nhận từ cây sấu già nhân hậu:
Một chiếc lá, một chiếc lá
Vàng…
Cầm trong tay chiếc lá vừa rơi kia, Em bé mù run rẩy / Ði về phía hoàng hôn, vẫn tin rằng đó là tờ giấy bạc mà người đời bố thí cho mình. Bóng dáng vật vờ của em bé mù – hình tượng con người đơn bạc bị ruồng bỏ ngay giữa thế giới loài người, là hồi chuông báo động về sự tàn nhẫn giữa con người với con người đã đi đến ranh giới sau cùng.
Khắc hoạ chân dung người cha, Văn Thao dựng lên bức tranh nội tâm hoàn thiện: Sau ô cửa / Một mảnh trời / Sáng / Tối / Một cành bàng khẳng khiu / Lá khi xanh khi đỏ / Còi tàu ga / Vọng về đêm đêm. Giữa khung cảnh ảm đạm đó là hình ảnh con người cô đơn chính trong ngôi nhà của mình – nhạc sĩ thiên tài Văn Cao: 30 năm lặng im / Mình bên ly rượu / Nhìn trời qua ô cửa / Mảnh trời không đổi / Mái tóc sáng lên / Ô cửa cũ dần.
Khai thác sâu phía chênh vênh của con người, thơ Văn Thao càng trở nên ấn tượng. Câu thơ cô đặc mà nghĩa lại mở:
Tóc bạc đổi hôm
(“Nỗi đau câm”)
Quá khứ
nhầm con chữ
Tương lai
xếp
Nụ cười
(“Những con chữ”)
Mỗi khi thoát khỏi sự ức chế tù đọng của tư duy, thơ càng mang khát vọng sống. Mênh mang đầy ắp như biển vẫn ngày đêm kêu khát, rồi mơ màng giữa bức tranh “Tĩnh vật”, kiên định trong quyền được yêu và thích hai màu đen trắng. Trong ý nghĩa nào đó, như quy luật tất yếu, khi con người tự vượt lên, vươn tới khát vọng thì càng thấy mình cô đơn. Và, con người càng cô đơn, khát vọng càng cháy bỏng: Quả cam nhỏ / Lăn qua anh / Sóng sánh / Ly thủy tinh – Quả cam nhỏ / Lăn qua tôi / Lấp lánh / Tranh tĩnh vật (“Tĩnh vật”).
Văn Thao không thuộc lớp nhà thơ tìm kiếm cách tân, thay đổi giọng điệu. Kiệm lời, tính đặc tả trong bút pháp hội hoạ là kiểu cách, chỗ mạnh của thơ anh. Bài thơ “Vô đề 2” khẳng định thi pháp Văn Thao lựa chọn:
Tôi soi vào ly rượu
Bóng tôi
trần
trụi
chìm
Tôi thả từng con chữ
Ly rượu
Cạn
Chữ
Lên men.
Nhà thơ và thơ đã giao hoà làm một.
Ðồng Hới, 7/11/2005
[1]Theo Marcel Reich-Ranicki, “Một lời biện hộ cho thơ”, trong Tạp chí
Văn học Nước ngoài, số 5, 2005.
[2]Nhà văn lớn Tiệp Khắc đầu thế kỷ 20.