trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
15.7.2005
Claudio Magris
Con-người-dưới-hầm và Con-người-siêu-nhân
 

Nietzsche bảo rằng ông đọc Dostoevski với một cảm thức giải thoát mênh mông, và nói thêm trong một đoạn khác, rằng con-người-siêu-nhân mơ tưởng thì không khác con-người-dưới-hầm do nhà văn Nga sáng tạo. Một trăm năm sau khi mất, Dostoevski không chỉ hiện ra như một kinh điển, ung dung giữ vị thế trong ngôi đền Bách Thần của sự lưu truyền văn chương và của những giá trị lâu bền của nó, mà còn là tiếng nói về một cuộc chuyển đổi cuồng nộ và phân rã của con người, vốn vẫn đang diễn ra và cuốn hút chúng ta trong cái tính cách tạm thời, bất ổn và náo động của nó. Mỗi sáng – khi mở một tờ báo và đọc những hàng tít tin tức xã hội đen và lá cải từ cái quyển “tiểu thuyết diễm tình” rời rạc và hỗn độn mà chúng ta cũng sắm vai trong đó, dù không ý thức – chúng ta nhận ra rằng, Dostoevski, nhà văn, đã từng tìm cảm hứng trong những sự kiện giòn giã và những tin tức giật gân, vẫn là nhà tường thuật, nhân chứng và phóng viên về cuộc sinh tồn của chúng ta, vốn thường nghèo khó về ánh sáng, và vì thế, lệch lạc và vô vị. Trong những câu chuyện hoang mang và “lầy lội ổ chuột” của ông, Dostoevski dường như đã biểu trưng những gì mà hiện nay chúng ta đang trở nên, đã hình dung ra sự biến đổi chẳng biết đi về đâu của bản chất con người, điều làm chúng ta hôm nay giống như một loài động vật đang ở trong một giai đoạn đột biến.

Qua một trong những vụt sáng thiên tài, mà cuối cùng thường chói lòa, Nietzsche nghĩ rằng Dostoevski muốn tường thuật và cử hành cuộc biến thái của diện mạo con người từ hàng ngàn năm nay, ngả người sang bên kia cái cá thể truyền thống – mà theo Nietzsche, là một chiếc cầu phải được vượt qua – hướng đến một hình thái mới của nhân cách, giải thoát khỏi những tôn ti đạo đức thế tục và tâm linh đã giam hãm dòng chảy tự do của cuộc sống trong chiếc áo-trói bản sắc cá thể, trong cái tính thống nhất rắn đặc và chuyên chế của ý thức.

Con-người-duới-hầm loan báo, thật vậy, ý thức là một căn bệnh, rằng con người cá thể là một nhà tù khi nó áp đặt trật tự và kỷ cương lên cái tính cách đa bội phân tử và ly tâm của các xung lực của nó. Chính tư duy, theo con-người-dưới-hầm, đã đề xuất các hệ thống triết học, buộc tâm trí phải luôn luôn lần ngược trở về, đi tìm một căn nguyên ban sơ, trên đó cái tòa nhà khái niệm và các giá trị được thảo dựng, để rồi phát hiện ra rằng, bất cứ một căn nguyên được kỳ vọng là ban sơ nào, lại được gửi trả về một căn nguyên rốt ráo hơn nữa, rồi cứ thế và cứ thế, trong một quá trình vô tận, trì hoãn về một vực thẳm không đáy.

Giống như con-người-siêu-nhân của Nietzsche, con-người-dưới-hầm, không tìm được một cái nền, về sinh tồn và tư duy, để mà tựa chân, cũng chẳng tìm được một mảnh đất sống còn, để mà bắt rễ và hút nhựa sống. Dostoevski chạm trán với tính khiếm khuyết của các hệ thống triết học, những thứ mà, theo ông, dường như đã chặn đứng dòng chảy cuộc sống trong các mắt lưới khái niệm, và ông cảm thấy mình là tù nhân của chính cái bản sắc cá thể đã được xác định một cách cứng nhắc, điều theo ông, dường như lại sản sinh, trong nội tâm một người, cái tính trấn áp xã hội, sẽ trói buộc cuộc sinh tồn. Có lẽ trong nền văn học thế giới không có một tác phẩm nào – như The Double (Người Ðúp), cuốn tiểu thuyết trong sáng và ngiêm khắc nhất của Dostoevsky – khi nó cho thấy phương cách cá thể tự tách biệt và tự nhân lên thành vô số dạng thức tâm thần, và phương cách mà mỗi người lại là một người khác trong tương quan với chính người ấy. Nếu trong Chiến tranh và Hòa bình, Tolstoi kể lại giấc mơ trong đó Pierre Bezuchov quan sát những giọt nước đơn lẻ – trong một cuộc tranh chấp lẫn nhau đau lòng – tự phối hợp chúng vào một tính cách hòa hợp cao hơn trong cái khối cầu vốn dung nạp chúng và siêu vượt chúng, Dostoevsky bảo rằng nỗi đau thắt quặn của mỗi giọt trong những giọt nước ấy không tự khắc phục và không dịu bớt bên trong bất cứ một tổng thể nào.

Song làm chứng nhân của một thời đại không có nghĩa là làm kẻ biện giải cho thời đại ấy, và làm người chẩn ra căn bệnh không có nghĩa là làm một tông đồ răn giảng về nó. Kirillov, trong Những kẻ bị quỷ ám, chia lịch sử làm hai phần: “từ khỉ đột đến cuộc hành hình Chúa, và từ cuộc hành hình Chúa cho đến cuộc chuyển đổi vật lý của con người và của thế gian”. Dostoevski mạnh dạn rà soát áp lực của cuộc hủy diệt và của cuộc chuyển đổi ấy, ông không ẩn náu trong những niềm an ủi dễ dãi, mà ẩn náu trong cái giả thuyết vốn chẳng nhận diện một sự giải thoát nào.

Dostoevski không bao giờ tìm cách trao đổi căn bệnh độc hại này của thế kỷ – mà trong đó sự phân tích của ông như nhập vào nội tạng của một cơ thể đang kiệt quệ – với một thang thuốc hoặc với một điều kiện sức khỏe khá hơn. Những tác phẩm của ông hôm nay, trước hết và thậm chí, có thể đọc như một cuộc châm biếm cuồng nhiệt và có tính thị kiến về toàn bộ cái dòng văn hóa hứng cảm từ Nietzsche và từ cái tính cách chuếnh choáng hiện nay, vốn thuyết giảng, qua một dạng thức hớn hở nhầy đục và hoang mang, buổi xế chiều của chủ thể cá nhân và cuộc phân tán ly tâm về tính thống nhất của nó, sự rệu rã của bản sắc cá nhân trong một mớ rối rắm phi hình thái của dục vọng chốc lát và tù mù, cái sự loại bỏ giá trị để thiên về nhu cầu, cái sự sùng bái mơ hồ và vô định đối với thân xác – hay đúng hơn, theo cái nghĩa hoa mĩ chữ hoa: đối với Thân Thể – vốn không còn là một đơn vị tâm-vật-lý cụ thể của cái cá thể đã được phân tâm học thẩm tra và giao phó giá trị, mà là một kiểu tính thánh thần không ngôi bí hiểm và cùn nhụt, được tôn vinh – trong những tính cách bài tiết sinh lý của nó – qua một dạng thức mê tín dị đoan bái vật.

Nhiều thái độ ở thời của chúng ta có thể được hình dung trong một tiểu thuyết của Dostoevski, chẳng hạn như tay khủng bố cứu độ trong những trang Những kẻ bị quỷ ám, chính vì phần lớn các thái độ ấy là những tính cách văn nhại không ý thức về các môtíp của Dostoevski. Ivan trong Anh em nhà Karamazov nói: “Nếu Thượng Ðế không hiện hữu, thì mọi sự đều được phép”. Khả năng này, đối với Dostoevski, thì khủng khiếp và chưa mang tính cứu rỗi. Hẳn là, qua một tinh thần không định kiến của các nhà văn lớn có niềm tin tôn giáo, ông đã không ngại mà thấm sâu trong những uẩn khúc u ám và bầy nhầy của cái thế giới, nơi mọi sự đều được phép, thậm chí trong bất cứ một hình thái bạo hành và khốn cùng nào, hoặc trong một thế giới nơi chỉ tồn tại nhu cầu chứ không tồn tại bất kỳ một giá trị nào. Ðể biểu trưng cái ác, Dostoevski không thể phán xét cái ác từ xa và từ trên cao, ông phải dấn sâu trong sự thầm kín của nó để mà trục nó ra, tự đảm nhận nó trong tư cách của một Vị Cứu tinh đau đớn và của một kẻ phạm tội, gánh chịu trên vai – thực sự, chứ không chỉ một cách biểu tượng – tội lỗi của con người; ông phải chia sẻ máu thịt của mình với nó. Ông vừa là người sáng tạo, vừa là nhân vật trong vũ trụ truyện kể của ông; bản thân ông cũng sống trong những căn nhà bình dân tồi tàn, được miêu tả với sự thành thạo vô song trong các tác phẩm của mình; ti tiện và nhớp nhúa cũng ngụ trong ông, qua một tính cách nhân bản tạp hợp ngỗ ngược và chẳng hề hổ thẹn, không có điều này thì hẳn là ông sẽ không thể thấu hiểu và vạch trần cái thế giới nơi mọi sự đều được phép.

Dostoevski biết đầm mình, gần như sỗ sàng, trong cái tính cách đa bội vi phân của cuộc sống; ông trao tiếng nói cho mỗi nguyên tử của cái cuộc sinh tồn vô chính phủ và phát tán; những quyển tiểu thuyết vĩ đại của ông không sợ việc kể dài dòng về những tiếng rì rầm mênh mang và sôi nổi của toàn bộ đời sống, đến mức gần như ông tự tan biến trong đó, trong cái tính cách vô tận của nó, trong cái mớ rối thúc bách và mơ hồ mà đôi khi, như Borges quan sát, đan chéo và trộn lẫn với cái cốt truyện của các quyển tiểu thuyết ấy.

Nhưng đối với Dostoevski, cái xung mạch mịt mùng và bề bộn này chỉ có nghĩa khi ta đón nhận được cái độ căng của nó về tính thống nhất và tính giá trị. Raskolnikov, trong Tội ác và Trừng phạt, lý thuyết hóa tính hợp pháp về tội ác và về quyền của con-người-siêu-nhân khi thực hiện nó, đến mức chính anh ta sẽ phạm tội ác. Anh ta tượng trưng cho cái cá thể hiện đại tiểu biểu, với toàn bộ khát vọng và hoang mang hiện diện trong nó, với toàn bộ các mối xung đột giữa cuộc đời và các giá trị lẫn lộn có trong mỗi chúng ta. Nhưng Raskolnikov thì vĩ đại bởi vì anh ta không phải là một con-người-siêu-nhân, mà chỉ là một con người với các tính cách: khốn cùng và đam mê, trìu mến và ương ngạnh, hào phóng và ti tiện, độc đáo và tầm thường hoặc khờ dại, hiện diện trong mỗi chúng ta. Cái bi kịch, dẫn đến việc anh ta thảm sát hai phụ nữ già bằng những nhát búa, được chuộc tội bằng cái nỗi đau chấn động, và nó là xác thực, bởi vì bi kịch ấy hiện thân cho một xung lực bạo hành và một sự đầu hàng mù quáng về trí tuệ, điều mà không ai có thể chắc chắn là mình sẽ không bị; song bi kịch ấy cũng là một sự ngu xuẩn đáng thương hại, cái thảm trạng ngây thơ của một sinh viên nghèo rập tin vào những quyển sách đầu tiên mà anh ta đọc như một kẻ chẳng được sửa soạn gì.

Sự tham dự cảm thương của Dostoevski với cái nỗi đau của Raskolnikov – và với chính cái tội ác của anh ta, dù chỉ trong khuôn khổ, như mọi cái ác, khi nó khiến kẻ phạm tội cũng phải đau khổ – không ngăn trở việc ông vạch trần sự nguy hiểm ý hệ. Chẳng có tư tưởng đích thực nào lại dẫn đến tội ác và việc biện minh cho nó, mà chỉ có sự non kém và sự bất cập về tư tưởng là bị chao đảo bởi những nhát búa và những vết thương của cuộc sinh tồn. Không ai có thể đưa ra lời xét xử đối với kẻ thực hiện cái ác, bởi vì không ai có thể chắc là mình sẽ không thực hiện cái ác, nhưng đối với Dostoevski, cái ác thì hiện tồn và ông tố cáo cái tính trống rỗng của các hệ ý thức mà muốn gạt bỏ cái ý thức về điều này.

Những miêu tả táo bạo của Dostoevski về cái ác không chùn bước trước bất kỳ một sự thận trọng đạo đức nào; nó đem công lý đến với từng khoảnh khắc của cuộc sống, trong lúc lắng nghe các lẽ phải của Chúa, nhưng cũng lắng nghe các lẽ phải, không kém sâu lắng, của vị Ðại Phán quan, cả vị này cũng quan tâm bằng ấy – dù qua một phương thức khác – về cái số phận của con người. Song những thể hiện táo bạo này chẳng có gì chung với cái sự mê hoặc nhạt nhẽo mà nhiều xu hướng văn hóa hình như muốn chứng tỏ, qua vi phạm và bạo hành, đặc biệt khi những xu hướng văn hóa ấy thấm sũng những dạng thức say sưa dục tính, như thể rằng, sự bạo hành mù quáng đối với một người nào đó trong một cuộc truy hoan bạo dâm phải chuyển tải trong nó – chỉ dựa trên cái yếu tố truy hoan-dionysiac – cái điều gì đó chuộc tội cho nó và cứu rỗi nó.

Sự sùng bái cái tức thời và cái mơ hồ kiểu như thế triệt phá bất kỳ một sự thương xót nào đối với thân thể, bởi vì sự vi phạm có mặt khắp nơi, và người ta mê đắm trong cái được cho là vạn năng, trong lúc giả cách cái tính hữu hạn mỏng mảnh và thoáng qua của các giác quan, cái khả năng hoan lạc khiêm tốn và dễ mê của chúng.

Dostoevski ở vị trí đối cực với thứ chủ nghĩa thần bí trì độn sinh lý học này, vốn không coi những con người, trong cái tổng thể vật lý và tâm linh của họ, là thiêng liêng, mà lại coi cái móng tay móng chân mà họ cắt dũa hoặc cái chất nhờn mà họ thải ra là thiêng liêng. Sonia yêu thương và cứu chuộc Raskolnikov: cô không cứu chuộc một con-người-siêu-nhân hoặc một tính cách đa bội tâm phân liệt của dục vọng, cô cứu chuộc một người, trong cái cá tính nguyên vẹn và thống nhất của anh ta. Cái nhìn chăm chút tận đáy sâu của Dostoevski, trong gió bụi của cuộc sinh tồn, hẳn chuyển tải cái cảm thức giải thoát mà Nietzsche đã đề cập, nhưng sự giải thoát lại dựa trên tính thống nhất của cái nhìn chăm chút ấy, chứ không dựa trên tính tẩu tán của cuộc gió bụi ấy. Aliosa, trong Anh em nhà Karamazov, tìm được nền tảng và mảnh đất của sự tồn tại, thứ đất mà chàng quỳ xuống hôn. Ðất ấy ẩm ướt, phì nhiêu và chứa chan sức sống, nhưng thứ nước tưới dưỡng và khiến nó màu mỡ, chính là cái giá trị về cuộc sống – và như Dostoevski phát biểu trong Những kẻ bị quỷ ám – cái tinh thần của cuộc sống được đề cập trong Kinh Thánh: “những dòng sông của nước sự sống mà sự khô cạn lại đe dọa cuộc Khải Huyền”.

© 2005 talawas

 
© talawas 2026