Sonnevend Júlia
Cuối tháng Sáu, cả nhà hơi buồn khi biết người mẹ ốm yếu của tôi phải điều trị tại nhà một thời gian. Nhưng cuộc sống của chúng tôi không vì thế thay đổi “tận gốc”, không bị “gãy làm đôi”; những khái niệm thông thuộc không đồng nhất với điều đã xảy ra hàng ngày. Trong nháy mắt, một thế giới khác biệt trở nên bình thường. Vô tình, chúng tôi chấp nhận cái thể chế và các luật lệ của thế giới mới này. Dĩ nhiên, vẫn còn lại “khuôn viên” của cuộc sống hàng ngày trước đấy; con đường Bartók Béla ồn ào, quảng trường Gellért lung linh, mấy chiếc tàu điện leeng-keeng và nhiều điều yêu quí khác vẫn tiếp tục thuộc về cuộc sống của chúng tôi.
Tất cả vẫn thế, vẫn như xưa; vẫn có thể nhìn thấy, sờ thấy những đồ vật quen thuộc. Thế giới bên ngoài, một cách không thể nhận ra, đã biến dạng thành tấm phông bằng pơ-luya. Chắc chắn tấm phông ấy sẽ rách toạc, nếu tôi dang tay đấm vào nó. Nhưng tôi không nỡ tâm hành động, mà chỉ nhìn ngắm trìu mến. Mọi thứ tại sao không cùng thay đổi, khi vô hình trung, chúng tôi đã trở thành những con người hoàn toàn khác.
Khoảng thời gian này, tôi hay cùng mẹ đi dạo. Chúng tôi tìm lại những hàng cây rợp bóng trong công viên của trường Đại học Bách khoa. Thường chỉ tôi và mẹ, nhưng có hôm cả nhà cùng đi. Đang giữa mùa thu, khí trời ấm áp và êm đềm. Những mùa thu trước, trên con đường này, tôi và hai anh trai được bố hoặc mẹ dẫn đến trường tiểu học gần nhà. Cuộc sống nhiều năm đã diễn ra trên trục đường Bartók Béla và phố Egry József. Bây giờ, chúng tôi có nhiều thời gian hơn. Bằng cách nào đấy, chúng tôi ở ngoài tất cả, Nhưng cùng lúc, lại có mặt tại mọi nơi. Chúng tôi dành thì giờ suy ngẫm một câu nói, và tìm cách giải thích tại sao trước kia câu nói đó lại quan trọng như vậy. Chúng tôi tò mò và nghe được những mẩu chuyện về đủ loại đề tài khi rửa bát, nấu nướng và đọc sách. Nhưng có lẽ, phần lớn, chúng tôi nói chuyện với nhau trong Công viên Đại học. Tại đó, nhiều lần tôi nói với các bạn: ghê gớm hơn hết thảy lứa tuổi của chúng ta, những đứa sinh vào khoảng 1979; chúng ta có thể dựng lên một tình thế chính trị “nhức nhối” hơn hẳn lớp người ra đời khoảng 1962, những chính khách quen thuộc hiện tại.
Ngày nay, tìm lại những nơi diễn ra thời thơ ấu, tôi như sống lại khoảng thời gian mùa thu năm 1989. Tôi nhìn đất trời mùa thu, cả bức tường nay màu vỏ chanh khi xưa còn là màu xám của ngôi trường cũ, bằng con mắt khi tôi mười tuổi. Thời gian này tôi bắt đầu tìm thấy những sự kiện đã xảy ra chứng minh cho lời buộc tội thế hệ thường được nhắc đến. Tất nhiên, không bổ ích gì khi dùng cái đã xảy ra lúc đó để biện luận cho những nhận định sau này. Không thể gắn chúng vào một dây xích để hòng có được kết quả mong muốn. Tốt hơn hết, điều này ví như một cuốn sách có nhiều tranh minh hoạ. Có khác, ở đây, lời văn và tranh minh hoạ không liên quan chặt chẽ với nhau. Tuy thế, đến cuối cuốn sách, trong ta vẫn không lưu lại cảm giác thiếu hụt.
Khi tôi bắt đầu vào lớp Một – năm 1986, trường học xã hội chủ nghĩa, đối với tôi, như một “quan niệm” mà bản thân nó chẳng nói lên điều gì. Tôi cảm nhận được bây nhiêu: hệ thống của trường học khác hẳn gia đình, nhưng tương tự, vẫn là cái tính trước được. Ở trường, muốn đạt được y, tôi cần phải góp nhặt một số lượng nhất định x. Ở nhà thì không cần có đủ x, nhưng tôi phải giải thích chính xác tại sao lại muốn i dài. Ví dụ tốt nhất cho hoạt động của trường học là Nội qui Đội Thiếu niên. Để có thể trở thành đội viên, tôi phải phấn đấu góp đủ mười cái khăn đỏ tí xíu bằng giấy màu. Mỗi việc tốt của tôi tương đương với một cái khăn đỏ đó. Rất rõ ràng, hơi đơn điệu nhưng là một lối mòn có thể làm quen chóng vánh. Và cái lối mòn ấy – trong thâm tâm những đứa trẻ lứa chúng tôi hồi đó – như một pháo đài không thể phá đổ được.
Tôi đinh ninh đã thấu hiểu sự hoạt động của đất nước, chính xác hơn, của con đường, góc phố nơi tôi ở. Rằng: tồn tại những quy tắc sống nhất định bên trong và bên ngoài trường học. Nếu, ví dụ, nghe tin ở cửa hàng ngoại tệ của khách sạn Gellért có bán walkman-Barbie thì đầu tiên phải tỉ tê với mẹ: “Con không thể sống thiếu búp bê walkman-Barbie,” sau đó cố đòi mẹ hãy dành dụm tiền để mua, khi đủ tiền rồi thì tìm cho được một người buôn bán ngoại tệ, để đổi đồng forint sang đô la. Quá trình này chắc chắn và dễ thực hiện. Cũng giống như vụ hai anh trai của tôi mua bộ đồ thể thao Adidas bằng số tiền tiết kiệm mấy tháng trời. Sau sáu tiếng đồng hồ đứng xếp hàng, họ mới mua được hai bộ quần áo mong ước bấy lâu. Họ sung sướng tràn trề bao nhiêu thì cũng đau khổ nặng nề bấy nhiêu khi một bộ bị lấy cắp tại phòng thay đồ của trường học…
Tôi cũng biết rằng gia đình và trường học là hai thế giới riêng biệt. Cả hai được dựng lên rất chu đáo và không xung đột thực sự với nhau. Cũng chưa có một cầu nối nghiêm túc giữa hai thế giới này. Khá sớm tôi đã học được một điều: không cần nói ra mọi chuyện, ở tất cả mọi nơi. Với nhiều trạng thái, im lặng và nghe ngóng đã cắm rễ vào đời tôi. Nhưng dù sao tôi không cảm thấy điều đó đáng phải lo nghĩ. Tôi nghĩ rằng mọi chuyện cần phải như vậy.
Tôi đã tin vào điều mình nói ra và vào cả những điều mình cần phải giữ kín.
Tôi mười tuổi khi diễn ra cuộc thay đổi thể chế chính trị.
Tuy vậy, tôi vẫn nhớ như in việc cái pháo đài tưởng như không bao giờ có thể phá vỡ nổi của trường học đã sụp đổ tan tành như thế nào. Từ lớp Bốn, lệ thường, chúng tôi phải học tiếng Nga, nhưng tháng Chín, cô giáo tiếng Nga của trường lại tự giới thiệu là giáo viên tiếng Đức. Tôi cho điều này là không tự nhiên, nhưng cũng chẳng lấy làm lạ. Có lẽ, vì chúng tôi – những học sinh chuyên Anh – từ lớp Ba đã học tiếng Anh, nên từ lớp Bốn, học tiếng Đức là cũng có thể. Tôi chỉ băn khoăn một điều: tại sao cô giáo không cho chúng tôi một lời giải thích thoả đáng. Vì lẽ gì cô rất tự tin trên cương vị giáo viên tiếng Đức? Cớ gì cô làm như chúng tôi đã nhớ nhầm mọi việc? Và cuối cùng, do đâu chúng tôi chỉ ngạc nhiên thôi cũng “không phải phép?”
Trong giờ chủ nhiệm, chúng tôi được biết thêm nhiều điều thay đổi khác. Chẳng hạn, ai muốn thì vẫn có thể giữ danh hiệu đội viên. Cái gì? Như vậy từ trước đến giờ, việc chúng tôi tập luyện cho chương trình Phân đội Thiếu niên Tiền phong Garfield, hay ghi cái sổ trực nhật dở hơi, hoặc chuẩn bị cho những kế hoạch lớn lao cho tương lai, là vô ích, cũng bằng thừa?
Và như thế nào là “ai muốn?”
Tôi biết và các bạn của tôi cũng thế: “ngoài kia” có rất nhiều thay đổi. Bởi vì xung quanh chúng tôi người lớn đều bàn tán sôi nổi về những biến chuyển này. Chúng tôi cũng “xuống đường” như ai. Nhưng với riêng tôi, một điều không được rõ ràng: quá trình thay thời đổi cuộc này sẽ có tác động đến cả ngôi trường của chúng tôi. Không dễ dàng như chuyện cô giáo tiếng Nga, cùng việc Đội thiếu niên thành Nhóm Kết bạn, tin tức được đưa nhiều khi trái ngược hẳn nhau giữa các thầy cô giáo.
Tôi tiếp thu được một điều: đặc điểm của trường học bắt đầu từ đây không phải là sự vô tư không làm gì cả mà là chuỗi những thay đổi không thể tính trước. Nhớ một lần, hồi mới lên lớp Năm, tôi ồ lên thích thú khi được biết môn Lịch sử bắt đầu bằng bài về tập thể nguyên thủy. Tôi linh cảm đề tài này đưa ra những lý do gây ít xung đột hơn hết. Những cái rìu đá, những bức tranh trên vách hang động thuở sơ khai, rồi có thể Frédi với Béni. Đội ngũ giáo viên sẽ có nhiều thời gian hơn (!) Thế rồi, trong giờ lịch sử thứ hai, đến đoạn giảng về vấn đề tài sản và sự sở hữu tập thể, đột nhiên, thầy giáo sử ngồi phịch xuống ghế và ngang nhiên gác hai chân lên mặt bàn, rồi nói như quát vào mặt chúng tôi: “Các em xem, tôi có công ăn việc làm, nhưng giày của tôi vẫn rách đế đây này. Thử hỏi, đất nước này là cái thứ quái gì?”
Tôi cứng đờ người trên ghế. Cái bộc trực của thầy đã làm tôi không được bình thản. Nhưng mà, rốt cục thì việc này có liên quan gì đến cá nhân tôi? Tại sao nhiều khi tư cách của thầy lại “quá khích” như vậy? Rồi những lúc chúng tôi chờ đợi lời giải thích thì thầy lại “câm như hến”. Dĩ nhiên tôi là kẻ chẳng công bằng chút nào. Bởi vì cũng thầy giáo dạy sử này đã cho chúng tôi những buổi học không thể nào quên về Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Thầy giảng về năm 56 theo giáo án và chiếu cho chúng tôi xem một phim tài liệu giáo dục chuyên đề về cuộc Cách mạng, khi thầy không muốn giảng giải bằng lời.
Có thể nói nền giáo dục mang tính phập phù, rối rắm, chẳng theo hệ thống nào và không thông suốt. Dù sao, thỉnh thoảng vẫn nảy sinh, hoặc những điều tốt đẹp nhất, hoặc những cái xấu nhất, từ cái cơ chế đào tạo không thuần khiết này.
Cho đến những năm cuối cấp II, tôi ngày càng thấy rõ: cái gọi là “thay đổi chế độ” không tác động đến việc sửa chữa lại giáo án của các môn học, mà làm biến đổi các mối quan hệ con người. Chẳng hạn, việc đề cử người thay thế cô hiệu trưởng trường tôi, người của đảng Xã hội, kẻ đại diện cho phía “vô tư không làm gì cả.” Thời gian đó, tại trường chúng tôi có một không khí khá nặng nề và căng thẳng, diễn ra cuộc xô xát khá gay gắt – màn đầu cho cuộc chiến bầu cử tưởng chừng như sẽ bục ra thành nội chiến năm 2002 – giữa giáo viên của các bộ môn. Phải chọn người của đảng MDF (Diễn đàn Dân chủ Hungary) hay của đảng SZDSZ(Liên minh Dân chủ Tự do)?
Chúng tôi chỉ biết ôm đầu, tức khắc sự thù địch khá sâu sắc giữa các giáo viên nổi lên.
Trong các giờ khác không nên nhắc đến tên cô chủ nhiệm, cô dạy văn mà cả lớp quí mến. Vì cô “quá thoáng,” “quá tự do chủ nghĩa,” rồi “sẽ làm hỏng học sinh.” Vì thế, chúng tôi bị gán một cái tên hết sức ngớ ngẩn: “NHỮNG NGƯỜI CHÕ MŨI VÀO MỌI CHUYỆN.”
“Tốt hơn hết – họ bảo chúng tôi – hãy theo dõi và thích ứng!”
Nhưng thích ứng với cái gì? Không thể dàn xếp cuộc “xung đột” giữa những nhân vật của hai phe bằng bất kì hình thức nào. Rất nhanh, có thể biết ngay người nào sẽ “gạch chéo” vào đâu. Chúng tôi thuộc lòng danh sách các giáo viên, trên đó ghi rõ ai đứng về đảng phái nào. Cũng may, cô chủ nhiệm đã đưa ra một lối thoát duy nhất: có thể tham gia vào các cuộc thảo luận dân chủ của quỹ từ thiện Soros. Tại những buổi họp này, có thể tranh luận tự do về những vấn đề quan tâm.
Tuy nhiên, tiếng chuông báo hiệu vào lớp, giải lao, hết buổi vẫn vang lên. Trực ban vẫn báo cáo. Những tiết học trôi đi. Và tất nhiên, trước mắt chúng tôi vẫn là các cuốn giáo khoa cũ. Nhưng tên của các địa danh dần dần được thay. Phải viết lại địa chỉ của vài bạn. Phải học thuộc lòng cái tên mới của những nơi cũ. Chẳng bao giờ có thể biết tại sao không gọi khác đi. Chẳng bao giờ!
Môn Lịch sử Thế giới với giáo trình sao chép cũ rích và nhàm chán. Chúng tôi ngốn nó như ăn cơm nguội và trả chữ lại cho thầy ngay ra trong giờ giải lao. Lúc nào tôi cũng có ý định xé nát những cuốn giáo khoa chết tiệt kiểu này. Hay ho hơn biết bao nếu được phóng ngay về nhà, vùi đầu vào những cuốn sách của Brotoek, Tolstoj, Radnóti, Ady.
Tôi khá dửng dưng đón nhận những bài học ở trường. Tại vì sao, tôi không hiểu nổi. Chỉ Văn học “đào tạo” tôi mà thôi. Nhờ môn Văn, tôi đến được nhiều tác phẩm chân chính, với các thầy cô thực sự yêu nghề và không phải chạm trán với đống giáo trình sáo rỗng. Để lấp chỗ trống trong học bạ là những điểm 5 tươi rói của các môn học khác. Tuy nhiên, nhiều năm sau này, tôi lại được học chúng – nhưng thú vị và bổ ích hơn – tại trường Trung học Kinh tế Thứ hai.
Quanh đi quẩn lại, bốn năm của trường tiểu học trôi qua lúc nào không biết. Bốn năm không để lại dấu vết gì trong tôi trên phương diện giáo dục. Dĩ nhiên, với đám bạn bè và người thân, chúng tôi vẫn nói chuyện về những biến chuyển chính trị. Những người trẻ tuổi quan tâm nhiều hơn đến các chương trình cập nhật của kênh Music Television. Thích nhất chương trình của Ray Cokes. Ai cũng có thể gọi điện vào trường quay để bàn luận với Ray. Tôi chăm chú theo dõi cuộc đối thoại giữa Ray và một người dân Raykjavik (Iceland). Cuộc nói chuyện của họ không vòng vo, rất chân thành, cởi mở.
Đáng tiếc, những chương trình tương tự – và toàn bộ chân trời văn hóa mới này, cái chúng tôi bất ngờ gặp gỡ và thấy yêu thích ngay – không nhận được chỗ đứng trong các mặt sinh hoạt khác của chúng tôi. Đối với các giáo viên, không có ý nghĩa gì việc chúng tôi – giống như lớp trẻ Hoa kỳ bằng tuổi – hâm mộ đến điên cuồng ca sĩ mặc sơ-mi kẻ ca-rô Axl Rose của băng nhạc rock Gun ‘n Roses. Họ chẳng buồn quan tâm đến chuyện chúng tôi mua luôn một dãy ghế cho cả lớp tại sân vận động Quốc gia để xem Gun ‘n Roses biểu diễn. Hơn một năm trời chúng tôi đã nóng lòng chờ đón “Súng lục và Bông hồng”, để rồi tràn trề hạnh phúc được nắm tay nhau đứng dưới mưa, cùng gào thét “November rain” với Axl. Lúc đó, ánh mắt lóng lánh trong mưa của mỗi đứa đều như muốn nói: “Không có hạnh phúc nào lớn hơn!”
Hôm sau, cái cảm giác hạnh phúc ấy theo chúng tôi vào tận lớp học. Súng lục và bông hồng.
Những khẩu súng, những bông hồng, một biển người…
Không, chúng tôi đang được nghe giảng về “Cuộc cách mạng Pháp 1789” (!)
Cặp sách của lũ học trò cũng biến đổi theo thời gian. Sự chênh lệch vật chất giữa các gia đình bạn bè tôi ngày càng rõ rệt. Nó hiện ra trong các cặp sách của chúng tôi, bằng những sản phẩm của thời kỳ mới. Các phụ huynh giờ đây phải thích ứng với những yêu sách chợt đến của lũ chúng tôi nói riêng và của thời đại nói chung. Như bố tôi, ông đã cưng chiều đứa con gái rượu của ông hết mức, dám rời cơ quan để cùng đứng xếp hàng với tôi hàng tiếng đồng hồ trước cửa hàng McDonald ở phố Régiposta. Số là, hôm trước ông vô tình nghe thấy bọn con gái chúng tôi đã tranh cãi với nhau xem “trong đời mình” ai đã và chưa ăn hamburger, ai, mất bao nhiêu thời gian, mới mua được (!)
Nhưng đấy chỉ là một ví dụ.
Muộn hơn, chúng tôi đua nhau khoe những tập album-tem dán hình các con vật, hoặc hình búp bê-Barbie, không ý thức được rằng: để có những bộ sưu tập không đâu đó, bố mẹ phải bỏ khá nhiều tiền. Rồi xuất hiện những cái bút chì màu có thể thay ruột, tẩy phát mùi, chưa kể các loại cát-xét hai băng càng ngày càng “xịn”. Không thể không kể đến những bộ váy mốt nhất, sexy nhất. Ở lớp Bốn, nếu đi dự liên hoan buổi chiều dành cho các thiếu nữ, phải đánh bộ Lambada. Lên lớp Năm thì đồng phục là áo phông Gun ‘n Roses.
Đúng buổi khai giảng năm lớp Bốn, một bạn gái cùng lớp đã thủ thỉ với tôi và một bạn gái nữa là vừa được tặng một lâu đài Barbie ba tầng. Thế là ngay buổi chiều hôm đó, chúng tôi tất tưởi đến nhà bạn gái ấy để chiêm ngưỡng. Dọc đường, sự tò mò đã làm chúng tôi gần phát rồ. Đến nơi, chúng tôi tiu nghỉu khi chỉ thấy cô bạn đứng một mình giữa gian phòng trống không.
“Bà tớ đang sửa cái nhà ấy,” – cô bạn phân bua.
Chẳng bao giờ tôi quên được nét mặt lúc đó của bạn ấy. Sang tuần sau, rồi tuần sau nữa, chúng tôi vẫn chưa xem được cái lâu đài “thần kỳ”, vì một lí do gì đấy (!) Chẳng bao lâu, cả hai chúng tôi đều biết thừa cô bạn ấy sẽ không bao giờ có lâu đài Barbie ba tầng.
Tuổi trẻ thường đốt cháy giai đoạn, cho qua nhanh chóng những sự vỡ mộng. Chúng tôi tiếp tục tìm những cái mới. Đầu năm đầu cấp II, lớp tôi nhận một cậu con trai từ làng Tanyas. Người mẹ đẻ đón con mình “lên” thủ đô sau mười mấy năm gửi mẹ nuôi nuôi hộ và nhét ngay vào một lớp chuyên văn thí điểm (!) Cậu ta chưa hề nhìn thấy WC kiểu Anh, cũng như trình độ viết đọc của cậu ta còn quá kém. Vì thầy chủ nhiệm lớp tôi là một nhà giáo chân chính, nên chúng tôi không bao giờ dám làm tổn thương cậu ta. Còn cậu ta, suốt mấy năm ròng rã, cứ tròn xoe đôi mắt nhìn vào những hộp đựng bút đầy ắp của các bạn con nhà giàu.
Những năm cấp II của tôi đã trôi qua như thế, với bao điều kỳ diệu và cũng nhiều cái hãi hùng. Trường học không có kế hoạch cho tương lai, cũng chẳng trông chờ gì từ chúng tôi. Tôi cảm nhận những thay đổi từ năm 1989 trở đi, bên ngoài trường học, trong xã hội, trong chính trị, trong từng cuộc sống cá nhân rất vĩ đại và cao siêu. Tuy vậy, những thay đổi đó không tính đến các mối quan hệ con người.
Bản thân chúng tôi đã sống theo cách riêng. Thỉnh thoảng chúng tôi còn rủ rê các thầy cô giáo – những người hợp gu với chúng tôi – cùng nhập cuộc. Hoặc đổi lại, họ tổ chức các trại hè bổ ích, giới thiệu các cuốn sách hay cho chúng tôi. Nhưng dù sao tất cả vẫn mang tính cá nhân, không chủ định và chẳng dựa trên một cơ chế nào cả.
Thành viên trong lớp tôi theo học cấp III thường phù hợp với truyền thống nhiều năm của gia đình mỗi người. Ở năm đầu tiên đã có thể đoán được ai sẽ trở thành gì, và sau này, cũng đều đúng như vậy. Ngay sau chúng tôi, người giáo viên duy nhất buộc phải rời trường là cô giáo chủ nhiệm dạy văn nêu trên. Việc cô dạy dỗ chúng tôi bằng một phong cách hiện đại, táo bạo với trình độ cao, là cái gai trong mắt của nhiều người.
Chúng tôi tiếp tục đi đường riêng trên những bậc tiếp theo của hệ thống trường học. Bản thân tôi, đầu tiên học tại một trường Trung học Giáo hội. Tôi chỉ chịu đựng được đúng một năm rưỡi cái hệ thống tư tưởng đã quá lỗi thời. Sau đó tôi chuyển đến trường Trung học Kinh tế Thứ hai. Ở đây, tôi có thể là một học sinh tự do thực sự với niềm vui học tập – cái tôi hằng mong muốn. Ngôi trường tiểu học của tôi từ đó được xây dựng lại, được đặt tên mới và đa số thầy cô giáo đã chuyển đi trường khác. Nhưng, cái gì đã xảy ra ở đấy vào khoảng 1990, nếu có thực là đã xảy ra một chuyện gì đấy, và chúng tôi đã tiêu tốn thời gian hơn nghìn ngày tại trường dưới một cơ chế gì? Tôi không biết.
Đến nay, tôi đã tốt nghiệp đại học và bắt đầu giảng dạy. Tôi dạy lũ sinh viên năm thứ nhất, những kẻ ra đời năm 1986. Hiện giờ chúng tôi đang có những bài học về “Nền Văn hóa Ghi nhớ thời Trung cổ với những phân tích, nhận định của Jan Assmann.” [1] Nhân đó, chúng tôi cùng xem bộ phim “Người chết chưa mai táng” [2] của đạo diễn Mészáros Márta.
Một sinh viên, trong tiểu luận của mình về bộ phim này, đã viết: “Tôi vui sướng khi được xem, trước đó tôi không bao giờ hiểu được những bài diễn văn đọc vào ngày kỉ niệm 23 tháng Mười vì trong các cuốn giáo khoa không được học đến thời kỳ những năm 50. Và như vậy tôi không biết chính xác điều gì đã xảy ra trong giai đoạn đó. Những dẫn chứng sâu xa càng không thể hiểu được vì tôi có biết các sự kiện cơ bản đâu”.
Tôi nhìn học sinh của tôi và chợt nghĩ nền giáo dục Hungary tiến tới đâu trong không gian và thời gian. Có thể người ta bàn nhiều về sự tham gia của xã hội Hung vào các lò thiêu (holocaust) tại Hung, hoặc về bất cứ một chuyện gì khác, nên không có thời gian “dành cho” đề tài Nagy Imre, thì tôi có thể hiểu được. Nhưng sự việc lại không phải như thế.
Thế thì chuyện gì xảy ra đây?
Có xảy ra hay không?
Và, điều gì đã thay đổi từ khi tôi tách ra ngoài chế độ?
Nguồn: báo Élet és Irodalom (Cuộc sống và Văn học) số 48, 2004
http://www.es.hu/pd/display.asp?channel=PUBLICISZTIKA0450&article=2004-1214-1424-12SIJE
© 2005 talawas
[1]Jan Assmann (sinh 1938) – vị giáo sư Ai-cập học người Đức, sống và làm việc tại Heidelberg (Đức). 1978 – 1993 ông chỉ đạo và hướng dẫn công việc khai quật tại Luxor (Ai-cập). Ông thường được mời giảng dạy tại các trường đại học ở Paris, Jerusalem và Yale. Những tác phẩm khoa học của ông, hoặc đồng tác giả với Aleida Assmann:
Aleida Assmann-Jan Assmann: Das Gestern im Heute. Medien und soziales Gedächtnis. in: Klaus Merten-Siegfried J. Schmidt-Siegfried Weischenberg (Hrsg.): Die Wirklichkeit der Medien. Opladen, 1994., Westdeutscher Verlag, 114-140. Aleida Assmann: Erinnerungsräume. München, 1999; C. H. Beck Verlag, Jan Assmann: Nền Văn hoá Ghi nhớ, 1999.
[2]Bộ phim của đạo diễn Mészáros Márta được dựng vào năm 2003. Phim nói về cuộc đời của Nagy Imre, nguyên thủ tướng của Hungary năm 1956, người đầu tiên mong muốn thiết lập một chế độ đa đảng tại Hungary. Ông bị giết vào ngày 16 tháng 6 năm 1958 và đến 16 tháng 6 năm 1989 mới được mai táng theo đúng nghi thức Nguyên thủ Quốc gia.