Nguyễn Đăng Thường
1. Những kẻ chinh phục
Graham Greene (1904-1991) là một nhà báo kiêm nhà tiểu thuyết. Và ngược lại. Ông đã đi nhiều nơi và đã tới VN vào đầu thập niên 50, vì lúc ấy ông có nhiều bạn Pháp ở Sài Gòn. Ông chỉ đi đi về về, không ở lâu. Cái tài của ông – thính mũi – là đã chọn đúng chỗ, đúng lúc. Những trouble spots ông tới tham quan đã chóng trở thành những hot spots trên thế giới, như Mexico (The Power and The Glory, 1940), Sierra Leone (The Heart of the Matter, 1948), Việt Nam (The Quiet American, 1955), Cuba (Our Man in Havana, 1958), Paraguay (The Honorary Consul, 1973), v.v… Do vậy, ta có thể xem các cuốn truyện của Graham Greene như là những bản tường trình (rapportage, chữ dùng của G. Greene) đã được tiểu thuyết hóa qua cái nhìn chủ quan? Gralam Greene thường viếng các nhà thổ nơi ông đến. Nói cách khác, ở mỗi một nơi Greene tới, chắc hẳn ông đã có một, hay nhiều cô Phượng bản xứ. Bởi thế, tôi e rằng nhận định “Cuộc tình của Fowler và Phượng không chỉ là tình yêu đối với một phụ nữ VN mà còn cả với xứ sở quê hương của cô nữa”, của đạo diễn Ðặng Nhật Minh, là một tổng luận qua suy diễn bằng tình cảm, có thể quá vội vàng và quá xa sự thật chăng? Cho dù những người khác ý tôi vẫn có thể đưa ra lập luận ký giả Fowler không là Greene. Nhưng như vậy chỉ là cãi bướng chẳng đưa tới đâu?
Người Mỹ trầm lặng, cuốn truyện của Graham Greene, và bộ phim cùng tên của đạo diễn Phillip Noyce dựa trên cuốn truyện ấy, là những tác phẩm hư cấu về VN, dù có phản ảnh ít nhiều thực tế VN ở thời điểm nào đó. Trong lời đề tặng René và Phượng, cặp vợ chồng bạn thân của ông tại Sài Gòn, mà Greene đã mượn lại tên Phượng “gọn, đẹp và dễ đọc”, Greene viết: “Pyle, Granger, Fowler, Vigot, Joe ( các nhân vật này không có bản gốc trong đời sống Sài Gòn hay Hà Nội, và đại tướng Thế đã qua đời: bị bắn vào đầu, họ bảo vậy. Ngay cả những biến cố lịch sử cũng đã được sắp đặt lại. Ví dụ, vụ nổ bom lớn gần khách sạn Continental đã xảy ra trước chứ không phải sau những vụ nổ bom xích lô. Tôi không e ngại với những thay đổi cỏn con như vậy. Ðây không phải là lịch sử mà chỉ là truyện, và tôi hy vọng, như một câu chuyện về vài nhân vật tưởng tượng, nó sẽ giúp cho hai bạn chóng qua một đêm nóng nực ở Sài Gòn.” (theo bản của nxb Bantam Books, New York, 1964). Bởi lẽ đó, thiển nghĩ ta không nên vì thiện cảm mà diễn dịch quá xa, hay hòa đồng quá sâu, mặc dù các nhà văn thường có những lời tuyên bố khiêm tốn như thế. Nhưng nếu nhìn chung thì đó là một cuốn truyện đã được viết theo quan điểm “thuộc địa” hay “đế quốc”, của những kẻ đi chinh phục, trong mối tương quan trên/dưới và nam/nữ, giữa các dân tộc da trắng và các dân tộc da màu. Trên và đàn ông, là những dân tộc da trắng. Dưới và phụ nữ, là những dân tộc da màu, châu Á hay châu Phi. Ðó là một giấc mơ khá êm ái, về các thuộc địa nói riêng, và châu Á hay Viễn Ðông nói chung, giấc mơ diễm tình của anh da trắng đi chinh phục, từ một dĩ vãng đã xa xưa (mà vẫn chưa xa xôi?). Ðó là một trong những giấc mơ, thiên thai hay không thiên thai, của Graham Greene, có thể bên cạnh một bàn đèn, như trong Người Mỹ trầm lặng:
Yêu cho thỏa thích
Yêu rồi chết
Tại đất nước giống như em
(Charles Baudelaire)
Nhưng cái đất nước đó, Việt Nam hay Tàu, Nhật, Phi-luật-tân; Cam Bốt, hay An-giê-ri, Mã-lai-á, In-đô-nê-xia, nó chẳng bao giờ giống như em. Và sự tỉnh mộng đã quá phũ phàng, từ cả hai phía. Mặc dù vậy, sau những Pierre Loti, những Somerset Maugham, những Graham Greene, hay cả những Jean Hougron, những Jean Lacouture, người ta ( những Phillip Noyce của tương lai? ( vẫn tiếp tục mơ mộng hay vẫn đi tìm thời gian đã mất.
2. Nếu cô Phượng là một cậu Phương
Riêng chúng ta thì không những không phản đối, mà chấp nhận trong ngất ngây, cái quan điểm kỳ cục đó. Bởi chúng ta vẫn quan niệm Á đông là âm, là đêm, là trăng, là dịu dàng kín đáo, thậm chí hư ảo, mờ mờ nhạt nhạt (“đất nước nhỏ bé và lạc hậu”). Vì vậy tuy Phượng là một cá nhân riêng lẻ, một nhân vật tiểu thuyết, nhưng đồng thời cô cũng là biểu tượng của VN. Thử hỏi, nếu cô Phượng là một cậu Phương, thì có gây được ấn tượng và cảm xúc mạnh nơi độc giả, nhất là khán giả VN không? Vì trong số ký giả và nhà văn Tây phương đến VN đã có nhiều người đồng tính. Nhưng xin lỗi, cô Phượng không phải là VN? Bởi VN hiện là một đất nước có 80 triệu dân, gồm người kinh và các sắc tộc. Mặc dù gọi các dân tộc ít người là người Việt, nhất là trong lúc này, là một sỉ nhục đối với họ. Mà giả dụ, nếu cô Phượng có là quê hương VN đi chăng nữa, thì cũng không trung thực. Bởi ở thế kỷ 17, 18 VN không làm ca-ve. VN đã bị hiếp dâm, và VN không yêu những kẻ hiếp dâm mình, dù là ông già thuộc địa, hay anh đế quốc trẻ, hay tên cướp râu hùm nào đó… Những kẻ đã hiếp dâm VN cũng không là những người tình say đắm của VN, như ký giả Fowler, hay Pyle nhân viên tình báo Mỹ, hoặc ai đó khác. Hay ngược lại?
3. Những con điếm có quả tim
Trong cái nhìn và giấc mơ tình dục của kẻ chinh phục da trắng, mà ở đây là một nhà văn, thì các dân tộc Á Ðông chỉ là những cô gái điếm xinh đẹp dịu dàng, những con điếm có một quả tim (a tart with a heart). Ðó là các Madame Butterfly của Nhật, các nàng Suzie Wong của Hương Cảng, các cô Phượng của VN. Khán giả VN, trong và ngoài nước, đã say mê cuốn phim của Philip Noyce, coi đó như là một tặng phẩm tuyệt vời. Nó có thể tuyệt nhưng chưa vời. Ai cũng thích xem ảnh mình, nhất là một tấm hình màu khá xinh do các ảnh gia tài ba thực hiện và đã được thi vị hóa. Hay nói theo nhà điểm phim Nguyễn Bình Dương: “một sản phẩm tập thể thật chuyên nghiệp”.
Ông Nguyễn Bình Dương viết tiếp: “Xem, lại cứ thầm hình dung, cô diễn viên kia [Hải Yến] nếu trong một bộ phim ta vẫn hàng ngày phải xem thì cô sẽ không còn tỏa ra xung quanh một không khí khả ái và chuyên nghiệp như thế nữa. Phượng sẽ chỉ thô sơ là một ca-ve lơ ngơ giả khượt mà thôi.” “Lơ ngơ”, đồng ý. Nhưng không đồng ý với “giả khượt”. Thật ra chính cái “chuyên nghiệp” mới là “giả khượt” chứ không thể ngược lại. Một cô gái “lơ ngơ” lắm khi đáng yêu hơn moät cô gái “chuyên nghiệp”. Ðạo diễn Federico Fellini đã sáng tạo hai nhân vật nữ “lơ ngơ” rất đáng yêu/đáng thương, là cô bé khù khờ Gelsomina trong phim La Strada (Con lộ), và cô gái điếm Cabiria trong phim Le Notti di Cabiria (Những đêm của Cabiria), do nữ diễn viên kiêm vợ nhà đạo diễn, Giulietta Masina đóng. Masina là một diễn viên xuất sắc, nhưng không chim sa cá lặn. Nhà thơ Blaise Cendrars, trong bài thơ dài Văn xuôi của chuyến xe lửa xuyên Tây-bá-lợi-á và của cô bé Jehanne de France, đã yêu một cô gái điếm trẻ “dại khờ, ngây thơ, bơ vơ, trơ trụi, nghèo khổ”. Khán giả VN đang yêu một cô Phượng “hương trời, sắc nước”, như đã từng yêu một nàng Kiều “liễu hờn, hoa ghen”. Mặt khác, bài Thiên Thai làm nhạc đệm, có thể có nhiều gợi cảm thần tiên đối với ta. Nhưng đối với khán giả ngoại quốc nó có thể chỉ là nhạc đệm, dù có tuyệt vời đi chăng nữa, cũng không thể có những gợi cảm đặc biệt như đối với khán giả Việt. Bởi thế, thiển nghĩ, ta không nên quá chủ quan khi xem phim hay đọc sách?
4. Một tam giác không đồng cạnh
Nếu bảo rằng cuốn phim của Phillip Noyce “đã tập trung vào ba nhân vật chính” thì vừa đúng vừa sai. Bởi ai cũng phải chấp nhận quan điểm của ông Nguyễn Bình Dương là “Hải Yến không có gì để diễn nhiều với nhân vật Phượng”. Hay nói theo tiếng Anh thì cô Phượng chỉ là một “cipher”, một cái “số không”, hay một vật “trang trí”. Là một bộ phim về VN và Ðông Dương, nhưng người VN và người Pháp đã không được thể hiện đầy đủ bằng những vai chính, nếu không muốn nói là hầu như vắng bóng trong trường hợp người Pháp. Trên thực tế, cái tam giác không đồng cạnh Pháp (hay Anh), Mỹ, Việt không thể/không bao giờ là một tam giác tình yêu, nói chi say đắm trữ tình. Cô Phượng chỉ là gia vị cho cái trọng tâm là con gà “lực lượng thứ ba” (Third Force) không Tây không Cộng, sẽ trở thành miền Nam tương đối có tự do dân chủ hơn, dù bị Greene nhạo báng, và không thể dễ gì một sớm một chiều tiêu diệt được trong ký ức chung của toàn dân. Graham Greene viết Người Mỹ trầm lặng không phải vì ông yêu thương người phụ nữ VN hay quê hương VN, mà chỉ cốt đưa ra một quan điểm chính trị, ở đây là quan điểm chống Mỹ của tả phái Anh, vẫn tồn tại đến ngày nay và đang bừng dậy nhân dịp xung đột Mỹ-Iraq, mà đại diện hung hăng nhất là kịch tác gia Harold Pinter và ký giả truyền hình John Pilger (Úc), cùng với Tariq Ali, Colin Redgrave, những “usual suspects”, em trai của nữ tài tử Vanessa Redgrave một người cực lực chống Mỹ và Do Thái, bênh vực Palestine, từng là bạn thân của siêu sao Jane “Hanoi” Fonda. Vanessa và Colin là con của tài tử gạo cội Michael Redgrave. Michael Redgrave đã đóng vai Fowler trong version đầu (1957) của đạo diễn Mỹ Joseph L. Mankiewicz, với kết cuộc bị sửa đổi cho thiên về phía Mỹ. Audie Murphy, một cựu chiến binh anh dũng nhiều huy chương của thế chiến 2, đã lãnh vai Pyle (Mankiewicz muốn có Marlon Brando nhưng không được), và Georgia Moll, một tài tử mầm non Ý trong vai Phượng khá đạt. Michael Redgrave có vẻ “trí thức” hơn Michael Caine có giọng “cockney” đặc biệt của khu East End thợ thuyền (London), tiết lộ cái gốc của mình, như cô gái bán hoa mót Eliza Doolittle trong kịch Pygmalion của Bernard Shaw, sau trở thành ca nhạc kịch My Fair Lady. Nhưng Michael Caine đẹp trai hay đẹp lão hơn, nên rất bắt mắt. Trước đây, Caine cũng đã xuất hiện trong phim The Honorary Consul dựa theo một cuốn truyện khác của Greene. Greene đaõ không chống lại cũng như không chỉ trích chủ nghĩa thực dân ở VN, ngoài đời hay trong tác phẩm. Sau khi bị buộc tội chống Mỹ với Người Mỹ trầm lặng, mối ác cảm của Greene đối với Huê kỳ ngày càng mạnh, nhất là đối với tổng thống Ronald Reagan.
5. Vũ nữ Cẩm Nhung
Việc thay đổi lý lịch của Phượng và nhân vật Hinh là một sai lầm, hay không cần thiết, nếu không muốn nói là ngụy trang lịch sử. Sài Gòn thủ đô VN thời Pháp thuộc, là một thành phố lớn tạp chủng, mà người Tàu và người Ấn đã giữ một vai trò kinh tế quan trọng (và chính trị như trường hợp anh giao liên Hinh), đã ảnh hưởng đến cả người Pháp. Bà mẹ của cô bé Marguerite Donnadieu (sau là Marguerite Duras) đã phải vay tiền Chà “sết ty” (chetty), để khai khác một mảnh đất ven bờ Thái Bình Dương. Nhiều cô gái nghèo VN, nếu không làm tôi tớ, thì làm đĩ. Nếu có được chút nhan sắc thì có thể làm ca-ve, một thứ gái điếm có thêm nghề chuyên. Họ thường bị sử dụng/lợi dụng như tình nhân ngắn hạn rồi vất bỏ. Trường hợp vũ nữ Cẩm Nhung, bị vợ lớn thuê người tạt ác-xít hủy hoại nhan sắc, đã quá thê thảm rùng rợn, khiến bà Ngô Ðình Nhu ra leänh đóng cửa ngay lập tức các vũ trường. Cẩm Nhung bị mù lòa, mặt mũi u nần những vết sẹo trông thật khủng khiếp. Sau thỉnh thoảng xuất hiện ngồi xổm bên vệ đường Lê Lợi, Nguyễn Huệ, trên ngực có gắn bức chân dung chụp chung ngày xưa với người tình sĩ quan, xin tiền trong sự hững hờ của khách qua lại rộn rịp mua sắm Tết. Do vậy, chuyện “Kiều hóa” cô Phượng (“xuất thân trong một gia đình có học, cha là giáo sư mất sớm”) là một sỉ nhục đối với các cô gái nghèo làm ca-ve. Vì làm vậy thì cũng tỉ như hàm ý (dù không cố tình) rằng những cô gái nghèo từ những gia đình bần cùng thực sự, không thể có nhan sắc hay những đức tính của Phượng. Như cô Kiều, cô Phượng là một trường hợp hi hữu, không xứng đáng làm đại diện cho các đồng nghiệp. Nói cách khác, nhân vật Phượng đã được lý tưởng hóa tối đa, để làm biểu tượng cho một nước VN cũng hiền lành khả ái tương tự. Trên thực tế, các cô vũ nữ Sài Gòn thủa ấy đều “phi dê”. Họ không sang trọng, đài các. Họ ít lộ diện ban ngày. Nếu họ có “tỏa” thì mùi nước hoa rẻ tiền, và cái không khí sex tội lỗi, ngượng ngập, vì không đường hoàng, chính thức. Và họ không bao giờ hoa cài mái tóc như một cô sơn nữ trong ca khúc.
6. Tình hữu nghị “ví hở tình thâm”
Nhưng trớ trêu thay, qua các bài viết đọc trên mạng, tôi có cảm giác rằng hình như để chứng minh mình là ca-ve hay gái điếm, hơn bao giờ hết, VN ngày nay đang vọng ngoại và bán mình. Một cuốn phim sẽ đẹp hơn nếu được giải thưởng quốc tế. Một cái truyện sẽ hay hơn nếu được chuyển ngữ. Toàn quốc dường như đang trở thành một cái theme park “dân tộc tính” khổng lồ cho du khách, với những trò múa rối ngày đêm trên cạn dưới nước. Những “địch thủ” xưa, những “tên giết người” đang trở lại chốn cũ, nơi đã xảy ra án mạng để ăn nhậu chụp ảnh kỷ niệm, và nghiễm nhiên trở thành những người bạn mới quí báu trong mối tình hữu nghị khắng khít “ví hở tình thâm”. Cái gì bán được thì hối hả mang ra bày hàng chợ. Viết sách mong để được dịch. Vẽ tranh chỉ cốt để bán. Ðiều này cũng chẳng lạ, cũng không mới. Bởi Haiti và In-đo-nê-xia đã đi trước khá lâu rồi. Haiti với hội họa Ngây Ngô. In-dô-nê-xia cũng Ngô nhưng Cổ hơn.
Có thể với phim Người Mỹ trầm lặng ta lại theo gót chân ngoại nhân làm con chốt trên ván cờ quốc tế? Tại sao phải trở lui về quá khứ để liếm những vết thương, dù có thật hay chỉ tưởng tượng? Ðối với cá nhân tôi, các bộ phim Ðông Dương, Người Mỹ trầm lặng, Mùi đu đủ xanh, Mùa hè chiều thẳng đứng, chẳng khác gì những cuốn truyện của Pierre Loti (nhà văn đồng tính người Pháp, 1850-1923), mà cái chất “exotisme” đã được tăng cường thêm chút mắm muối “chính trị” hoặc chút hoa văn “tính dân tộc” của các trang báo ảnh giấy láng. Tôi không chê, nhưng cũng không trân trọng chúng quá mức. Tôi xúc cảm mạnh hơn khi xem Cô gái trên sông của đạo diễn Ðặng Nhật Minh, mặc dù phim này có “happy end”. Nhưng điện ảnh là điện ảnh, không phải là cuộc đời, hay chỉ là “cuộc đời trong bóng tối”, và khán giả đôi khi cần có những tia hy vọng ở cuối phim, trước khi trở về với cái thực tại bên ngoài. Tiếc thay, tôi chưa được xem Mùa ổi.
Nếu nói thẳng và thật ( tuy nói thẳng là ngu, và nói thật là dại ( nhưng cứ cả gan nói đại thử một bận xem sao, thì VN cũng là người chị đanh đá của cô Phượng? Có thể cô Phượng đã thua. Nhưng bà chị đanh đá thì “không tuyệt vọng, không cực kỳ bơ vơ, không vỡ mộng, không cần nơi bám víu”, như các nhà điểm phim đã hòa đồng với cô Phượng để tự thương thân và nghĩ ngược lại. Bởi trên thực tế, bà chị đanh đá (hay ông anh hà khắc) của cô Phượng đã thắng. Và đó là cái rủi cho tôi, mà cũng có thể là cho cả dân tộc nữa? Tôi đã đọc sách, xem phim, phát biểu những ý kiến chủ quan như một người được trọn quyền tự do ngôn luận, và chỉ trên bình diện thuần túy văn học để chóng qua một đêm đông buốt giá xứ lạ quê mình, không dính líu gì tới chính trị trong hay ngoài nước. Vì là một con người với hiểu biết sơ đẳng, nên chuyện sai lầm rất khó tránh, mong các bậc cao minh lượng thứ cho.
© 2003 talawas
Phụ lục
God bless America
(Xin Thượng Ðế ban phúc lành cho Mỹ Quốc)
Chúng lại lên đường,
Bọn Yanks* trong đoàn quân võ trang
Vang ca reo hò
Phi mã qua địa cầu bao la
Vinh danh Thượng đế Hoa kỳ.
Cống rãnh chật thây người
Những người không nhập cuộc
Những người không chịu hát
Những người mất tiếng nói
Những người quên giọng ca.
Lũ ky.mã vung những lưỡi roi ngọt.
Ðầu bạn rơi lăn trên cát
Ðầu bạn một vũng máu pha bùn
Ðầu bạn một vết loang trộn buïi
Mắt bạn đã bị khoét và mũi bạn
Ngửi toàn mùi tử thi
Và bầu tử khí vu vi
Với mùi Thượng đế Hoa kỳ.
(Bản dịch của Nguyễn Ðăng Thường)
God bless America
Here they go again,
The Yanks in their armoured parade
Chanting their ballads of joy
As they gallop across the big world
Praising America’s God.
The gutters are clogged witnh the dead
The ones who couldn’t join in
The others refusing to sing
The ones who are losing their voice
The ones who’ve forgotten the tune.
The riders have whips which cut.
Your head rolls onto the sand
Your head is a pool in the dirt
Your head is a stain in the dust
Your eyes have gone out and your nose
Sniffs only the pong of the dead
And the dead air is alive
With the smell of America’s God.
(*) Yanks: Yankees, tiếng lóng gọi quân Bắc xâm lược trong cuộc nội chiến Mỹ.
Nhật báo The Guardian, 22.01.03
© Harold Pinter, January 2003