trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
20.12.2002
Đoàn Cầm Thi
Có một dòng văn học khác
 

Tôi khóc
những người bay không-tới nổi chân trời
Càng khóc
những người
đã-tới chốt
ở chân mây
(Trần Dần)

Mười lăm năm Tướng về hưu, văn học Đổi Mới đang ở đâu? Sau khi khai thác thành công một số đề tài kỵ huý như Cải cách ruộng đất, đạo đức băng hoại, đặt cái nhìn nghi vấn về chiến tranh, các nhà văn trụ cột thời 1987-1991 đã góp gì thêm cho văn học Việt Nam? Tôi sẽ không nói gì về tác giả Nỗi buồn chiến tranh bởi lẽ Bảo Ninh khiêm tốn. Bao năm nay không viết gì đáng kể, và anh ý thức được điều đó, nên chỉ im lặng. Chúng ta tôn trọng sự im lặng đó. Tôi cũng sẽ không nói gì về Dương Thu Hương, vì chị chưa bao giờ coi văn học là say mê lớn nhất1. Tôi sẽ nói về Phạm Thị Hoài, nhưng trong phần dành cho văn trẻ. Còn Nguyễn Huy Thiệp? Tác giả Tướng về hưu, sau nhiều lần tuyên bố gác bút, vẫn có nhiều tham vọng.

Trong các buổi nói chuyện chính thức ở nước ngoài, Nguyễn Huy Thiệp thường có những nhận định làm người ta nghi ngờ nơi ông lòng trung thực. Đầu năm 2000, tại Paris, khi được hỏi về sáng tác của Dương Thu Hương, người được coi là “đối thủ” của ông, “cực kỳ nổi tiếng”, Nguyễn Huy Thiệp nói : “Đó là một nữ tiểu thuyết gia có ít tham vọng văn học hơn tôi (…) Tác phẩm của bà ấy giống như một bữa ăn sắp tàn: tất cả mọi người đã gắp, mỗi đĩa một tý, nhưng còn một ít thừa…”2. Tháng tư năm 2002, tại hiệu sách Phénix, Paris, Nguyễn Huy Thiệp, com-lê cà-vạt, phát các-vi-dít bên tiếng Anh bên tiếng Pháp, rồi nói: “Tự do là một khái niệm mới mẻ, không quen thuộc với người Việt. Ngay bản thân tôi là nhà văn, tôi cũng không bao giờ nghĩ đến nó. Rất nhiều người Việt nghĩ đến cơm ăn và áo ấm hơn là chữ tự do”. Khi Jean Lacouture hỏi có chịu ảnh hưởng của Sartre không, Nguyễn Huy Thiệp bảo: “Về Sartre, tôi chỉ biết những chuyện ái tình của ông ta (…) Việc giới thiệu các nhà văn hiện đại thế giới ở Việt Nam rất hạn chế vì mắc việc dịch thuật…”3. Về việc ra đi của Nguyên Ngọc, nguyên tổng biên tập Văn Nghệ, tờ báo đầu tiên đăng Tướng về hưu làm rạng danh tác giả của nó, Nguyễn Huy Thiệp nói: “Ông ấy được tự do, ở Việt nam có câu già rồi thì không mắc tội nữa, tức là già rồi thì có làm gì đi nữa người ta cũng tha cho. Đó là một tập quán của nông thôn Việt Nam…”

Suối nhỏ êm dịu, kịch bản mới nhất, giống như một truyện dài gồm các câu đối thoại hoặc độc thoại, bắt đầu bằng tên nhân vật cộng dấu hai chấm, kết thúc bằng dấu xuống hàng. Những lời nói đó thiếu khả năng biểu cảm đến nỗi tác giả buộc phải giới thiệu rất lâu về người phát ngôn ra chúng trong phần mở đầu kịch bản dài đến 8 trang : “Ông số 1 (vị giáo chủ) thực sự là một lãnh tụ của đám đông. Phong thái đàng hoàng, từng trải, lịch sự, tao nhã và rất có uy tín với mọi người. Tuy nhiên ta nhận ra điều đó là do rèn luyện mà nên chứ không phải do bẩm sinh…”4, hay “Ông số 5 là một người bị khuyết tật đâu đó hoặc trên cơ thể hoặc trong tâm hồn”5, vân vân. Nhưng dường như 8 trang vẫn chưa đủ, đôi lúc tác giả phải dành từ 5 đến 7 trang để tả thêm tính cách một nhân vật: “Ba Vạn Chín Nghìn Thiếu Một Nghìn vào (…) Người phụ nữ này khá điển hình cho một thế hệ phụ nữ thành đạt ở một quốc gia phương Đông đang phát triển. Nàng được nuôi dưỡng và giáo dục tốt…”6. Cũng như vậy, khi viết: “Ba Vạn Chín Nghìn Thiếu Một Nghìn: (dưới đây viết tắt là Bốn Vạn. Đây là một cách làm tròn số có phần hào phóng của tác giả, mong độc giả tính điểm cho). Kính chào thừa tướng…”7, Nguyễn Huy Thiệp vẫn chỉ là nhà văn (xuôi) chứ chưa hề là nhà soạn kịch. Đấy là lý do vì sao kịch bản của Nguyễn Huy Thiệp hầu như không bao giờ được dựng. Nếu có, như trường hợp Quỷ ở với người, một chuyển thể từ truyện ngắn Không có vua, thì đó chỉ là một vở kịch truyền thanh8.

Về văn xuôi, các truyện ngắn mới của Nguyễn Huy Thiệp không có nữa những chàng Trương Chi hoang dại bất cần đời “trật quần đái vọt xuống dòng sông”9 hay những cái “tôi” không chọn con đường mòn mà đi: “Tôi, người viết truyện ngắn này, căm ghét sâu sắc cái kết thúc truyền thống ấy. Quả thực, cái kết thúc ấy là tuyệt diệu và cảm động, trí tuệ dân gian đã nhọc lòng làm hết sức mình”10. Gần đây, chỉ thấy những cái “tôi” mà tuổi già đang ập đến. Anh ta thường ngồi ngoài câu chuyện, mơn trớn độc giả: “Tôi không tán thành với nhiều ý kiến nhận xét của ông, nhưng tôi đồng ý với ông rằng cuộc đời quả là tươi đẹp, tuổi trẻ quả là tươi đẹp” (Thổ cẩm). Cả Không khóc ở California, Truyện tình kể trong đêm mưa và Những người muôn năm cũ đều kể hành trình viếng thăm Mỹ quốc của kẻ xưng “tôi”. Những câu chuyện nhàn nhạt đó là cái cớ để Nguyễn Huy Thiệp đưa ra vài triết lý vô hại: “…cái chết sẽ đến sớm hay muộn với mỗi một người. Vẫn là cái chết trắng trợn, phũ phàng không ai tránh được !”11, “Thực ra toàn bộ thế giới được xây dựng trên sự ngẫu nhiên lộn xộn không có qui tắc nào cả”12, “Về bản chất, đàn bà đứng về phía trât tự…”13 .

Chỉ trong ba trang cuối của Những người muôn năm cũ, nhân vật “tôi” trở về nơi đã sống cách đây 30 năm, tám lần viện cớ dẫn ra những thành công (thường về vật chất). Nhân vật May nói với anh ta: “Cháu có đọc báo, nghe nói chú đã trở thành nhà văn, đi Mỹ đi Pháp, lại giàu có nữa…”, hay “Tôi cám ơn May, tặng anh một món quà nhỏ“, “Tôi để lại cho vợ Doanh một món tiền“, “Tôi xuống núi, trả tiền thuê thằng bé chột mắt. Giống như cái bà sang trọng (…) tôi cho thằng bé năm nghìn“14. Hành động cuối cùng của “tôi” là mở ví rút tiền, không dấu nổi sự thỏa mãn của kẻ tự cho đã đến đích. Ngoài nỗi chán nản của người đọc, sẽ không có gì đáng bàn thêm, nếu cái “tôi” trong các truyện ngắn đó không thường mang nhiều tâm sự của tác giả. Đặc biệt trong Những người muôn năm cũ, nó có nhiều nét rất gần với Nguyễn Huy Thiệp ngoài đời – từ cái tên (Thiềm), đến gốc gác (giáo viên trẻ miền xuôi lên miền núi dạy học), rồi nghề nghiệp hiện nay (nhà văn danh tiếng đã từng đi Pháp, Mỹ). Vì vậy, chán nản biến thành thất vọng khi người ta thử làm gạch nối giữa tác giả và “tôi”. Không còn dấu vết nào của nhân vật “tôi” trong Tướng về hưu hay Con gái thuỷ thần: hoang mang, cô đơn, mải mê tìm một vẻ đẹp mông lung, huyền ảo – “Nàng là ai? Con gái thuỷ thần? Nàng ở đâu? Con gái thuỷ thần? Là tình chi? Con gái thủy thần? Để tôi mượn màu son phấn ra đi”15. Với cái “tôi” của Những người muôn năm cũ, nước Mỹ là hiện thân của miền đất hứa: vinh quang, tiền bạc. Cả tình yêu. Chính tại Cali, nhân vật “tôi” của Không khóc ở California gặp người đàn bà lý tưởng trong nữ Việt Kiều diện “bộ váy lìền áo may bằng vải lụa tơ tằm, khoác thêm chiếc áo giắc két“16 mà anh ta yêu với những dằn vặt đức hạnh: “Yêu mà không hiến thân, hiến thân mà không sa sút và tàn tạ, điều ấy có thể được chăng ?”17.

Chưa quá một thập kỷ, Con gái thuỷ thần, người đàn bà bí hiểm trong giấc mơ trai trẻ, đã hiện nguyên hình là một Sến Em-ơi-Hà-Nội-váy! Vì vậy, khó có thể so sánh Nguyễn Huy Thiệp hôm nay với các nhà văn trẻ đương thời, cả về thẩm mỹ lẫn khát vọng. Trong Giáo S18, Tuyết của Đời mưa gió hiện ra với vẻ đẹp liêu trai. Trần Vũ cho nàng mặc bên trong chiếc áo dài Cát tường, một “chiếc quần lót kiểu Tây mỏng manh”. Nàng sẽ yêu cuồng nhiệt De Rhodes, De Lattre, rồi Khái Hưng Hoàng Đạo Thạch Lam, đem lại cho họ những khoảnh khắc kỳ diệu nhất. Nhã trong Cơ hội của chúa cũng rất mới: sống, áp phe và yêu đều hết mình. Nguyễn Việt Hà còn cho cô nói tiếng Pháp, uống rượu, hút thuốc, nhảy đầm, mặc soóc và đánh ten-nít. Viết đến đây, tôi nhớ đến một câu của Trần Vũ: “Chức năng của nhân vật nữ ngoài hấp dẫn bạn đọc, còn thoả mãn ẩn ức sinh lý của tác giả”19. Đúng vậy, hơn cả Tổ quốc, hơn cả lý tưởng, khi đàn ông viết về đàn bà là lúc anh ta thể hiện rõ nhất quan điểm của mình về cái đẹp, tình yêu, tình dục, cuộc sống.

*


Thuỵ Khuê, trong bài viết gần đây – “Vấn đề đoạn tuyệt với quá khứ để lên đường”20, có những nhận định kỳ lạ : “Trong cuốn Gió lửa, Nam Dao tạo được ‘không khí’ truyện. Nhưng lại không phải cái không khí Việt Nam (…) những cái chết máu me, khốc liệt ở trong Gió lửa không giống cái ‘máu me Việt nam’. Người đọc khó có thể cảm được những cảnh ‘Mây lõa thể nằm ngửa ra cho nước ào vào tóc, vào mặt, vào yếm. Con Hương dạng chân, váy sắn đến bẹn’. Hình thức sensualité ấy có vẻ rất Tây phương, rất Gitane, hiếm thấy trong các cô gái Việt. Và những cảnh máu mê, trả thù (…) rất châu Mỹ la tinh khó có thể xẩy ra ở một làng xóm nào trên nước Việt với những cây cau, ao bèo, đống rạ”.

Trước hết, người ta có cảm giác tác giả không nhất quán: trách Nam Dao “không Việt Nam”, nhưng chính Thụy Khuê lại dùng ngoại ngữ vào những chỗ không cần thiết – cả “sensualité” và “Gitan” đều có tương đương trong tiếng Việt. Mặt khác, nhận xét trên của Thuỵ Khuê không chính xác, ít nhất ở hai điều. Thứ nhất, nhiệm vụ của nhà văn không phải là tả thực, càng không phải là giáo dục lòng yêu nước. Thứ hai, trong nghệ thuật, rất khó phân biệt rạch ròi đây là Việt Nam, đây không là Việt Nam, mà là Tây, Mỹ La Tinh, hay Trung Hoa, v.v. Người ta cũng có thể đòi Thuỵ Khuê định nghĩa: thế nào là “máu me Việt Nam”, “không khí Việt Nam”21 ? Dựa trên căn cứ nào Thuỵ Khuê khẳng định “cây cau, ao bèo, đống rạ” là Việt Nam, còn “Con Hương dạng chân, váy sắn đến bẹn” thì “phương Tây”? Vì mặc váy và dạng chân là độc quyền của phụ nữ châu Âu?

Vả lại, việc phân biệt đó nhằm mục đích gì? Lấy tiêu chuẩn dân tộc hay chủng tộc để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật sẽ dẫn đến những nguy cơ khủng khiếp. Lẽ nào Thuỵ Khuê không biết rằng chính khái niệm “thuần Đức” đã khai sinh ra chế độ Quốc Xã ở châu Âu những năm 1930? Mấy năm nay, Đảng kêu gọi “xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc”, xin Thuỵ Khuê cung cấp cho Đảng bí quyết cân đo đong đếm chính xác mức độ ái quốc trong mỗi tác phẩm viết bằng tiếng Việt! Nếu từ mười lăm năm nay Phạm Thị Hoài cứ trăn trở với câu hỏi “tây hay ta”, thì văn học Việt sẽ thiếu những “chuyển động Brown”, “homo-A”. Nếu bốn mươi năm trước Trần Dần cứ loay hoay với vấn đề “thuần Việt”, thì chúng ta chẳng bao giờ có những câu thơ bất hủ:

“Mưa rơi phay phay

Ngã tư năm ngoái

Biết tôi khờ dại

Em đi không sao chống cự nổi

Đại lộ tai hại

Em dài man dại

Em dài quên che đậy

Em dài tê tái

Em dài quên cân đối

Em dài bối rối

Em dài vô tội

Em dài – khổ tâm”22

Xin mở ngoặc để nói trong bài viết này của Thuỵ Khuê, có nhiều chi tiết thiếu chính xác. Sau đây là một số ví dụ. Để định nghĩa một khái niệm trừu tượng như post-moderne hay déconstruction, Thụy Khuê thường dùng các cụm từ “đại để như sau”, “một cách nôm na”, “đại loại như”. Trích nhiều câu và bảo của Nabokov, Sartre, Clézio23, dựa trên đó để xây dựng lập luận của mình, nhưng Thuỵ Khuê không dẫn xuất xứ, không viết trong dấu ngoặc kép. Đưa ra các tác phẩm của Sollers, Roth hay Clézio, như những tấm gương về viết “thật”, “hiện thực truyền thống”, để các nhà văn Việt Nam noi theo, nhưng Thuỵ Khuê không chỉ ra tên sách, năm viết, nơi in. Hai lần Thuỵ Khuê dịch “neutre” là “lạnh lùng”, trong khi các từ điển đều ghi “neutre” = “trung lập”. “Lạnh lùng” chỉ là một cách diễn giải chủ quan của Thuỵ Khuê. Trước quá nhiều “nôm na” như vậy, người ta hoài nghi tính xác thực của những ý tưởng mà Thuỵ Khuê gán cho các tác giả, cũng như cơ sở khoa học các nhận định của chính Thuỵ Khuê.

Vẫn trong bài “Vấn đề đoạn tuyệt…”, sau khi khẳng định nhiều nhà văn miền Nam trước đây “bắt chước” Mai Thảo, nhiều tác giả trẻ hiện nay (trong nước và Đông Âu) “bắt chước” Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp, rồi hai “thần tượng” này hình như lại bắt chước Nam Cao, cuối cùng thì văn chương hải ngoại “bắt chước” tiểu thuyết mới và siêu thực nên “cứ mờ nhạt, giả tạo, đọc rất chán”, Thuỵ Khuê dán nhãn cho các tác giả: Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp là “hiện thực phê phán xã hội”, Nguyễn Bình Phương “trường phái châu Mỹ La Tinh”, Trần Vũ “hiện thực giả tưởng”, Mai Ninh “mộng ảo lãng mạn dục tình”. Cuối cùng, Thuỵ Khuê có lời khuyên nhủ : “Mình dám là mình. Nhà văn viết gì thì viết, trước hết hãy gắng là mình. Không thành kiến. Không mặc cảm. Cũ, mới đều có chỗ đứng, nếu đó là văn chương đích thực”. Đọc Thuỵ Khuê, tôi bỗng nhớ đến Tố Hữu của thế kỷ trước, khi ông xúc động trước thành tựu vĩ đại của công cuộc xây dựng miền Bắc xã hội chủ nghĩa, hớn hở thốt lên câu thơ nổi tiếng trong tập Gió Lộng : “Cám ơn Người, Hồ Chí Minh vĩ đại / Bốn ngàn năm ta lại là ta”. Gần đây người Hà Nội hát: “Bốn ngàn năm ta lại là ta / Ta từ hang đá chui ra / Ta hô khẩu hiệu rồi ta đi vào”.

Cả Thuỵ Khuê và Tố Hữu đều đinh ninh: “ta” (hay “mình”) là một giá trị bất biến, phi thời gian, phi lịch sử, có thể tồn tại hoàn toàn độc lập với thế giới bên ngoài. Ca bài “ta về ta tắm ao ta”, phủ nhận qui luật vận động, phủ nhận cái mới, cái khác, họ là những kẻ phản tiến bộ. Với tư cách một người làm phê bình, lời nhận định của Thuỵ Khuê lại càng nguy hiểm, một lần nữa thể hiện tính xuề xoà trong một công việc đáng ra phải khoa học. Tại sao lại xí xoá hoà cả làng, đánh đồng tất cả mọi người: “Cũ, mới đều có chỗ đứng”? Làm sao có thứ văn chương vừa “cũ” vừa “đích thực”? Nhà văn nào dám bán toàn hàng second hand với giá đồ xịn mà “không mặc cảm không thành kiến”? Tìm hiểu, cập nhật các trào lưu nghệ thuật là một nhu cầu chính đáng để sáng tạo. Nếu tác giả cứ dọn mãi một món, dù đó là sơn hào hải vị, thì độc giả sẽ ngoảnh mặt đi mà chẳng cần xin lỗi24. Vì vậy, không chung thuỷ với chính mình, không chung thuỷ với truyền thống, luôn là qui luật tự đặt ra của bất cứ kẻ nào muốn tồn tại trong nghệ thuật. Khi người sáng tác chỉ bằng lòng với việc lặp lại bản thân thì ngay cả nỗ lực dậm chân tại chỗ cũng không đạt kết quả gì. Tục ngữ Pháp có câu: Ai không tiến tức là lùi. Trường hợp Nguyễn Huy Thiệp đã chứng minh điều đó.

*


Tôi sẽ không nói như Đoài của chính Nguyễn Huy Thiệp khi còn là nhà văn “chưa danh tiếng”: “Các bác già chết đi có gì là lạ? Tiếp tục cuộc vui đi. Nào, xin mời chư tướng“25. Tôi cũng không làm như Nguyễn Minh Châu, “đọc lời ai điếu” cho văn học Đổi Mới. Các tác giả thời kỳ này đã đóng một vai trò nhất định trong lịch sử văn học Việt Nam, góp phần tạo nên không khí mới của văn đàn hôm nay. Tôi nghĩ là chúng ta nên dành thời gian cho các cây bút trẻ thì hơn. Từ “trẻ” ở đây chỉ chất lượng của một tác phẩm. “Trẻ”, còn có nghĩa là “mới”, là “khác”, là sức công phá, là khao khát tìm đường. Vậy ai là những người viết “trẻ” của Việt Nam hiện nay ?

Trước hết, đối thoại với độc giả, tranh cãi với bạn văn, là một trong những khác biệt lớn nhất giữa thế hệ trẻ và những người đi trước họ. Gần đây, qua Internet, người ta được đọc nhiều bài viết xuất sắc của các tác giả trẻ như Nguyễn Hữu Hồng Minh, Ngô Tự Lập hay Phan Huyền Thư,… Hơn ai hết, họ ý thức rằng văn học phải mở ra, hướng về những công chúng khác, chân trời mới. Việc Vi Thùy Linh học tiếng Pháp, Ngô Tự Lập, Bùi Hoằng Vị, Thuận, tự dịch sáng tác của mình ra Pháp ngữ hay Anh ngữ, việc các nhà văn trẻ Việt Nam hôm nay say mê khám phá các nền văn học thế giới qua bản dịch hay bản gốc, tất cả đều nhằm mục đích đó. Trong lĩnh vực này, Phạm Thị Hoài, bằng cách giới thiệu các tác giả thường còn ít tuổi, mở ra các cuộc bút đàm, cập nhật Việt Nam qua các thông tin văn học nghệ thuật thế giới, trên Talawas mà chị tham gia, đã tỏ rõ bản lĩnh và chỗ đứng của mình. Mặt khác, những sáng tác luôn luôn mới, từ AK… đến Mari Sến, rồi các tiểu luận và truyện ngắn gần đây Ám Thị, Cam Tâm, chứng minh rằng Phạm Thị Hoài không chỉ là “nhà văn hiện thực phê phán”. Chị cũng không bao giờ có ý định trung thành với chính mình, ăn theo những tác phẩm đầu tay đã đưa chị lên vị trí hàng đầu của văn đàn Việt Nam.

Trần Vũ (sinh năm 1962), sau một thời vắng bóng, đã trở lại với truyện vừa Giáo sĩ, đánh dấu một bước tìm kiếm mới. Cho Tuyết của Đời mưa gió, tiểu thuyết Tự lực văn đoàn, sống lại nhưng chỉ hiện hữu trong mắt của những người đàn ông yêu nàng, dù đó là những người sáng tạo ra nàng – Khái Hưng và Nhất Linh – hay những độc giả ngưỡng mộ nàng – cha truyền đạo Alexandre de Rhodes, trung uý Bernard de Lattre de Tassigny, hay Thạch Lam, Hoàng Đạo, Trần Vũ đưa chúng ta vào địa hạt của nghệ thuật và cảm xúc. Với Giáo sĩ, người đọc khám phá ra mối ràng buộc vô hình, huyền bí, phức tạp giữa tác giả và tác phẩm, giữa tác phẩm và người thưởng thức. Cũng hiếm có nhà văn Việt nào dám phiêu lưu thật sâu vào lĩnh vực của huyễn hoặc nhục dục như Trần Vũ. Ngòi bút của anh thoăn thoắt giữa thực và ảo. Bằng một chất giọng cực kỳ hài hước, sẵn sàng hạ bệ tất cả các thần tượng, Giáo sĩ còn là một khái niệm mới của Trần Vũ, một cách nhìn rất hiện đại về văn học. Với tác phẩm này, mục đích lớn nhất của văn học vẫn là văn học. Viết về cuộc sống, về con người, nhưng trước hết văn học phải viết về văn học.



Nguyễn Bình Phương, sinh năm 1965, ngoài các truyện ngắn và thơ, đã là tác giả của ba tiểu thuyết : Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng và Trí nhớ suy tàn. Ba tiểu thuyết với những phong cách và thử nghiệm khác nhau. Ngòi bút Nguyễn Bình Phương lặn sâu trong tầng tầng lớp lớp của vô thức và tiềm thức. Nhân vật của anh bao giờ cũng mang những “tôi” rất khác nhau, những “vùng tối” mà tác giả không bao giờ tìm cách lý giải. Đặc biệt Trí nhớ suy tàn mang một âm hưởng kỳ lạ: “Em sửa lại tư thế, bắt đầu cuộc nói chuyện nghiêm túc về loại cây nào đó nở hoa vàng ở phố Bà Triệu. Phải nói thật nhanh vì trí nhớ đang suy tàn ghê gớm, đang héo đi, đổ gục xuống và tan ra. ‘Hoa ấy không quyến rũ, nó chỉ thực sự đẹp khi rụng xuống trong những làn mưa nhè nhẹ lất phất đủ làm hè phố thẫm lại. Mà hè phố phải thật rộng, thật vắng vẻ. Tóm lại đó là một ảo ảnh hoang vu và cần phải…’ Ý nghĩ bị bỏ lửng không kịp truyền sang người đàn bà áo vàng vì thời gian đã cạn, trí nhớ đã suy tàn.”26

Nguyễn Việt Hà, sinh năm 1962, thực sự là tiểu thuyết gia của thủ đô thời mở cửa. Cơ hội của Chúa dầy hơn 400 trang, ra đời cuối năm 1999, thể hiện cái nhìn sắc sảo của nhà văn về giới thị dân, độ nhạy của anh với nhịp điệu, mầu sắc, âm thanh Kẻ Chợ hôm nay. Chưa bao giờ thế hệ thanh niên Hà Nội lại hiện lên trong văn học đẹp như vậy, yêu mãnh liệt như vậy. Những tình yêu chân thành, không phân biệt tình dục, không bị vấy đục bởi các câu hỏi đạo đức giả. Nhưng thành công lớn nhất của Nguyễn Việt Hà là sáng tạo ra một dạng nhân vật phản-anh-hùng, rất ít gặp trong văn học Việt Nam. Thay vì hành động, Hoàng của Nguyễn Việt Hà uống rượu và lặng lẽ ngắm nhìn thế giới xung quanh. Không xấu không tốt, anh bình thản tham dự vào những thất bại của bản thân mình. Trích nhật ký bốn nhân vật để một sự việc có thể nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau, nhạo cả Trang Tử Huệ Tử, cho Hoàng ngẫm nghĩ câu hỏi của Nhã ở gần cuối tiểu thuyết: “Mai cậu định làm gì, ừ nhỉ, mai tôi phải làm gì. Tôi vẩn vơ đi bộ trên vỉa hè ngân ngấn những vệt nước của trận mưa vừa tạnh. Đã nhiều lần tôi không biết ngày mai sẽ làm gì”27, là những thử nghiệm rất riêng của Nguyễn Việt Hà. Nó đưa ra một thẩm mỹ mới, không kém dũng cảm, tạo một cú hích vào thị hiếu của phần lớn độc giả Việt Nam quá quen với các nhân vật văn học, dù ác hay thiện, đều phải có hành động và mục đích rõ ràng.



Nguyễn Hữu Hồng Minh, trẻ (sinh năm 1972), nhiệt thành với ước vọng mở đường cho thơ siêu hình Việt Nam. Đây là những vần thơ lạ lẫm của anh :

“Tôi đã ăn một hải cảng trong vòng ba tiếng đồng hồ

Hải cảng đó hai mươi năm xa, bỗng quay về

Không nghĩ mình có thể ăn nhiều đến thế

Ăn những âm thanh nhỏ xíu như tiếng gió

Tiếng những con hà biển hát trên rêu và trên sóng…”28

Thuận, sinh năm 1967, với Made in Vietnam, tiểu thuyết đầu tay không một dấu xuống hàng, không kết không mở, không chương đoạn, không thắt nút mở nút, đi tìm một quan niệm mới cho văn học. Ở đó tất cả đều gồ ghề, khó trôi, nhưng nhất định phải khác: “Một lần vào đầu năm một buổi tối trái mùa nóng không thể mua được nước đá vì cả khu phố mất điện, Phượng buồn bã phát hiện rằng Hà Nội thơ mộng chưa bao giờ hấp dẫn nổi người Nam. Phát hiện này ám ảnh cô mất hơn một tháng, và trong suốt một tháng cô ăn bằng một nửa thường lệ, lúc đi cũng ngáp, lúc ngồi cũng ngáp, lúc xem vô tuyến cũng ngáp, kỳ lạ hơn là cứ nhìn thấy kiến thì giết. Lúc đầu ở toà soạn vì sợ bẩn cô dùng luôn những bức thư bạn đọc để lót tay, sau đó cô bỗng nhân thấy rằng những lúc săn kiến cô không ngáp một chiếc ngáp nào, sau đó cô còn đi tới một kết luận khác là giết kiến bằng ngón tay trỏ để trần còn thú vị hơn…”29.

Vi Thuỳ Linh, sinh năm 1980, là cây bút trẻ nhất, cuồng nhiệt nhất. Cô đã có hai tập thơ, “Linh” và “Khát”. Cả hai đều xuất sắc, gây tranh luận vì những bộc phá của tác giả. Qua các cuộc trò chuyện với độc giả, người ta còn cảm phục ở Vi Thuỳ Linh trí thông minh và lòng thắng thắn. Cô nói trong bài phỏng vấn trên Vnexpress.net ngày 19/4/2002 : “Tôi không muốn chỉ là người miêu tả và phục hiện cuộc sống trên trang viết mà còn muốn tạo dựng, phơi mở một thế giới khác trong chính thế giới hiện thực này, thế giới mà tôi vươn tới và khao khát (…) Tôi thích sự thách thức và tôi đang chịu sự thách thức từ độc giả và chính mình (…) Một tác phẩm nghệ thuật thực sự có đời sống và ý nghĩa luôn phải chịu sóng gió”. Bài thơ sau đủ nói lên tài năng của Vi Thuỳ Linh :

“Nơi em ở là phía ngày nắng tắt

Nỗi buồn nhiều như gió

Em ước được thả lên trời như bóng bay…

…Gió vẫn thổi, buồn phiền không mất nổi

Chỉ còn phía anh thôi

Em không nhớ đã gặp anh bao lần, bất kể khi nắng còn hay đã tắt

Để rồi đêm nay

Em cay đắng khi anh đẩy em bằng ánh mắt!

Ánh mắt anh – không – bay – được

Lòng em vỡ

Vỡ vào đêm chỉ thiếu một tháng trăng em tròn 19 tuổi

Em không nhớ đã thả bao nhiêu nỗi buồn buộc bằng tóc rụng

Tóc mỗi năm một mỏng

Em tức tưởi trở về khoảng trời bóng đỏ

Bóng chèn nhau

vỡ

Lòng em

vỡ

Em lầm lũi lại đến trước nhà anh nhặt xác nỗi buồn, đốt lên thành lửa

Rồi đi

Sau lưng em ngày nắng tắt”30

Văn trẻ hôm nay còn có nhiều khuôn mặt độc đáo khác như Ngô Tự Lập (1962), Thận Nhiên (1962), Đinh Linh (1963), Phan Thị Vàng Anh (1968), Ý Chi (1966), Phan Triều Hải (1969), Phan Huyền Thư (1972), Văn Cầm Hải (1972). Dù ở Hà Nội, Sài Gòn, Huế, Berlin, Paris, hay California, dù điều kiện viết và sống khác nhau, thời đại Internet đang giúp họ xoá nhoà danh giới “trong nước”/ “hải ngoại”. Tác phẩm của họ tạo nên một tổng thể văn học Việt Nam khác, đa dạng, không thuần nhất. Chưa thể khẳng định rằng họ sẽ tạo nên một trường phái mới, một dòng chảy mới, nhưng sáng tác của họ đánh dấu ngày tận thế của văn học Đổi Mới, báo hiệu một cơn bùng nổ. Có thể tôi hơi quá hy vọng, nhưng lạc quan thường thuộc về những người trẻ.

Văn trẻ hôm nay còn là Nguyễn Thanh Sơn (1970), tác giả của tập tiểu luận Phê bình văn học của tôi, trong đó Sơn đã phát hiện nhiều tài năng mới. Bằng những suy nghĩ luôn cập nhật, thể hiện một thẩm mỹ và một bản lĩnh, nhà phê bình trẻ tuổi này đích thực là người đi cùng các nhà văn thế hệ mình, thời đại mình. Kết thúc bài này, tôi muốn chia sẻ với Sơn, khi Sơn viết : “Viết về văn học trẻ Việt Nam hôm nay là một thử thách”31.

Paris, tháng 12 năm 2002.

© Talawas 2002


1 Dương Thu Hương biết công nhận giá trị văn học của đồng nghiệp : ” Thiệp viết rất hay ” (Phỏng vấn Dương Thu Hương, Talawas, 12/7/02), ” Tôi coi cuốn sách của Bảo Ninh là tiểu thuyết hoàn chỉnh nhất trong nền văn học Việt nam đương đại ” (Gặp mặt tại Maison des Écrivaíns, Paris, 10/1994. Xem ” Bao Ninh et la tristesse de la guerre “, La Quinzaine littéraire, 15/12/1994).
2 Xem Jean-Luc Douin, “Nguyen Huy Thiep en solitaire “, Le Monde, 14/07/2000.
3 Ngoại trừ các bản dịch của Sài Gòn trước đây vẫn có thể tìm thấy trong thư viện hoặc hiệu sách cũ, tôi (ĐCT) xin dẫn một số trong nhiều tác giả đương đại đã được dịch và giới thiệu gần đây ở Việt Nam : ngoài J.P Sartre, có Albert Camus, Claude Simon, Günter Grass (đều do Dương Tường dịch), Kundera (Ngân Xuyên dịch), Bulgacov (Đoàn Tử Huyến dịch), Céline (Hoàng Phong dịch), Boris Vian (Phong Tuyết dịch), Marguerite Duras (Đoàn Cầm Thi dịch). Không chỉ các nhà văn, mà các nhà nghiên cứu khoa học nhân văn cũng được dịch ở Việt Nam (F.Jullien, F.Braudel, R.Barthes,…).
4 Suối nhỏ êm dịu, Văn Nghệ, California, 2001, tr.20
5 Suối nhỏ êm dịu, sđd, tr.24
6 Suối nhỏ êm dịu, sđd, tr.82
7 Suối nhỏ êm dịu, sđd, tr.86
8 Do đài France Culture dựng đầu năm 2001.
9 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, Nhà xuất bản phụ nữ, Hà Nội, 2001, tr.483
10 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr. 495
11 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.679
12 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.668
13 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.618
14 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.681-683
15 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.134
16 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.591
17 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.591
18 Hợp Lưu, số 68, 2002.
19 Xem ” Giáo sĩ “, Hợp Lưu, sđd.
20 Hợp Lưu, số 68, 2002.
21 Cũng với cách lập luận như vậy, Thụỵ Khuê viết : ” Ngay cả đến tác phẩm Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Phần hay nhất của ông vẫn là phần tâm hồn và ý thức Trung quốc, còn những đoạn ông muốn “làm mới” theo kiểu Kịch phi lý của Ionesco hay Beckett, người đọc thấy sượng, vì ông không có cái humour, tính chất triệt để và thẳng cánh của người Tây phương ” (trích ” Thư gửi các bạn Talawas “, đề ngày 16/12/2001. Xem trang Web THUYKHUE).
22 Trích Trần Dần, Thơ 63-64 (chưa in)
23 Clézio hay Le Clézio ?
24 Với một người như Phạm Thi Hoài, thì nhu cầu mới của người đọc là một cái “may” cho nhà văn : “… Công chúng cũng giống dòng sông của Heraklit, nếu không thì chúng ta chỉ còn cách viết đi viết lại mãi một Truyện Kiều mà thôi”, xem ” Phạm Thị Hoài, hợp đồng ngầm với các con chữ “, Hợp Lưu, Garden Grove, số 46, 1999.
25 Tuyển tập truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp, sđd, tr.87
26 Trí nhớ suy tàn, Nhà xuất bản thanh niên, Hà Nội, 2000, tr. 130-131.
27 Cơ hội của Chúa, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1999, tr.430.
28 “Ăn hải cảng”, Chất trụ & những bài thơ khác, Nhà xuất bản Thuận hoá, Huế, 2002.
29 Made in Vietnam, Văn Mới, 2002, sắp in.
30 “Từ phía ngày nắng tắt”, Linh, NXB Thanh Niên, Hà Nội, 2001.
31 Nguyễn Thanh Sơn, Phê bình văn học của tôi, Nhà xuất bản Trẻ, Hà Nội, 2002, tr.88.
 
© talawas 2026