Ông vừa xuất bản một bộ bách khoa siêu văn bản. Trong một bài viết vừa đăng trên nhật báo La Repubblica, ông nói rằng bộ bách khoa này sẽ chứa nhiều thông tin hơn bộ bách khoa Britannica. Ông cũng nói về ưu điểm chính của bộ Encyclomedia (Bách khoa truyền thông) ấy là khả năng cho phép tham khảo một cách phi tuyến tính và chồng chéo của nó. Tôi luôn tự hỏi về hiệu quả nói chung của siêu văn bản, bởi vì phải có người nào đó làm ra những kết nối (links). Cho nên, ngay cả gọi sự việc này là sự tham khảo phi tuyến tính, hoặc một cái gì đó tương tự, thì vẫn có một người nào đó quyết định mọi chuyện từ trước?
Trước hết: nếu ngày mai bạn có khả năng sáng tạo ra một siêu văn bản trong đó bất cứ một ý tưởng nào, một từ nào, một tính từ nào, một mạo từ nào có thể được nối kết với tất cả những thứ khác, thì ở đây rõ ràng cũng phải có một bộ lọc để thiết lập những nối kết ấy. Trong chiều hướng này, khó có thể tạo ra một siêu văn bản triết học, chẳng hạn như bạn không biết có nên quyết định nối kết giữa khái niệm đam mê trong tư tưởng Descartes với khái niệm đam mê trong tư tưởng Aristotle, vốn dĩ là hai khái niệm khác nhau…?
Vâng, đấy là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau.
Ðối với Aristotle, khái niệm đam mê chỉ là một sự việc mang tính nhận thức đơn giản, đối với Descartes và cho thế kỉ XVII, khái niệm đam mê phải liên hệ đến cảm xúc, đến tình nghĩa v.v… Nhưng trong trường hợp bộ Encyclomedia của chúng tôi, vốn dựa trên những dữ liệu lịch sử, bạn sẽ có một sự bảo đảm nhất định. Tên của một thành phố được nối kết với những thành phố khác. Tên của một người cho sẵn được nối kết với những người có dính dáng nhau. Và bạn có thể thiết lập những nối kết không dự đoán trước…
Người sử dụng máy có thể ấn định những nối kết của riêng mình?
Ðúng vậy, bởi vì bạn có những cái gọi là sách và hồ sơ (book and file). Chẳng hạn nếu bạn có một cuốn sách về Descartes, hiển nhiên trong sách về Descartes đó bạn phải nhắc đến Pascal hoặc Galileo. Có một số nối kết tức thời vì Gallileo và Pascal được đưa lên chữ nổi và như thế bạn có thể định ra ngay những khả năng nối kết. Không có những nối kết ấn định trước giữa Descartes và Caravaggio. Tại sao? Vì họ không có gì chung ngoại trừ chuyện họ sống trong cùng thế kỉ. Nhưng nếu tôi muốn giải quyết hoặc trả lời câu hỏi này: Có khả năng Descartes gặp Caravaggio không? Descartes đã du hành nhiều nơi. Vậy thì, tôi tạo ra một chức năng cụ thể trên máy cho phép tôi hỏi về Descartes VÀ/HOẶC Caravaggio, rồi tôi có thể dò ra rằng sự gặp gỡ này không thể có vì Caravaggio mất lúc Descartes mới 14 tuổi. Do đó, tôi đã thực hiện sự nối kết riêng của mình.
Tôi hiểu. Giáo sư có khả năng kiểm lại loại công việc như thế. Tôi đã xem một CD-ROM siêu văn bản khá thú vị trong tạp chí Multimedia World xuất bản gần đây. Ðó là một phiên bản của tờ tạp chí, dưới dạng CD-ROM siêu văn bản. Nhưng nó cũng có – như nguời ta đã biết: Mạng toàn cầu nơi giáo sư có một trạm chứa và gửi những trang vào đó và từ trong những trang ấy tạo ra những nối kết với những nơi khác.
(Eco gật gù.)
Họ để một trang mạng toàn cầu trong một CD-ROM, như thế không những giáo sư có thể xem những gì trong CD-ROM – một loại thế giới đóng – mà còn truy cập được cả mạng toàn cầu, rồi từ đó có thể đi bất cứ nơi nào khác…
Tôi không biết tình trạng hiện giờ của liên mạng. Tôi đoán tôi có thể có trên màn ảnh bất cứ bài viết của một tờ báo nào xuất bản ở Rwanda và Burundi, hoặc ít nhất, nếu bây giờ chưa thể có trường hợp đó, thì tương lai sẽ có…
... đến thời điểm nào đó, tôi chắc là như vậy.
Rồi một ngày mai, tới điểm này, lại sẽ có những mặt tiêu cực khác. Bạn sẽ có quá nhiều điều về Rwanda – Burundi…
Ðúng vậy, và đây chính là lúc cần nhìn lại tất cả, đấy là vấn đề…
Và tôi không biết bài viết hay nhất là đăng ở báo Boston Globe hay báo Los Angeles Times. Tôi không có thì giờ để đọc hết. Ðây là vấn đề chúng ta đang phải đương đầu. Nó hiện hữu.
Nhưng một lần nữa, người ta không thể rời bỏ ý niệm lòng tin và cộng đồng. Bởi vì, rõ ràng là khi muốn tìm hiểu điều gì, thông thường trong đời sống hằng ngày người ta tìm đến những người bạn tin tưởng được, những người bạn được cho là có một cái nhìn tốt về toàn cục, và hỏi họ: Ở đây có quá nhiều sự kiện, hãy cho tôi một điểm chỉ dẫn.
Ðúng vậy, đây là một khả năng. Nhưng bạn có biết là sự kiện lớn đầu tiên lúc mới có liên mạng là câu chuyện về George Lakoff, người đã viết một bài viết rất hay về cuộc chiến tranh vùng Vịnh. Lakoff hiểu rằng đã quá trễ để xuất bản bài viết trước cuộc chiến này. Ông ta không biết gì về liên mạng vào lúc ấy, nhưng đã đưa cho một người bạn có những “liên hệ”. Ngày hôm sau, người ta thấy thiên hạ in bài viết của ông ở Bologna, ở Amsterdam, ở Sydney, khắp thế giới! Bài viết được phổ biến nhờ liên mạng, nhưng hơn thế nữa. Vì đó là ý kiến của một người tên là George Lakoff, rất…
… cần được đọc, đúng là như vậy!
Nhưng sau đó bạn có vấn đề khác, đấy là sự xuất bản quá nhanh. Bạn có thể xuất bản tức thì trên liên mạng. Và đi theo sự nhanh chóng, có sự ngắn gọn. Tôi để ý thấy rằng những thế hệ dùng máy gần đây đang học để thông tin với nhau qua những mã ước rất ngắn. Tôi vừa khám phá ra một dạng thức họ dùng…
(Eco lấy từ trên bàn một quyển sổ ghi chép, và bắt đầu viết.)
… một dạng thức rất tục trong tiếng Ý: CUL8R, “see you later”. Ðúng vậy, bạn có thể viết một lá thư tình bằng cách này với cùng sự mãnh liệt của con tim…
Ðây là hiện tượng nảy sinh từ những cộng đồng ảo, vì nó là một hình thái truyền thông tức thời, và chúng ta cũng thấy rất nhiều lối diễn tả viết và nói xuất hiện trong những nhóm thảo luận ấy. Có rất nhiều xuất hiện loại đó. Ông có nghĩ điều này sẽ tác động đến bản thân việc xuất bản, đến những chuẩn mực văn học và đến giáo dục?
Về lâu về dài tôi nghĩ có lẽ là như vậy.
(Eco tiếp tục viết.)
Bạn có biết rằng dưới bức tranh Mona Lisa của Duchamp có một loại “viết tắt – giả viết tắt”, được đọc là “L.H.O.D.O.Q.” – trong tiếng Pháp nó là: Elle a chaud au cul – Nàng nóng đít. Ðương nhiên bức tranh này được thực hiện trong thời kì Duchamp theo chủ nghĩa Dada, nó trở thành một số ít khẩu hiệu thành công, tuy thế tôi nghĩ CUL8R có thể cũng trở thành một hình thức diễn tả nào đó.
Như thế ông chờ đợi một sự thay đổi về qui tắc viết?
Tại sao không? Một khi tôi khám phá ra nó, một khi vài người bạn cho tôi biết nó, tôi sẽ dùng nó trong những lá thư tôi viết. Tại sao không? Ðiều này cũng có thể thay đổi kiểu viết thư của nhiều người. Nhưng đối với tôi, đây là vấn đề thông thuờng, rất nhiều những đổi mới kĩ thuật rồi sẽ tạo ra những thay đổi. Chẳng hạn như trong những quyển sách ở thế kỉ XVI, lần đầu tiên người ta tìm cách khai triển phương cách bảo vệ tác quyền. Nó được gọi là: privilège du roi (đặc quyền của nhà vua). Ðó là một trang viết nói về việc nhà vua đã quyết định không ai có thể dùng những gì viết trong đó nếu không được cho phép. Ngày nay chúng ta làm thế này:
(Eco nguệch ngoạc lên đôi nét rồi đưa cho tôi xem.)
Đúng, copyright (©), chính thế.
Ngày nay, thế là đủ. Chúng ta đã thấy không ích gì phải có cả trang để nói về “privilège du roi” trong lúc chúng ta có một cái ngắn gọn cùng ý nghĩa. Cho nên, không phải là một cái gì đó hoàn toàn mới. Mỗi kĩ thuật mới sẽ dẫn đến những cách diễn tả mới.
Hoặc ngay cả những qui tắc mới?
… những qui tắc mà ban đầu có thể gây sợ hãi cho giới kinh viện già nua, giới có thể cho rằng: à, ngôn ngữ của các bạn đang bị suy đồi! Nhưng rồi chúng sẽ…
Ðược chấp nhận và mang chức năng trong một chiều hướng mới…?
… và độc lập. Trong những năm 60, tất cả những thư từ tôi nhận từ Mĩ cuối cùng thường có lời chào “love”, từ này lúc ấy không còn mang tính cách hoa tình – những nội dung tính dục vốn dĩ của nó. Như bạn biết đấy, tôi có thể viết “love”, tại sao không?
Hoà bình và tình yêu?
Ðúng vậy, một khi bạn chấp nhận tập quán mới, nó trở thành bình thường. Giờ đây tôi thấy từ này đã biến mất. Lần đầu nhận được lá thư của một nguời bạn không có chữ đó, tôi tự hỏi: à, hay là anh ta thành người đồng tính luyến ái rồi? Không, dĩ nhiên là không phải vậy.
Trong bài viết của ông ở hội nghị San Marino về tương lai của sách, ông nhắc đến Rube Goldberg.
Tôi nhắc đến Rube Goldberg vì có người nào đó trong hội nghị nói đến ông ta, cho nên đó không phải là một ý kiến của tôi nhưng lấy từ sự khơi gợi của người khác.
Nhưng ông cho rằng một mô hình Rube Goldberg đối với ông là một mẫu điện tử siêu hình (metaphysical template) duy nhất đối với tương lai điện tử của chúng ta, và có vẻ rất thú vị. Mẫu điện tử siêu hình là một loại…?
Nếu tôi không lầm, hội nghị viên ấy còn trích dẫn Goldberg như một kiệt tác cắt dán. Nếu tách riêng sự kiện này ra trong bài viết của tôi mà không tham khảo những lần nói về nó trước đó thì không thể hiểu được. Không, điều tôi muốn nhấn mạnh, và điều có thể quan trọng đối với loại tạp chí này, là việc người ta thấy cùng lúc có hai vấn đề: vấn đề thứ nhất không đáng bàn cãi, vấn đề thứ hai nếu bàn cãi thì có hại. Vấn đề không đáng bàn cãi là câu hỏi không biết CD-ROM sẽ xoá bỏ sách hay không? Thật sự đây là câu hỏi ngớ ngẩn, chẳng đáng bận tâm.
Vấn đề này liên quan với ý tưởng “ceci tuera cela” – cái này sẽ giết cái kia?
Ðúng vậy, bởi vì tôi đã lặp đi lặp lại nhiều lần. Trên lưng một con lạc đà đi trong sa mạc, bạn có thể mang theo một quyển sách, không phải một máy vi tính.
Nhưng, hôm nay chúng ta có thể mang một máy vi tính.
Chắc chắn vậy, nhưng vẫn luôn luôn tiện lợi hơn khi bạn nằm trong một túp lều với một quyển sách, bạn có thể làm thế này thế nọ…
(Eco lấy một tờ báo trên mặt bàn, ngồi dựa vào thành ghế, mở toang trang báo ra trước mặt.)
Bạn không cần một chỗ cắm, cũng không cần đến một loại pin phát điện bất tận. Thứ hai, bởi vì có những loại kinh nghiệm đọc chỉ có được với sách. Tôi không tin người ta có thể đọc Homer trên máy vi tính. Nhưng sách có thể được chia làm hai loại: sách để đọc và sách để tham khảo. Tất cả những sách tham khảo có thể thay thế bằng CD-ROM. Một bàn viết trong tương lai tuyệt đối cần được gắn hai loại máy vi tính. Một có cấu hình nhỏ dùng cho việc viết lách, và một cấu hình có bộ nhớ lớn để chứa các bộ bách khoa, các bộ tự điển và các loại sách bạn cần để tham khảo. Bạn không thể làm chuyện đó với một máy đơn lẻ. Nếu bạn đang viết, bạn không thể lúc nào cũng dừng lại để mở một cơ sở dữ liệu, hoặc để tra khảo một tự điển. Mỗi hoạt động như thế đòi hỏi nhiều thao tác và thì giờ. Với hai máy vi tính, tất cả những tủ sách đàng kia…
(Eco chỉ những kệ sách dọc theo tường.)
… có thể biến mất.
Tất cả những tác phẩm dùng để tham khảo?
Tất cả những tác phẩm tham khảo, đúng vậy. Sẽ rẻ tiền hơn. Tôi đã tính giá của một khoảng tường dựa trên đơn vị diện tích sàn nhà – không phải trong trung tâm Milano, cũng không phải ở ngoại ô – và giá của những tủ sách làm bằng thứ gỗ khiêm nhường chứ không phải loại gỗ tốt. Tôi khám phá ra rằng mỗi một cuốn sách vô tích sự mà tôi nhận đuợc, giá thành là 100 đô-la.
Tính bằng không gian.
Tính bằng không gian.
Ðó là chưa kể đến khía cạnh môi trường – đến rừng v.v…
Ðúng vậy, chưa kể đến rừng… trung bình mỗi ngày tôi nhận được 10 quyển sách miễn phí. Thật là một phí tổn nặng nề cho tôi. Hiện tại tôi có một căn hộ diện tích 500 mét vuông, tôi không thể tiếp tục dọn nhà 5 năm một lần để chứa đủ những quyển sách tôi có. Nếu tôi có thể loại trừ tất cả những bộ bách khoa và những bộ tự điển v.v… thì vấn đề sẽ được giải quyết. Và nếu nó là điều tiện lợi cho tôi thì chắc chắn nó cũng là điều tiện lợi cho một người nào đó sống trong một căn hộ nhỏ. Tất cả những quyển sách tham khảo sẽ được loại trừ. Chỉ còn lại các loại sách khác.
Chức năng của sách tham khảo được điện toán hoá sẽ là một trong những khuyến khích khiến tôi đi tìm những quyển sách in trên giấy, và dùng chúng như những quyển sách in trên giấy, đó là tất cả vấn đề. Tôi rất lạc quan về điểm này. Tôi không tin rằng bạn sẽ mua một đĩa thơ mới, nếu không vì lí do thông tin, hoặc vì lí do cần phải nhanh chóng có nó. Sách, dù cho in bằng thứ giấy tồi nhất thế giới, vẫn giữ lâu hơn những hệ thống cung cấp bởi từ trường, ít nhất là cho đến bây giờ.
Vấn đề thứ hai là về sự không tưởng của siêu văn bản, trong bài viết ở hội nghị San Marino tôi đã giải thích sự lầm lẫn giữa siêu hệ thống và siêu văn bản. Siêu hệ thống là một cách tân vĩ đại. CD-ROM của tôi là một siêu hệ thống. Nhưng còn về siêu văn bản: tôi không cần sự cung cấp từ trường để soạn lại Ulysses đúng như tôi muốn. Tôi làm chuyện đó với một quyển sách. Khi đọc Joyce, tôi không làm điều gì khác là: thay đổi rồi dời chuyển rồi quay ngược lại. Cho nên ý tưởng về việc tôi có thể dùng một siêu văn bản để soạn lại thành 10 tiểu thuyết khác nhau là một ý tưởng ngớ ngẩn, ngớ ngẩn như Dungeons and Dragons (Ngục tối và Rồng, vài trò chơi điện tử khá phổ biến) hoặc đại loại theo kiểu ấy. Nó có thể là một trò chơi.
Ở Pháp vào cuối những năm 50, có một người tên Saporta sáng chế ra một loại sách dời đổi được. Ý tưởng này đã từng có ở Mallarmé. Ý tưởng về một loại sách dời đổi được là một loại ẩn dụ về sự vô hạn của sự đọc. Nếu bạn muốn, đó là một thứ ẩn dụ cho giải cấu trúc (deconstruction). Ngược lại, Saporta chế ra một loại sách trong đó bạn có thể trộn lẫn…
Giáo sư muốn nói người ta có thể thêm thắt những sự việc vào đó?
… trộn lẫn các trang và câu chuyện sẽ thay đổi.
Một loại sách với những trang giấy rời?
Ðúng vậy, nếu bạn ngại rằng ngay cả trong một CD-ROM những nối kết đã được tác giả ấn định trước, thì đấy, ngay cả Saporta đã ấn định trước những khả năng của câu chuyện.
Tất cả là một vũ trụ có hạn, đúng là như vậy.
Ðọc Shakespeare, rồi ngồi mộng tưởng, mơ Hamlet kết hôn cùng Juliet chắc không làm người ta thấy thú vị hơn, cho nên siêu văn bản chỉ là một loại trò chơi về văn bản. Siêu hệ thống chính là tương lai. Siêu-văn bản có thể có mục đích giáo dục: cố gắng hoà trộn những sự việc, tìm tòi những khả năng mới. Ðó là những khả năng có thể làm, nhưng nó không phải là một cuộc cách mạng trong văn học hoặc thơ ca.
Ông không tin điều đó?
Không, tôi không tin như vậy. Một khi bạn có những gì bạn có trong sách in trên giấy, với Joyce hoặc Mallarmé, bạn không cần siêu văn bản để có một cách đọc mang kết thúc mở trong văn học.
Giáo sư nhắc đến Dungeons và Dragons. Những không gian ảo đa dụng trong đó nhiều người có thể dự phần vào những đối thoại viết cùng một lúc. Họ có thể tạo ra những phòng trống, họ có thể đảm nhiệm những nhân vật có tính cách, họ có thể tương tác với nhau trong những cách thức mà không gian vật lí không thể cho phép. Finn Bostad, một đồng nghiệp của tôi, nói rằng vài học sinh của anh ta đã tiêu nhiều thì giờ trong trường hoạt động này. Ðối với một số người, việc này như việc ứng diễn một tiểu thuyết cùng một lúc với việc người ta viết nó.
Một trò chơi hay.
Giáo sư có nghĩ là nó sẽ dẫn đến những thể loại văn học mới?
Tôi đã dùng một loại siêu văn bản tưởng tượng trong 30 năm qua. Nó được gọi là Scrabble (trò chơi đô-mi-nô đoán ráp chữ). Hình như với Scrabble bạn có thể soạn ra bất cứ nối kết chồng chéo nào, bất cứ phối hợp cú pháp nào thì phải. Ðây là một trò chơi hay, nó có thể có những mục tiêu giáo dục. Ðôi khi vợ tôi, người có sinh ngữ Ðức, học tiếng Anh một phần qua Scrabble. Ðôi khi chúng tôi chơi Scrabble bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Tuy nhiên, nếu bạn là nhà thơ, bạn có đầu óc Scrabble. Bạn không cần một cái bảng để làm điều ấy. Tôi nghĩ những trò chơi đại loại theo kiểu đó đều có ích. Chúng có thể rất thú vị khi chơi. Cho nên, tôi xin nhắc lại: chúng có thể được dùng để giáo dục trong việc khám phá và soạn thảo, nhưng theo tôi chúng chẳng dính dáng gì đến tương lai của văn học.
Có thể tôi là một con khủng long: tôi vẫn đang sống rất sung sướng trong thế giới sách cổ, và có lẽ tôi sẽ từ giã cõi đời trước lúc cảnh tượng hoàn toàn thay đổi. Tôi giữ thái độ mở rộng trước những khả năng phát triển của tất cả những viễn cảnh ấy. Với những kĩ thuật mới nhất hiện nay, nếu phải cá cược với tất cả số tiền tôi có trong túi, tôi sẽ đặt nhiều tiền trên siêu hệ thống hơn là trên siêu văn bản. Ðây là một cuộc đánh cược cá nhân.
Giáo sư đã xem những quyển sách siêu văn bản, chẳng hạn như của Jay Bolter và của Michael Joyce chưa? Về căn bản họ đã tạo ra một hệ thống siêu văn bản nơi người ta có thể nhập cuộc, và ở đó có rất nhiều văn bản mà người ta có thể khám phá qua những cách nối kết khác nhau.
Có, tôi có đọc về chúng… nhưng tôi chưa thử. Tôi biết vị trí của tôi có thể giống như của Cremonini, một giáo sư luận lí, siêu hình học và thiên văn học lớn cùng thời với Galileo. Khi người ta mang cho ông một cái ống nhòm của Galileo, ông nói: tôi không muốn nhìn vào nó, bởi vì tôi có thể làm lẫn lộn tư tưởng của tôi. Như vậy, vị giáo sư đáng thương của chúng ta trở thành một biểu tượng của sự hẹp hòi hàn lâm, từ chối thử nghiệm một phát minh mới. Rồi sau đó, khi bạn đọc một quyển sách nghiêm túc của Cremonini, bạn sẽ khám phá ra ông là một đầu óc lớn của thời ấy, dù ông không phải là một nhà cách tân như Gallileo, và cũng không phải sự thật ông không muốn nhìn vào chiếc ống nhòm. Ông chỉ nói rằng: ở tình trạng kĩ thuật hiện tại, những ống kính ấy vẫn còn rất thô sơ, cho nên tôi không nghĩ rằng nó thực sự giúp tôi có được những gì mới lạ hơn.”
Ðây là một quan sát phê phán về trình độ kĩ thuật mới nhất. Cho nên, điều tôi làm bây giờ có lẽ là một lời tuyên bố cho rằng chúng ta vẫn đang ở trong thời kì sơ khai của một trình độ kĩ thuật tiên tiến. Cho tới đây, tôi vẫn chưa đả động đến hiện thực ảo. Bởi vì chỉ tới lúc người ta có khả năng làm tình với Marilyn Monroe; chỉ tới lúc quần áo của nàng bắt đầu phấp phới bay đi – đấy, vào lúc ấy tôi sẽ thử! Nhưng cho tới lúc nàng Marilyn Monroe vẫn còn là một phác thảo và tôi chỉ có thể có những cảm giác thật sự ở nơi khác, thì trình độ mới nhất của kĩ thuật vẫn còn ở thời kì sơ khai, tôi phải chờ thêm, đó là tất cả những điều tôi muốn nói! Nếu bạn tặng tôi khả năng này sớm, và tốt hơn nữa, nếu được tặng vào tuổi 80, tôi sẽ rất hồ hởi về phát minh mới ấy, tôi sẽ trở thành một người ủng hộ cuồng tín!
Tôi nghĩ, chỗ này tôi đồng ý với giáo sư. Vẫn còn đó một vấn đề cơ bản là vấn đề chất lượng. Chất lượng của kinh nghiệm còn rất giới hạn, và chính kĩ thuật là cái gây hại cho chất lượng đó…?
Không sao; tôi cho rằng hãy cứ sóng buớc cùng nó! Nhưng đây cũng là điểm tại sao tôi có cảm tưởng nó có ích cho mục tiêu giáo dục và học tập hơn là cung cấp những kinh nghiệm thẩm mĩ thực sự mới. Dù rằng bạn tôi, Nanni Balestrini, một trong những nhà thơ và nhà viết tiểu thuyết trong phong trào tân tiền phong của những năm 60 đã sáng tác một bài thơ bằng sự kết hợp với máy vi tính.
Một loại hình nghệ thuật – nghệ thuật sản sinh từ máy vi tính (computer art)?
Ðúng như vậy, một điều gì đó như hàng tỉ bài thơ của Queneau. Cho nên những kinh nghiệm ấy đã thực sự hiện hữu. Tôi có ấn bản Chinosura Lucensis lần thứ nhất của một vị thày dòng thế kỉ thứ XVII, người đã sáng tạo ra một loại đồ hình nhiều bánh xe như cuả Ramon Llull,. Bằng cách thức này, vị thày dòng có thể soạn ra vài triệu bài thơ về Ðức Mẹ Ðồng Trinh. Ðây là một ý tưởng cũ, một sự không tưởng cũ. Ðôi khi nó đã thực sự giúp cho sự sáng tác. Nó không có gì sai lạc, nhưng có lẽ kết quả cuối cùng phải là một đối tượng có thể dời đổi được bằng đầu óc chứ không phải bằng những ngón tay, nếu không chúng ta sẽ bị mất đi một cái gì đó.
Ðúng như thế. Ðiều này đưa chúng ta trở lại vấn đề liên hệ chung giữa những máy vi tính và làm cách nào để chúng ta tương tác với chúng? Tôi nghĩ đây là vấn đề của những máy vi tính ngày hôm nay, chúng cho chúng ta những kinh nghiệm kiểu khác. Thử lấy thí dụ việc viết lách. Khi viết với một cái bút, người ta di chuyển theo một cách, người ta luôn luôn có một sự phản hồi nhất định trong lúc viết. Trên những máy điện toán người ta làm tất cả chuyện ấy trên những nút nhấn.
Như một nhà văn, tôi khám phá ra rằng có những điều tôi cần đến cái bút, có những điều tôi cần đến máy vi tính, và có những điều tôi cần một cái bút mực. Và dụng cụ tôi dùng để viết đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác phẩm của tôi.
Dụng cụ ông sử dụng?
Thật vậy, khi tôi nghĩ về điều ấy, loại lao động này…
(Eco lấy một cuốn sổ tay và nguệch ngoạc trên đó.)
… rất quan trọng. Ðây là điều rất mới khiến người ta thực sự chưa hiểu những sự khác biệt của nó. Tôi không biết…
Vậy thì bây giờ chúng ta có những hệ thống dựa trên cách viết bằng bút?
Bạn đã đọc Foucault’s Pendulum (Quả lắc của Foucault) của tôi. Ở một trong những hồ sơ đầu tiên, Bellbo nói sáng tạo là biết bao tâm linh. Cho nên, có một huyền thoại Metropolitan cho rằng những tiểu thuyết của tôi được viết bằng máy điện toán, họ không để ý là Tên của hoa hồng (Il nome della rosa) được xuất bản năm 1980, và một lập trình xử lí chữ (word-processors) đầu tiên thực sự tốt chỉ mới có vào năm 1982-83. Vì vậy nó không thể được viết trên máy vi tính.
Vậy thì nó được viết bằng máy đánh chữ, hay là…?
Bằng máy đánh chữ, viết tay. Nhưng đối với tác phẩm Pendulum, nó cũng nói về máy tính, mấy anh nhà báo ngờ nghệch cãi rằng: quyển sách của ông được pha chế từ máy vi tính. Họ tin rằng tôi cho một số từ vào máy và zzzaapp: máy sẽ tạo ra quyển sách. Một trong những nhà báo nói rằng: “Ðúng rồi, rõ ràng rằng cái này do máy điện toán viết, trừ một chương. Trong đó có cậu bé chơi kèn trompet trong nghĩa địa (chương cuối cùng). Chương này rõ ràng được viết tay”. Ðó chính là chương duy nhất của tác phẩm tôi viết một mạch, không sửa chữa gì tại máy vi tính! Tất cả những chương khác đều được viết tay!
Rồi được gộp chung lại, phải không?
Gộp chung trong nhiều cách. Tại sao? Bởi vì tôi đã có chương cuối cùng này ngay từ lúc khởi đầu. Và tôi đã suy nghĩ về nó trong 8 năm trời, mãnh liệt đến nỗi khi tôi tới chỗ này – tôi còn nhớ rõ, lúc ấy là 6 giờ chiều trong căn hộ của tôi – như thể đang chơi piano và như thể một nhạc sĩ jazz: tôi đã viết một cách dễ dàng tại máy vi tính, nghe theo những gì có trong đầu và chỉ sửa chữa dọc theo dòng suy nghĩ. Nó được viết một mạch tại máy…, hoặc có thể nói, nó hoàn thành nhờ có hứng khởi.
Người ta vẫn còn có những cái nhìn huyền thoại về máy móc. Rồi có một sự sản xuất huyền thoại giả tạo có mục đích. Những nhà báo dùng máy vi tính hằng ngày là những người đặt những câu hỏi ngây ngô về chúng, và ra vẻ như thấy một loại máy sáng chế bí mật nào đó. Họ biết rằng đây không phải là sự thật. Nhưng khi họ đặt những câu hỏi, họ tìm cách làm chúng trở thành những câu hỏi của một độc giả ngây ngô nhất. Một trò chơi dở. Cho nên nhà báo, người biết một cách chính xác là chiếc máy vi tính được sáng chế ra không phải cho ông ta hoặc bà ta, là người góp phần trong việc truyền bá huyền thoại Metropolitan, lời đồn đại giả tạo về sự thông minh ngoại hạng của máy vi tính.
Tôi vừa nghĩ đến quyển sách giáo sư mới xuất bản: “Sáu cuộc dạo chơi trong khu rừng hư cấu” (Six walks in the Fictional Woods). Bài viết cuối là bài rất hay. Những giây phút cuối người ta được dắt vào một loại cung thiên văn (planetarium)…
Ờ! đúng như thế, cung thiên văn.
… nơi bạn kinh nghiệm được giây phút bạn chào đời. Ðúng vậy, đây là loại kinh nghiệm về một thứ hiện thực ảo, có phải thế không?
Ðúng như thế, và nó thực sự được máy vi tính sửa soạn, bởi vì chỉ có máy vi tính mới có thể tạo ra bầu trời đêm hôm ấy.
Nhưng quả thực giáo sư có nghĩ đó là một kinh nghiệm sâu sắc cho riêng mình?
Ðúng vậy, nó làm tôi rất xúc động, và có thể đượm đôi chút tính tự say mê mình.
Ðặc biệt, có lẽ đó cũng là một loại biểu dương tình yêu từ những con người, theo nghĩa họ đã chịu mọi vất vả phiền hà để thể hiện nó?
Ðúng vậy, đó là một biểu hiện của tình yêu từ phía họ, nhưng cũng có một không khí, vì tôi cùng vợ tôi – dù đây không phải đêm của vợ tôi – nhưng vợ tôi cũng có cùng ấn tượng, cũng như xúc động trước sự huyền diệu của kinh nghiệm. Cho nên với riêng tôi, kinh nghiệm có thể là một biểu hiện tự yêu mình, nhưng với vợ tôi, nó thực sự là cảm xúc, một ấn tượng về điều gì đó đã xảy ra 60 năm trước.
Một cách trải nghiệm quá khứ?
Ðúng vậy, một kinh nghiệm tuyệt diệu.
Vậy thì bằng phương tiện kĩ thuật, quả thực người ta có thể tạo ra một sự giả cách (simulation) thực đến nỗi có thể gây tác động sâu sắc trên con người?
Chắc chắn như vậy, bạn có thể cảm thụ Beethoven trên một đĩa com-pác nhiều hơn một đĩa 78 vòng… và có khi còn hay hơn trong một nhà hát nhỏ với một dàn nhạc gồm những “nhạc cụ quí hiếm”. Cho nên tôi tuyệt đối… À này! tôi là một người chơi sáo ba-rốc (recorder), và bây giờ những chiếc sáo nhựa của Nhật đã đạt độ tinh vi đến mức – dĩ nhiên người ta vẫn có thể có một cái sáo chất lượng cao cấp giá 5000 đô la, sản phẩm của một nghệ nhân hàng đầu – nếu người ta so sánh một chiếc sáo nhựa và một chiếc sáo bình thường làm bằng gỗ, chiếc sáo nhựa giữ chất lượng âm thanh của nó, nó không bị ảnh hưởng của nhiệt độ và độ ẩm. Có thể nó không thích hợp cho người độc tấu, nhưng chắc chắn nó rất thích hợp cho chơi nhóm hoặc chơi với dàn nhạc, không có gì phải phản bác.
Tháng Hai 1995
Bản tiếng Việt © 2006 talawas