José Saramago
José Saramago sinh năm 1922 tại Azinhaga, Bồ Đào Nha, trong một gia đình lao động và từ nhỏ phải bỏ học để kiếm sống. Năm 1969, ông gia nhập đảng Cộng sản Bồ Đào Nha, lúc đó bị cấm trong thời quân phiệt, nhưng ông cũng chỉ trích đảng không nhân nhượng.
Tác phẩm của ông đầy chất huyền thoại và đa nghĩa trớ trêu. Văn ông mang một phong cách riêng, siêu thực và ẩn dụ, gợi lại cổ tích qua cách nhìn độc đáo về lịch sử, xã hội và con người. Mãi đến năm 60 tuổi ông mới được nhiều người biết đến qua tác phẩm Baltasar and Blimuda. Tiểu thuyết gây nhiều tranh cãi nhất của ông là The Gospel According to Jesus Christ, bị thứ trưởng ngoại giao Bồ Đào Nha loại khỏi danh sách các tác phẩm tranh giải văn chương Âu châu.
Ông nhận giải Nobel Văn chương năm 1998. Một số truyện của ông gồm có: Manual of Painting and Calligraphy: a Novel (1977), Baltasar and Blimunda (1982), The Year of the Death of Ricardo Reis (1984), The Stone Raft (1986), The History of the Siege of Lisbon (1989), The Gospel According to Jesus Christ (1991), Blindness (1995), All the Names (1995).
Chuyện Hòn Đảo Vô Danh (O Conto da Ilha Desconhecida) dịch lại từ bản tiếng Anh, The Tale of the Unknown Island, của Margaret Jull Costa, do nhà xuất bản Harcourt Brace & Company ấn hành năm 1999 tại New York.
Người đàn ông đến gõ cửa ông vua và nói, Cho tôi một chiếc thuyền. Nhà của ông vua có nhiều cửa khác, nhưng cánh cửa này để đưa thỉnh nguyện. Vì nhà vua ngồi cả ngày ở cánh cửa ân huệ (bạn hiểu đấy, ân huệ dâng lên nhà vua), mỗi khi nghe ai gõ cánh cửa thỉnh nguyện, ông sẽ giả vờ không nghe, và chỉ khi nào tiếng đập của cái núm gõ bằng đồng trở nên chẳng những điếc tai, mà còn cực kỳ chướng, quấy nhiễu sự yên tĩnh của hàng xóm (thiên hạ bắt đầu càu nhàu, Vua chúa gì lão ấy nếu thậm chí lão không thèm mở cửa), chỉ khi đó ông mới ra lịnh cho viên bí thư thứ nhất đi xem người kêu xin muốn gì, vì dường như không có cách nào làm hắn im được. Rồi viên bí thư thứ nhất sẽ gọi viên bí thư thứ hai, gã sẽ gọi viên bí thư thứ ba, tay này sẽ ra lịnh cho phụ tá thứ nhất, và cứ như thế xuống đến tận chị lau nhà, chị này không còn ai để truyền lịnh sẽ mở hé cửa hỏi qua khe, Nhà ngươi muốn gì. Người kêu xin kể việc mình, gã sẽ yêu cầu điều gã đến để yêu cầu, rồi gã sẽ đợi bên cửa để lời cầu xin của gã đi ngược lên, hết người này đến người khác, tới nhà vua. Nhà vua như thường lệ bận rộn với những ân huệ dâng tới mình, sẽ cần rất nhiều thì giờ mới đáp lời, và quan tâm của ông đối với hạnh phúc và an sinh của thần dân không phải là chuyện nhỏ, cuối cùng ông sẽ quyết định hỏi ý kiến có thẩm quyền của viên bí thư thứ nhất bằng văn thư, viên bí thư thứ nhất, chẳng cần phải nói, sẽ chuyển lịnh xuống viên bí thư thứ hai, gã sẽ chuyển tới viên bí thư thứ ba, và cứ như thế một lần nữa xuống tới chị lau nhà, chị này sẽ trả lời có hay không tùy theo tâm trạng lúc đó của mình.
Tuy nhiên, trong trường hợp của người đàn ông muốn chiếc thuyền, chuyện này không xảy ra hoàn toàn như vậy. Khi chị lau nhà hỏi anh ta qua khe cửa, Nhà ngươi muốn gì, anh ta không như kẻ khác, chẳng xin chức tước, huy chương, hay tiền bạc gì, và nói, Tôi muốn nói chuyện với vua. Chị ta trả lời, Nhà ngươi biết rõ ràng ràng rằng nhà vua không đến được, ngài bận bên cửa ân huệ. Anh ta bảo, Ôi dào, đi bảo ông ấy là tôi sẽ không rời khỏi chỗ này cho đến khi ông ấy đích thân đến xem tôi muốn gì, và anh ta nằm xuống chắn ngang ngưỡng cửa, đắp lên mình tấm chăn cho khỏi lạnh. Ai muốn đi vào đi ra phải bước qua anh ta trước. Bây giờ chuyện này đặt thành vấn đề lớn, vì bạn phải biết rằng theo nghi lễ điều hành, các cánh cửa chỉ giải quyết mỗi lần một người xin, nghĩa là khi nào có một kẻ đang đợi trả lờI thì không ai khác được tiến tới thổ lộ yêu cầu hoặc tham vọng của mình. Mới thoạt nhìn dường như người có lợi nhất nhờ điều khoản này là nhà vua, càng ít kẻ quấy rầy ông ta với đủ thứ chuyện rầy rà, ông càng có nhiều thì giờ, không bị làm phiền, đón nhận, thưởng thức và tích lũy ân huệ. Tuy nhiên, xét kỹ lại sẽ thấy nhà vua thật đúng là kẻ thua cuộc, vì khi thiên hạ thấy đợi trả lời lâu quá đáng, các cuộc phản đối hệ lụy công khai sẽ làm gia tăng nghiêm trọng rối loạn xã hội, và từ đó tức khắc dẫn đến hậu quả xấu tới luồng ân huệ dâng lên nhà vua. Trong trường hợp đặc thù này, sau ba ngày suy xét lợi hại, nhà vua đích thân tới cánh cửa xin thỉnh nguyện xem hắn muốn gì, cái gã quấy rối này không chịu để lời cầu xin của gã đi theo đúng hệ thống hành chính. Nhà vua bảo chị lau nhà, Mở cửa, chị ta nói, Mở toang hay chỉ hé một tị. Nhà vua thoáng lưỡng lự, thật ra ông chả thiết phô mình ra đường lắm, nhưng rồi ông ngẫm nghĩ, đường đường một đấng như mình mà nói chuyện với tên thần dân qua khe cửa thì coi không được, không xứng đáng, như thể mình sợ nó, nhất là có người khác nghe chuyện, một chị lau nhà sẽ lập tức đi kể hết đầu cua tai nheo hầm bà lằng các cái. Ông ra lịnh, Mở toang. Khi nghe tiếng rút chốt cửa, người đàn ông xin chiếc thuyền đứng ngay dậy nơi bực sát cánh cửa, gấp chăn và chờ đợi. Dấu hiệu này có nghĩa là rốt cuộc có người giải quyết vấn đề, cũng có nghĩa là do đó chỗ bên cánh cửa sẽ sớm được trống, làm cho nhiều kẻ đang khao khát nhận tấm lòng quảng đại của nhà vua đứng quanh gần đó sẵn sàng dành ngay khi trống chỗ. Nhà vua đến bất ngờ (một chuyện chưa từng xảy ra từ khi ngài đăng quang) gây ngạc nhiên vô cùng, không những trong số những kẻ vừa kể trên, mà cả bọn người sống bên kia đường chú ý vì cảnh náo loạn, nên họ nhoài người qua cửa sổ nhìn. Kẻ duy nhất chả có chút gì ngạc nhiên là người đàn ông đến xin chiếc thuyền. Hắn đã tính toán, và tiên đoán của hắn đúng, nhà vua mặc dù mất ba ngày cũng phải tò mò xem mặt cái đứa chẳng có lý do rõ ràng nào và cả gan phi thường đã dám xin ngài tiếp kiến. Do đó, giằng co giữa lòng tò mò không cưỡng được và chuyện bực mình phải thấy nhiều người tụ tập cùng một lúc, nhà vua rất ư bực bội tung ra ba câu hỏi liên tiếp, Nhà ngươi muốn gì, Tại sao nhà ngươi không nói thẳng ra nhà ngươi muốn gì, Bộ nhà ngươi nghĩ ta không có chuyện gì làm hay hơn sao. Nhưng người đàn ông chỉ trả lời câu hỏi đầu tiên, hắn nói, Cho tôi một chiếc thuyền. Nhà vua sửng sốt tới nỗi chị lau nhà vội vàng đưa ngài cái ghế có đệm rơm mà chị ta vẫn ngồi khi khâu vá, vì ngoài việc lau nhà chị cũng chịu trách nhiệm những chuyện vá víu lắt nhắt trong cung điện, chẳng hạn như mạng vớ của thằng nhỏ sai vặt. Hơi lúng túng vì cái ghế thấp hơn ngai vàng của mình nhiều, nhà vua cố tìm cách tốt nhất thu xếp chân mình, trước tiên kéo chân vào, rồi banh ra hai bên, trong khi đó người đàn ông xin chiếc thuyền kiên nhẫn chờ đợi câu hỏi kế tiếp, Và ta muốn biết ngươi xin chiếc thuyền này làm gì, thật vậy đó đúng là câu nhà vua hỏi khi ngài rốt cuộc xoay xở ngồi được trong một tư thế tạm thoải mái trên cái ghế của chị lau nhà. Người đàn ông đáp, Để đi tìm hòn đảo vô danh. Nhà vua nén cười như thể trước mặt ngài là một trong những gã điên hết cỡ bị ám ảnh về các chuyến hải trình mình chả nên gặp, ít nhất là tận mặt, và hỏi, Hòn đảo vô danh nào. Người đàn ông lại nói, Hòn đảo vô danh. Vớ vẩn, chẳng còn hòn đảo vô danh nào cả, Ai bảo ngài không còn hòn đảo vô danh nào cả, Trên bản đồ có hết rồi, Bản đồ chỉ có các hòn đảo đã biết thôi, Vậy cái hòn đảo vô danh này nhà ngươi muốn đi tìm là gì, Nếu tôi có thể nói cho ngài thì hết vô danh rồi còn chi, Ngươi nghe ai nói về nó, nhà vua hỏi, lúc này nghiêm nghị hơn, Không, chẳng ai cả, Như vậy tại sao nhà ngươi cứ khăng khăng bảo nó có, Chỉ vì không thể nào không có một hòn đảo vô danh cả, Và ngươi đến đây xin ta một chiếc thuyền, Vâng, tôi đến đây xin ông một chiếc thuyền, Vậy ngươi là ai mà ta phải cho thuyền, Vậy ông là ai mà từ chối tôi, Ta là vua của vương quốc này, và tất cả thuyền bè trong vương quốc thuộc về ta, Ông thuộc về chúng nhiều hơn chúng thuộc về ông, Ngươi muốn nói gì, nhà vua bực bội hỏi, Tôi muốn nói không có thuyền ông chả là gì cả, ngược lại, không có ông, chúng vẫn có thể giương buồm, Dưới lịnh ta, với thuyền trưởng và thủy thủ của ta, Nhưng tôi không xin thủy thủ hay thuyền trưởng, tôi chỉ xin một chiếc thuyền, Còn cái hòn đảo vô danh này thì sao, nếu ngươi tìm được, nó sẽ thuộc về ta chứ, Ngài chỉ muốn những hòn đảo đã biết mà thôi, Và cả những đảo vô danh nữa, một khi biết rồi, Có lẽ đảo này sẽ không để cho ai biết tới nó, Vậy ta sẽ không cho ngươi thuyền, Ông sẽ cho. Nghe những lời quả quyết điềm tĩnh đó, lòng nôn nóng của bọn đến xin ở cửa ân huệ vốn đã tăng từ lúc cuộc đối thoại bắt đầu nay lại quyết định can thiệp cho thỉnh nguyện của người đàn ông, để tống khứ gã đi hơn là vì tình đoàn kết, vì thế họ khởi sự la lối, Cho hắn chiếc thuyền, cho hắn chiếc thuyền. Nhà vua mở miệng bảo chị lau nhà gọi lính gác cung điện tới tái lập trật tự và áp dụng kỷ luật, nhưng đúng lúc đó, người trên các cửa sổ dãy nhà đối diện đồng thanh hăng hái tham gia la lối cùng với họ, Cho hắn chiếc thuyền, cho hắn chiếc thuyền. Đương đầu với ước muốn dứt khoát của quần chúng và lo ngại mất dịp ở cánh cửa ân huệ, nhà vua giơ tay phải lên ra lịnh im lặng và nói, Ta sẽ cho ngươi chiếc thuyền, nhưng ngươi phải tự tìm thủy thủ đoàn, tất cả thủy thủ của ta đều cần cho các hòn đảo đã biết hết rồi. Tiếng hoan hô của đám đông chìm át lời cám ơn của người đàn ông, vả lại, nhìn cử động của đôi môi, cũng có thể gã nói, Cám ơn đại vương, hay, Đừng lo, tôi xoay xở được, nhưng mọi người đều nghe rõ sau đó nhà vua nói, Xuống cảng xin gặp trưởng bến tàu bảo hắn rằng ta gửi ngươi đến, hắn sẽ cho ngươi chiếc thuyền, mang tấm danh thiếp ta theo. Người đàn ông sắp được cho chiếc thuyền đọc tấm danh thiếp trên đó ghi chữ Đức Vua dưới tên nhà vua, và sau đây là lời nhà vua viết khi tựa tấm danh thiếp trên vai chị lau nhà, Cho người cầm danh thiếp một chiếc thuyền, không cần phải thuyền lớn, nhưng phải an toàn và đi biển được, Ta không muốn lương tâm cắn rứt nếu có chuyện không may xảy ra. Khi người đàn ông ngửng lên, lần này, bạn tưởng tượng coi, để nói lời cám ơn về tặng vật, nhà vua đã rút lui, chỉ còn chị lau nhà ở đó tư lự nhìn hắn. Người đàn ông rời cánh cửa, nghĩa là rốt cuộc kẻ khác có thể tiến tới, chả cần tả nhiều về sự hỗn độn sau đó, ai cũng cố tới cánh cửa trước kẻ khác, nhưng trời đất ơi, một lần nữa cánh cửa đóng lại. Họ lại đập núm gõ cửa bằng đồng để gọi chị lau nhà, nhưng chị lau nhà không ở đó, chị ta đã quay đi với xô nước và cái chổi qua cánh cửa khác, cánh cửa quyết định, vốn ít được dùng, nhưng mỗi khi dùng là dứt khoát. Bây giờ người ta có thể hiểu vẻ tư lự trên khuôn mặt chị lau nhà, vì ngay đúng boong vào lúc đó chị ta đã quyết định theo người đàn ông ra bến cảng nhận thuyền. Chị quyết định rằng chị đã chán ngấy cuộc đời lau chùi và kỳ cọ cung điện, rằng đã đến lúc đổi việc, rằng lau chùi và kỳ cọ thuyền bè là đúng nghề của chị, ít nhất trên biển chị sẽ chả bao giờ thiếu nước. Người đàn ông không biết rằng dù chưa khởi sự tuyển mộ thủy thủ đoàn, hắn đã có người theo sau để chịu trách nhiệm lau boong thuyền và những công việc chùi rửa khác, thực vậy, số mệnh luôn luôn như thế, theo ngay đằng sau chúng ta, vươn bàn tay chạm lấy vai chúng ta trong khi chúng ta vẫn lẩm bẩm với chính mình, Xong hết rồi, thế thôi, dù sao chăng nữa cũng chả cần.
Sau khi đi một quãng xa, người đàn ông đến bến cảng, xuống chỗ đậu tàu, xin gặp trưởng bến tàu, và trong khi chờ đợi tự hỏi chiếc thuyền nào đang bỏ neo ở đó sẽ thuộc về mình, hắn biết không phải là chiếc lớn, tấm danh thiếp của nhà vua rất rõ ràng về điểm đó, nghĩa là loại trừ tàu hơi nước, tàu chở hàng và tàu chiến, cũng chẳng phải chiếc quá nhỏ không chịu nổi gió thốc hay những cơn cuồng nộ của biển cả, nhà vua cũng minh bạch về điểm đó, Nó phải an toàn và đi biển được, chữ của ông ta viết đúng như vậy, vì thế hàm ý loại bỏ những chiếc thuyền chèo, sà lan và xuồng, những thứ tuy hoàn toàn đi biển được và an toàn, cách này hay cách khác chúng không phải làm ra để vượt đại dương đi tìm những hòn đảo vô danh. Cách một quãng ngắn, nấp sau mấy cái thùng, chị lau nhà đảo mắt nhìn những chiếc tàu đang bỏ neo, chị nghĩ, Mình thích chiếc đó, ý kiến của chị không tính, có ai mượn chị ta đâu, nhưng trước tiên hãy nghe trưởng bến tàu nói gì. Ông trưởng bến tàu đến, đọc tấm danh thiếp, nhìn người đàn ông từ trên xuống dưới, và hỏi câu nhà vua đã quên hỏi, Anh có biết thả buồm không, anh có giấy thuyền trưởng không, người đàn ông đáp, Tôi sẽ học ngoài biển. Trưởng bến tàu nói, Tôi khuyên anh không nên, chính tôi là thuyền trưởng đi biển và tôi chắc chắn sẽ không mạo hiểm ra biển trên chiếc tàu cũ nào, Vậy thì cho tôi chiếc nào có thể đi mạo hiểm được, không, không phải chiếc đó, chiếc nào tôi đánh giá cao và đánh giá tôi cao, Chưa là thủ thủ mà nói cứ như thủy thủ, Nếu tôi nói như thủy thủ thì tôi phải là thủy thủ. Ông trưởng bến tầu đọc lại tấm danh thiếp của nhà vua, rồi hỏi, Tại sao anh muốn một chiếc thuyền, Để đi tìm hòn đảo vô danh, Chả còn hòn đảo vô danh nào cả, Đúng cứ y như lời nhà vua nói với tôi, Mọi thứ ông ấy biết là nhờ tôi, Kỳ thật, ông là người của biển cả lại nói với tôi là không còn hòn đảo vô danh nào, tôi là người của đất liền nhưng tôi biết thậm chí những hòn đảo đã biết vẫn chưa được biết khi nào chúng ta chưa đặt chân lên, Nhưng theo tôi hiểu, anh đi tìm hòn đảo chưa ai đặt chân lên, Đúng, tới nơi rồi tôi sẽ biết, Nếu anh tới đó được, Ôi dào, thuyền bè có chiếc đắm dọc đường, nhưng nếu tôi bị đắm, ông phải ghi vào sổ bến cảng rằng tôi đã đến chỗ nọ chỗ kia, Anh muốn nói anh luôn luôn tới một điểm nào đó, Ông sẽ chẳng là mình nếu ông không biết như vậy. Trưởng bến tàu nói, Tôi sẽ cho anh chiếc tàu anh cần, Chiếc nào, Một chiếc rất từng trải, từ hồi mọi người còn ra khơi tìm những hòn đảo vô danh, Chiếc nào, Thật ra thậm chí chiếc có thể đã tìm thấy hòn đảo vô danh, Chiếc nào vậy, Chiếc đó. Ngay khi chị lau chùi thấy chỗ trưởng bến tàu chỉ, chị nhô ra khỏi đám thùng la lớn, Chiếc đó của tôi, chiếc đó của tôi, người ta nên tha thứ cho lời tuyên bố sở hữu bất thường và hoàn toàn không chính đáng của chị, chiếc thuyền tình cờ cũng đúng là chiếc chị thích. Người đàn ông nói, Nó giống chiếc thuyền buồm nhỏ. Trưởng bến tàu đồng ý, Thì cũng đúng, ban đầu nó là thuyền buồm nhỏ, rồi trải qua bao nhiêu sửa chữa và biến cải đã thay đổi chút ít, Nhưng nó vẫn là thuyền buồm nhỏ, Ừ, nó vẫn giữ nhiều đặc tính cũ của nó, Và nó có cột và buồm, Thì là cái anh cần để đi tìm những hòn đảo vô danh. Chị lau chùi không còn kìm mình được nữa, Cho tới giờ phút này, theo ý tôi, chiếc thuyền đó cho tôi. Người đàn ông hỏi, Chị là ai, Anh không nhớ tôi sao, Không, Tôi là người lau chùi, Lau chùi cái gì, Cung điện nhà vua, người đàn bà mở cửa thỉnh nguyện, Đúng người đó, Vậy tại sao cô không về cung điện nhà vua lau chùi và mở cửa, Vì các cánh cửa tôi thật tình muốn mở đã mở rồi, và vì từ nay tôi chỉ lau chùi thuyền bè thôi, Vậy cô muốn cùng tôi đi tìm hòn đảo vô danh, Tôi ra khỏi cung điện bằng cánh cửa quyết định, Nếu vậy hãy đi xem chiếc thuyền buồm nhỏ, sau bấy nhiêu lâu, nó cần phải rửa kỹ, nhưng coi chừng lũ hải âu, không tin được chúng đâu, Anh không muốn đi cùng tôi xem bên trong thuyền của anh như thế nào à, Cô bảo nó là thuyền của cô, Xin lỗi, tôi nói vậy chỉ vì tôi thích nó, Ưa thích có lẽ là hình thái sở hữu hay nhất, và sở hữu là hình thái ưa thích dở nhất. Trưởng bến cảng xen vào câu chuyện của họ, Tôi phải giao chìa khoá cho chủ chiếc thuyền, hai người ai là chủ, tùy theo hai người, tôi bất cần. Người đàn ông hỏi, Thuyền bè cũng có chìa khoá à, Không phải khoá để lên thuyền, không, nhưng là khoá chạn và tủ, và bàn thuyền trưởng đựng nhật ký hải hành, Tôi để hết mấy chuyện ấy cho cô ta, tôi sẽ đi tìm thủy thủ đoàn, người đàn ông nói và bước đi.
Chị lau chùi tới văn phòng trưởng bến cảng nhận chìa khoá, rồi lên thuyền, ở đó có hai thứ có ích cho chị, cây chổi cung điện và lời khuyến cáo về hải âu, chị vừa lên đến nửa tấm ván cầu nối liền hông thuyền và bến cảng thì lũ khốn khiếp phóng tới giận dữ kêu rít, há mỏ, như thể muốn ăn tươi nuốt sống chị tại chỗ. Chúng không biết đang giở trò với ai. Chị lau chùi đặt xô nước xuống, bỏ chìa khoá vào giữa ngực, đứng vững trên tấm ván cầu và quơ chổi quanh mình như thanh đao thời xưa, cố gắng xua đuổi đám sát nhân. Chỉ đến khi thực sự lên tàu chị mới hiểu sự giận dữ của bầy hải âu, tổ chim khắp nơi, nhiều tổ bỏ trống, nhiều tổ vẫn còn trứng trong đó, và vài cái có chim non đang há miệng đợi thức ăn. Chị nói, Được rồi, nhưng chúng bay phải dọn nhà, chiếc thuyền sắp giương buồm đi tìm hòn đảo vô danh không thể tách bến trông như chuồng gà được. Chị ném mấy cái tổ không xuống nước, nhưng tạm thời để nguyên những cái tổ kia. Rồi chị xăn tay áo khởi sự chùi boong. Khi xong công việc miệt mài này, chị đi mở hộc buồm và bắt đầu kiểm tra kỹ lưỡng các đường chỉ may buồm sau bấy nhiêu lâu không ra biển và không được lộng gió. Buồm là cơ bắp của con thuyền, bạn chỉ cần thấy chúng căng phồng trong gió thì biết, nhưng cũng giống như bắp thịt, nếu không cử động thường sẽ yếu đi, nhẽo nhèo, hết gân cốt. Và những đường chỉ may như gân cốt của tấm buồm, chị lau chùi suy nghĩ, vui mừng thấy mình học hỏi nghệ thuật hàng hải nhanh đến thế. Vài đường may bị sờn, chị đánh dấu kỹ lưỡng những chỗ này, vì kim chỉ chị dùng vừa mới hôm qua để mạng vớ của thằng nhỏ sai vặt không thích hợp với việc này. Chị thấy ngay các tủ bên ngoài bỏ trống. Trong tủ thuốc súng không có thuốc súng, chỉ có một tí bụi đen dưới đáy, thoạt tiên chị tưởng là phân chuột, chả đáng để chị quan tâm, thật ra chẳng có luật lệ nào, ít nhất cũng theo sự hiểu biết của chị lau chùi, bảo đi tìm hòn đảo vô danh phải như là sự việc chiến tranh. Điều làm chị bực mình nhất là hoàn toàn không có khẩu phần thức ăn trong chạn, chả phải cho riêng chị, vì chị đã quá quen với bữa ăn nhỏ nhẻ đạm bạc ở cung điện, nhưng cho người đàn ông được lấy chiếc thuyền này, mặt trời chẳng mấy chốc sẽ lặn, anh ta sẽ về hò hét đòi thức ăn, đàn ông nào về đến nhà chả vậy, như thể họ là kẻ duy nhất có bao tử phải tọng đầy, Và nếu anh ta mang theo thủy thủ về thì sao, họ toàn là háu đói khủng khiếp, chị lau chùi nói, rồi mình không biết thu xếp thế nào.
Chị chẳng cần lo. Khi mặt trời vừa khuất xuống biển, người đàn ông xuất hiện ở cuối bến cảng. Anh mang trên tay một gói, nhưng chỉ đi một mình và trông chán nản. Chị lau chùi ra đợi anh gần tấm ván cầu, nhưng trước khi chị mở miệng hỏi cả ngày anh ra sao, anh nói, Đừng lo, tôi mang đủ thức ăn cho hai ta. Chị hỏi, Còn đám thủy thủ đâu, Cô thấy đấy, chả có ai đến. Chị hỏi, Nhưng ít nhất phải có người nói họ đến chứ, Họ nói chẳng còn hòn đảo vô danh nào cả, và nếu còn, họ không sẵn sàng lìa bỏ mái ấm và cuộc sống tốt lành trên các con tàu chở khách chỉ để tham gia vào mấy việc thám hiểm đại dương, đi tìm chuyện không tưởng, như thể mình vẫn còn sống trong thời biển cả tăm tối, Và anh bảo gì với họ, Bảo rằng biển cả luôn luôn tăm tối, Và anh không nói cho họ về hòn đảo vô danh à, Làm sao tôi có thể kể với họ về hòn đảo vô danh, nếu cả chính tôi cũng không biết nó ở đâu, Nhưng anh chắc chắn nó có, Tôi chắc chắn như biển cả tăm tối, Ngay lúc này, nhìn từ trên đây, nước màu ngọc bích và bầu trời rực chói, biển cả đối với tôi chẳng thấy tối tăm chút nào, Đó chỉ là ảo ảnh thôi, đôi khi các hòn đảo dường như nổi trên mặt nước, nhưng không đúng vậy, Anh nghĩ làm sao xoay xở nếu không có thủy thủ đoàn, Tôi chưa biết, Ở đây mình sống được, tôi có thể tìm việc lau chùi thuyền bè vào cảng, và anh, Và tôi, Anh phải có khả năng gì đó, một nghề thủ công, một nghề như bây giờ người ta thường gọi, Tôi có, đã có, sẽ có nếu cần, nhưng tôi muốn tìm hòn đảo vô danh, tôi muốn tìm ra mình là ai khi tôi đến trên hòn đảo đó, Anh không biết à, Nếu mình không bước ra khỏi chính mình, mình sẽ không bao giờ khám phá ra mình là ai, Ông triết gia của nhà vua lúc không có chuyện gì làm thường đến ngồi cạnh tôi nhìn tôi mạng vớ của thằng nhỏ sai vặt, đôi khi ông ta khởi sự triết lý, ông ta thường nói rằng mỗi người đàn ông là một hòn đảo, nhưng vì nó chẳng ăn nhập gì tới tôi, một người đàn bà, tôi chả chú ý tới ông ta, anh thấy sao, Thấy rằng mình phải rời bỏ hòn đảo để thấy hòn đảo, rằng chúng ta không thể thấy chính mình trừ phi chúng ta rủ bỏ chính mình, Anh muốn nói trừ phi chúng ta thoát khỏi chính mình, Không, không hẳn vậy. Bầu trời rực rỡ tàn dần, mặt nước bỗng đổi sang tím, bây giờ ngay cả chị lau chùi cũng không thể nghi ngờ rằng biển cả quả thực tăm tối, ít nhất vào một lúc nào đó trong ngày. Người đàn ông nói, Thôi để chuyện triết lý cho ông triết gia của nhà vua, dù sao người ta cũng trả tiền cho ông ta mà, bây giờ mình ăn. Nhưng người đàn bà không đồng ý, Trước tiên anh phải kiểm tra chiếc thuyền của anh, anh chỉ mới thấy bên ngoài thôi, Cô thấy tình trạng của nó ra sao, À, một số đường chỉ buồm cần may lại cho chắc, Cô xuống dưới khoang chưa, nước có vào thuyền không, Dưới đáy có chút ít, lõm bõm chỗ bì dằn, nhưng hình như đó là chuyện bình thường, tốt cho chiếc thuyền. Làm sao cô biết mấy chuyện này, Tôi biết, Nhưng làm sao biết, Giống như cách anh bảo ông trưởng bến cảng rằng ra biển anh sẽ học giương buồm, Nhưng mình chưa ra biển, Mình ở trên nước rồi mà, Niềm tin của tôi về đi buồm là chỉ có hai bậc thầy đúng đắn, một là biển cả và thứ nữa là con thuyền, Và bầu trời, anh quên bầu trời, Ừ, dĩ nhiên, bầu trời, Gió, Mây, Bầu trời, Phải, bầu trời.
Họ mất chưa tới mười lăm phút đi suốt cả con thuyền, một chiếc thuyền buồm nhỏ, thậm chí một chiếc sửa lại, cũng chẳng cần đi lâu. Người đàn ông nói, Thật đáng yêu, nhưng nếu không tìm đủ thủy thủ đoàn, tôi sẽ phải quay về gặp nhà vua bảo ông ấy rằng tôi không muốn chiếc thuyền nữa, Trời đất, gặp chướng ngại đầu tiên anh đã ngã lòng, Chướng ngại đầu tiên là phải đợi nhà vua ba ngày tôi đâu có bỏ cuộc, Nếu không tìm được thủy thủ muốn đi với chúng ta, chúng ta sẽ phải thu xếp một mình, Cô điên, hai người không thể giương buồm một chiếc thuyền như thế này, tại sao ư, lúc nào tôi cũng phải ở bánh lái, và cô, chao ơi, tôi thậm chí không thể giảng giải từ đầu, cô điên rồ, Để coi, bây giờ đi ăn. Họ lên boong lái, người đàn ông vẫn phản đối điều anh gọi là sự điên rồ của chị, và chị lau chùi mở cái gói anh mang, một ổ bánh, miếng pho ma cứng sữa dê, ô liu và một chai vang. Mặt trăng lúc này lên trên mặt biển một bàn tay, bóng trục căng buồm và cột buồm chính chạy đến nằm chỗ chân họ. Người đàn bà nói, Chiếc thuyền buồm của chúng ta đáng yêu thật, rồi chị tự sửa lại, Tôi muốn nói chiếc thuyền buồm của anh, Của tôi chả được bao lâu nữa tôi chả màng, Anh có ra khơi hay không, nó vẫn là của anh, nhà vua cho anh rồi, Ừ, nhưng tôi xin ông ấy để đi tìm hòn đảo vô danh, Nhưng chuyện này không cứ tuần tự xảy ra được, phải từ từ, ông tôi thường bảo ai muốn ra biển phải chuẩn bị trên đất liền trước, ấy là ông tôi chả phải là thủy thủ gì, Không có thủy thủ đoàn mình không giương buồm được, Anh nói vậy, Và mình phải dự trữ trên thuyền một ngàn lẻ một thứ cần cho cuộc hành trình như thế này, vì mình không biết nó sẽ dẫn mình tới đâu, Dĩ nhiên, rồi chúng ta phải đợi đúng mùa, ra khơi vào đúng thủy triều, và mời thiên hạ đến bến cảng chúc mình lên đường bình an, Cô bỡn tôi, Đâu có, tôi chả bao giờ bỡn người đã làm tôi rời cung điện bằng cánh cửa quyết định, Tôi xin lỗi, Và tôi sẽ không trở lại qua cánh cửa đó nữa cho dù xảy ra chuyện gì. Ánh trăng chiếu xuống ngay trên khuôn mặt chị lau chùi. Người đàn ông nghĩ, Đáng yêu, đáng yêu thật, và lần này anh ta không nghĩ về chiếc thuyền buồm. Người đàn bà chẳng nghĩ gì, chắc chị đã nghĩ hết mọi thứ phải nghĩ trong ba ngày ấy mỗi khi thỉnh thoảng mở cửa xem anh ta còn đợi đó hay không. Chẳng còn sót một vụn bánh hoặc pho ma nào, chẳng một giọt vang, họ đã ném hạt ô liu xuống biển, boong tàu sạch như cũ sau khi chị lau chùi lau lần cuối. Còi tàu hơi nước buông một tiếng rền lớn như loài thủy quái, người đàn bà nói, Khi tới lượt mình, mình sẽ không ầm ĩ như thế. Dù họ còn trong bến cảng, nước vỗ nhẹ lúc chiếc tàu hơi nước đi qua, và người đàn ông nói, Nhưng mình chắc chắn sẽ lắc lư hơn nhiều. Cả hai cùng cười, rồi lặng yên, sau một lát, một trong hai người đề nghị có lẽ nên đi ngủ. Người kia đồng ý, Chẳng phải tôi buồn ngủ buồn nghê gì, Tôi cũng không, rồi họ lại lặng yên, mặt trăng lên cao và tiếp tục lên cao, cho tới lúc người đàn bà nói, Dưới đó có giường, người đàn ông nói, Ừ, và khi đó họ đứng dậy đi xuống dưới boong, người đàn bà nói, Mai gặp, tôi đi phía này, người đàn ông nói, Tôi đi phía này, mai gặp, họ không nói mạn bên trái hay mạn bên phải, có thể vì họ đều mới vào ngành. Người đàn bà quay lại, Ồ, tôi quên, và chị lấy trong túi áo tạp dề ra hai mẩu nến, Tôi tìm thấy lúc lau chùi, nhưng tôi không có diêm, người đàn ông nói, Tôi có. Chị cầm nến đưa ra, mỗi tay một mẩu, anh đánh diêm, rồi che ngọn lửa dưới khum lòng bàn tay, anh cẩn thận đốt đôi bấc cũ, ngọn lửa cháy, lớn từ từ như ánh trăng, soi sáng khuôn mặt chị lau chùi, chả cần phải kể anh ta nghĩ gì, Cô ấy thật đáng yêu, nhưng điều chị nghĩ là như thế này, Rõ ràng anh ta có cặp mắt chỉ cho hòn đảo vô danh, chỉ một thí dụ thôi về việc người ta hiểu sai cái nhìn trong mắt kẻ khác, nhất là khi người ta chỉ vừa mới biết nhau. Chị đưa anh ta cây nến và nói, Mai gặp, rồi, chúc ngủ ngon, anh ta muốn nói điều gì tương tự, chỉ hơi khác, Mơ đẹp, là câu anh thốt ra, một lát sau, khi anh tới dưới, nằm trên giường, những câu khác sẽ thành hình trong trí, dí dỏm hơn, duyên dáng hơn, như những câu khi một người đàn ông thấy chỉ có mình với một người đàn bà. Anh tự hỏi liệu cô ấy đã ngủ chưa, nếu phải mất một lúc lâu cô ấy mới ngủ được, rồi anh tưởng tượng mình đang tìm cô ấy khắp nơi không thấy, cả hai đều lạc trên con thuyền mênh mông, giấc ngủ là tay phù thủy lành nghề, biến đổi tương quan sự vật, khoảng cách vật thể, nó chia cách con người và họ nằm cạnh nhau, mang họ đến với nhau và họ không thấy nhau, người đàn bà đang ngủ cách anh chỉ vài thước và anh không thể đến với nàng, nhưng đi từ mạn phải sang mạn trái quá dễ dàng.
Anh chúc nàng những giấc mơ đẹp, nhưng chính anh là kẻ nằm mơ suốt đêm. Anh mơ chiếc thuyền buồm của mình trên biển động, ba cánh buồm tam giác lộng gió huy hoàng, rẽ một đường trên sóng, trong khi anh điều khiển bánh lái và thủy thủ đoàn nghỉ trong bóng mát. Anh không hiểu những người thủy thủ này đang làm gì ở đó, đúng những kẻ đã từ chối lên thuyền với anh đi tìm hòn đảo vô danh, có thể họ hối hận về những lời mỉa mai thô bạo với anh. Anh cũng thấy thú vật thơ thẩn trên boong, vịt, thỏ, gà, các loại gia súc, mổ hạt ngô hay nhấm lá bắp cải một người thủy thủ ném cho chúng, anh không nhớ mang chúng lên thuyền, tuy nhiên chuyện đã xảy ra, chúng ở đó chỉ là lẽ tự nhiên, vì nếu hòn đảo vô danh là một đảo hoang, như trường hợp thường xảy ra trong quá khứ, cẩn thận vẫn hơn, và chúng ta đều biết rằng mở cửa vào chuồng thỏ xách tai một con thỏ lên luôn luôn dễ hơn phải đuổi theo nó lên dốc xuống đèo. Từ dưới sâu khoang thuyền anh có thể nghe đồng thanh tiếng ngựa hí, bò rống, lừa kêu, tiếng của loài thú hữu ích cần có để làm việc nặng, và làm sao chúng vào đến đó, làm sao chúng có thể nhét vừa chiếc thuyền buồm chỉ vừa đủ phòng cho thủy thủ đoàn, bỗng dưng gió xoay chiều, cánh buồm chính bay phần phật và gợn múi, phía sau là điều anh chưa từng thấy, một nhóm phụ nữ, thậm chí chẳng cần đếm cũng biết là nhiều như số thủy thủ, đang bận rộn trong công việc đàn bà, chưa đến lúc để họ bận rộn những việc khác, rõ ràng đây phải là giấc mộng, không ai trong đời thật lại du hành như thế này. Người đàn ông ở bánh lái tìm chị lau chùi, nhưng không thấy. Anh nghĩ, Có lẽ cô ấy trong giường ngủ ở mạn phải, nghỉ ngơi sau khi cọ boong, nhưng anh tự dối mình, vì anh biết rất rõ , dù một lần nữa anh không hiểu làm sao anh biết, rằng phút chót nàng quyết định không đến, rằng nàng nhảy lên bến, la lớn, Tạm biệt, tạm biệt, tôi đi vì anh chỉ có cặp mắt cho hòn đảo vô danh, không đúng, lúc này mắt anh đang tìm nàng và không thấy nàng đâu. Đúng lúc đó, bầu trời kéo mây và bắt đầu mưa, và với mưa, vô số cây cỏ trổ mầm từ hàng dẫy túi đất để dọc theo thành tàu, chúng nằm đó không vì sợ thiếu đất trên hòn đảo vô danh, mà vì nhờ thế ta có thể tranh thủ thời gian, ngày đến nơi, ta chỉ phải trồng lại cây ăn trái, gieo hạt từ những cánh đồng lúa thu nhỏ đang chín nơi đây, và trang điểm luống hoa bằng những đoá hoa sẽ nở từ những nụ này. Người đàn ông ở bánh lái hỏi bọn thủy thủ đang nghỉ trên boong có thấy hòn đảo không người nào chưa, họ nói họ chẳng thấy đảo nào, có người hay không, nhưng họ đang tính đổ bộ lên mảnh đất có người ở xuất hiện đầu tiên, miễn là có cảng để thuyền thả neo, có quán rượu để họ uống và có giường để họ vui thú, vì ở đây không có phòng cho việc ấy, với quá đông người chật chội. Nhưng còn hòn đảo vô danh thì sao, người đàn ông ở bánh lái hỏi, Hòn đảo vô danh không hiện hữu, ngoại trừ trong đầu anh, nhà địa lý của đức vua đi xem các tấm bản đồ đã tuyên bố rằng từ bao nhiêu năm rồi đã hết các hòn đảo vô danh, Vậy thì đáng lẽ các anh nên ở lại thành phố thay vì cản trở cuộc hành trình của tôi, Chúng tôi tìm một nơi sống tốt đẹp hơn và quyết định lợi dụng chuyến đi của anh, Các anh không phải là thủy thủ, Chúng tôi chưa bao giờ là thủy thủ, Tôi không thể thả buồm chiếc thuyền này một mình được, Đáng lẽ anh nên nghĩ tới trước khi xin nhà vua cho anh chiếc thuyền, biển cả sẽ không dạy anh đi buồm. Rồi người đàn ông ở bánh lái thấy đất liền phía xa và cố lái thẳng vượt qua, giả vờ như nó là ảo ảnh của một vùng đất khác, hình ảnh vượt không gian đến từ bên kia thế giới, nhưng những kẻ chưa bao giờ là thủy thủ phản đối, họ nói đó là nơi họ muốn đổ bộ, họ kêu lên, Hòn đảo này trên bản đồ, nếu mày không đưa tụi tao tới đó, tụi tao sẽ giết mày. Rồi theo ý muốn riêng của mình, chiếc thuyền buồm hướng mũi về đất liền, vào cảng và cặp bến, người đàn ông ở bánh lái nói, Các anh đi đi, và họ lập tức lũ lượt kéo đi, đầu tiên là đàn bà, rồi đến đàn ông, nhưng họ không đi tay không, họ lấy theo vịt, thỏ, gà, họ mang bò, lừa và ngựa, và thậm chí lũ hải âu, con này tới con khác, bay đi, để lại con thuyền đằng sau, mỏ chúng ngậm chim non, một điều chưa từng thấy, nhưng điều gì cũng phải có lần đầu tiên. Người đàn ông ở bánh lái im lặng nhìn cảnh rời bỏ, anh không làm gì để giữ lại những kẻ bỏ anh, ít nhất họ đã để lại cây cối, lúa mì và hoa, cũng như cây leo quấn quanh cột buồm và trang trí mạn thuyền. Trong cảnh vội vàng bỏ đi, các túi đất bục vỡ và đổ ra, vì thế cả boong thuyền trở thành cánh đồng đã xới và gieo hạt, chỉ cần tí mưa sẽ có một vụ thu hoạch tốt. Từ khi cuộc hành trình tới hòn đảo vô danh bắt đầu, ta không thấy người đàn ông ở bánh lái ăn gì, chắc phải vì anh ta đang mơ, chỉ mơ thôi, và nếu trong giấc mơ anh tưởng tượng đến một mẩu bánh hay một quả táo, nó chỉ thuần túy là bịa đặt, không hơn không kém. Rễ cây lúc này đã xuyên qua khung thuyền, chẳng bao lâu sẽ không cần đến những cánh buồm đã giương lên nữa, chỉ cần gió thổi ngọn cây là con thuyền sẽ đi đến nơi đã định. Nó là khu rừng rẽ sóng nhấp nhô, một khu rừng nơi đó, không ai biết thế nào, chim chóc đã bắt đầu hót, chúng phải ẩn nấp nơi đâu và bỗng nhiên quyết định hiện ra ánh sáng, có lẽ vì cánh đồng lúa mì đang chín cần gặt hái. Rồi người đàn ông khoá bánh lái con thuyền và mang liềm xuống cánh đồng, và khi cắt vài bông lúa đầu tiên, anh thấy một cái bóng bên cạnh bóng anh. Anh thức dậy, cánh tay mình choàng quanh chị lau chùi, và cánh tay chị choàng quanh anh, thân thể và giường họ hợp thành một, vì thế không ai có thể nói đây là mạn trái hay mạn phải nữa. Rồi khi mặt trời mọc, người đàn ông và người đàn bà đi sơn những chữ trắng hai bên mũi thuyền tên chiếc thuyền buồm còn thiếu. Quãng giữa ngày, cùng thủy triều lên, rốt cuộc Hòn Đảo Vô Danh ra khơi đi tìm chính mình.
© 2003 talawas