trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.8.2004
Nguyễn Hữu Liêm
Chiều Dày Lịch Sử: Một phản tưởng về công trình khai quật Thăng Long Thành
 

Khi chuyên gia khảo cổ Trần Hạnh đến Berkeley chiếu slide show về công trình khai quật những di tích thành Thăng Long trong vòng hai năm qua, lịch sử dân tộc – vốn mang một bản chất mơ hồ như thi ca – bổng trở nên rõ nét. Khuôn mặt tiểu thuyết và tưởng tượng của quá khứ không còn nằm ở bình diện thuần tri thức. Hôm nay, sử tính đã trở nên một đối thể của giác quan – the textual becomes sensual.



Trong vòng một tiếng đồng hồ, trong một thư phòng trên ngọn đồi nhìn xuống vịnh San Francisco, khán giả thực sự được rung động với vết tích từ chiều dày lịch sử ngàn năm Việt Nam. Từ thời Ðại La của thế kỷ thứ bảy đến thờ Hậu Lê của thế kỷ mười bảy, hơn mười thế kỷ của dấu ấn văn hóa và chứng cớ lịch sử được trưng diện. Như một cây cổ thụ già mà nhân chứng lần đầu tiên có dịp nhìn sâu vào từng khoanh gỗ được cuốn vào thân mệnh, bản sắc sử kiện của Việt Nam được minh xác. Sử tính như sống lại, như đứng lên, như đòi hỏi phải được trưng diện, phải được khai quật, phải được cảm nhận, để hiểu, để cùng thấm thía cái hồn sử mệnh bị vùi chôn trong lòng đất suốt hơn ba thế kỷ qua kể từ khi Gia Long Nguyễn Ánh chuyển đô về Huế.

Hãy nhìn kỹ lần nữa vào chứng tích. Các lớp gạch vẫn còn nguyên với thời gian trong sự phủ kín của đất đá và ý chí phủ nhận của những nguồn nhân văn cận đại. Triều đại Lý Trần được liên tục và quyện lẫn với nhà Lê bằng những viên gạch được tái sử dụng cho những giếng nước đáy sâu. Nguồn mạch sông Hồng như nuôi dưỡng những biểu tượng sinh khí của những triều đại đã đi qua. Càng muốn đi vào quá khứ thì phải đào sâu hơn xuống lòng đất. Cái gì được chôn giấu sâu thẳm thì còn tồn tại lâu hơn. Theo Trần Hạnh, những “tầng văn hóa” đại diện cho một triều đại. Càng đi về quá khứ thì các tầng văn hóa bị vùi sâu hơn nữa. Thời gian và năng động văn hóa các triều đại vương quyền ấn sâu vào lòng đất như từng những lớp gỗ dày quyện thêm vào sử tính của dân tộc. Qua các bình rượu, tách trà, con phượng trên mái đình, bát cốc, đáy giếng nước, một nội dung văn hóa thanh cao và độc lập được đánh dấu và biểu hiện. Văn hóa là cái còn lại của ấn tượng ý thức – mà vết tích của ý thức chính là hiện vật được phơi bày qua thể tướng của những đồ dùng gia dụng trong một sinh hoạt bình thường.

Lịch sử Việt Nam bị người Việt bỏ quên và phủ nhận một cách vô tình và vô ý thức trong vòng gần hai thế kỷ qua. Nguyễn Bá Chung gọi đây là những “historical discontinuities” (cách đoạn lịch sử). Cái thứ nhất là sự chôn vùi dấu tích lịch sử thành Thăng Long Hà Nội khi kinh đô dời vào miền Trung ở đầu thế kỷ Mười Chín. Cái thứ hai là sự thay đổi ngôn ngữ từ Hán Nôm sang tiếng mẫu tự Latin. Sau hai biến cố cách đoạn cơ bản này, con người Việt Nam bị mất gốc lịch sử và lạc lõng văn hóa. Họ nhân danh lịch sử qua văn bản mà nay rất ít người Việt có thể đọc được. Một quá khứ huy hoàng và lâu dài thì không có hoặc là thiếu vắng chứng tích. Cái may mắn như là một món quà sử liệu vô tình được cống hiến cho Việt Nam từ công trình khai quật này là sự điền vào chỗ trống trong ý thức lịch sử dân tộc một bình diện dữ kiện vững chắc và trực tiếp hơn.

Sai lầm lớn của sử học – vốn là cơ sở cho ý thức sử mệnh – vốn từ lâu nay là năng ý tự đóng khung sử kiện vào sử liệu thuần văn bản (pure textual documentation). Vì vậy, lịch sử trở nên trưù tượng trên bình diện ngôn từ mà ý nghĩa của gốc tích (etymology) thì nay đã bị bỏ quên và không còn biết đến. Trí thức Việt Nam trong suốt gần thế kỷ qua là một lũ người mất gốc ngôn ngữ và thiếu căn bản văn hóa lịch sử. Từ sự hời hợt của cơ sở ngôn ngữ và sự trống vắng của sử kiện chứng tích vượt ra khỏi ngôn từ, ý thức sử Việt trở nên thiếu cơ sở biện minh. Và ý chí lịch sử, từ sự mơ hồ kiến thức này, đã dẫn đến những khủng hoảng nhân văn, thối nát và vong bản văn hóa – và cuối cùng là tính hoang tưởng lịch sử trên một cơ sở chủ nghĩa chính trị hoang đường. Lịch sử Việt Nam cần phải được khai sáng và tái minh xác – từ ngôn ngữ, sử liệu đến sử kiện – để hòng cứu vớt lại cơn khủng hoảng nhân văn của dân tộc Việt Nam hiện nay.

Khi cả một dự án xây toà nhà quốc hội phải nhường chỗ cho công trình khai quật sử vật – thì đây là điều đáng để vui chào. Lâu lắm rồi chúng ta mới thấy được sự việc chính trị vương triều biết lắng nghe và tôn trọng tiếng nói văn hóa – khi sử liệu Việt Nam được minh xác qua các “tầng văn hóa” được khai quật và nhận diện, khi tự ái công quyền phải nhường ngôi cho chiều sâu sử học, thì có lẽ đã đến lúc dân tộc Việt Nam bắt đầu có kiến thức và ý thức về lịch sử của mình.

© 2004 talawas

 
© talawas 2026