Bernard-Henri Lévy
Tạp chí Đức Der Spiegel („Tấm
Gương“) phỏng vấn triết gia Pháp Bernard-Henri Lévy về thái độ bài
Mĩ trong giới trí thức châu Âu, về cuộc đấu tranh chống khủng bố
và thuyết „Sự cáo chung của lịch sử“
SPIEGEL: Thưa ông Lévy, cuộc chiến ở
Afghanistan phân hoá giới trí thức ở cả Pháp lẫn Đức. Ông là một
trong số khá ít người ngay từ đầu đã biện hộ hầu như vô điều kiện
việc Mĩ huy động quân sự. Tại sao ông lại đứng biệt lập như vậy?
Lévy: Phần lớn trí thức châu Âu có vẻ như không để ý đến
số phận người dân Afghanistan. Họ bỏ qua việc Mĩ không chỉ chống
khủng bố. Sự can thiệp của Mĩ cũng là để giải phóng Afghanistan.
SPIEGEL: Có lẽ mục tiêu đó là phụ, Mĩ chỉ muốn trả thù là
chính thì sao?
Lévy: Ai đủ sức nhìn xa hơn chóp mũi của
mình một chút đều hiểu ngay rằng, việc đánh Bin Laden kéo theo một
hệ quả rất đáng mừng và hoàn toàn không phụ chút nào: Bây giờ
người dân Afghanistan có thể trút bỏ ách kềm kẹp khủng khiếp, họ
sẽ được giải thoát khỏi một chế độ cai trị thuộc hạng tồi tệ nhất
hành tinh này.
SPIEGEL: Sự thể như vậy thì ông giải thích
cái phản xạ bài Mĩ của các đồng nghiệp ông thế nào?
Lévy:
Đây là điều rất lạ. Tôi không thuộc phe thân Mĩ. Tôi đã biểu tình
chống chiến tranh Việt Nam và phản đối vụ lật đổ Allende ở Chile
do CIA dàn dựng. Tôi kinh tởm án tử hình. Việc George W. Bush đắc
cử đã làm tôi choáng váng ghê gớm. Nhưng thật lòng mà nói thì tôi
phải thừa nhận rằng, cho đến nay dưới sự lãnh đạo của ông ta, cuộc
chiến này đã diễn tiến tốt không ngờ. Đây là trường hợp đầu tiên
như vậy trên trường quốc tế cũng nên.
SPIEGEL: Một cuộc
chiến không hề ngầm chứa ý đồ bá quyền nào ư? Đáng nghi vấn lắm.
Lévy: Thái độ bài Mĩ vượt quá lòng ngờ vực đơn thuần. Nó
là một trong những hằng số lớn trong sinh hoạt chính trị của chúng
ta, một đam mê nữa là đằng khác. Mà đam mê thì dễ mù quáng. Cái
đam mê này không phải chỉ mới hình thành cùng với chủ nghĩa bá
quyền Mĩ.
SPIEGEL: Theo ông thì gốc gác của đam mê đó ở
đâu, nếu không phải trong đường lối không biết thế nào là khoan
nhượng của siêu cường quốc này?
Lévy: Về phương diện lịch
sử, nước Mĩ biểu trưng cho một loại hình thái quốc gia mới mà châu
Âu vốn khước từ. Những quốc gia cố hữu của chúng ta vốn dựa vào ba
thành tố: lãnh thổ chung, ký ức tập thể và bản sắc dân tộc [1],
nên chúng ta xem nước Mĩ, một quốc gia hình thành theo quan niệm
của Rousseau, là không chấp nhận được, là đáng nguyền, là chướng –
vì nó được chung đúc từ trên xuống, bằng một khế ước của ý chí,
chứ không lớn dậy một cách hữu cơ từ dưới lên.
SPIEGEL:
Nghĩa là sự phê phán chủ nghĩa bá quyền Mĩ chỉ là sản phẩm của một
ác cảm sâu xa hơn nữa?
Lévy: Ảo vọng về cái quốc gia được
coi là thuần khiết, về một cộng đồng dân tộc tốt đẹp và ổn định,
vẫn tiềm ẩn trong đầu óc người châu Âu. Họ ngại cái vạc hầm tùm
lum, họ ớn pha trộn nhiều bản sắc văn hoá. Và nhìn siêu cường Mĩ
lù lù trước mắt thì lòng ngờ vực cố hữu này hoá thành việc đả kích
sự ngạo mạn của nước Mĩ.
SPIEGEL: Vậy là cái chân dung méo
mó mà Heidegger từng phác hoạ vẫn sống nguyên hay sao? Nước Mĩ,
thế giới của duy vật, của đồng phục đại trà và sự thiến bỏ tinh
thần.
Lévy: Đó là một kiểu nói cửa miệng của cánh hữu
khuynh cả Đức lẫn Pháp, mà dạng phản chiếu của nó thì lại cũng
thấy ở cánh tả. Heidegger, và cả các nhà tư tưởng Pháp như Georges
Valois, Pierre Drieu La Rochelle và Charles Maurras, đều coi Mĩ là
một tai hoạ bản thể. Sự chối bỏ triệt để về mặt siêu hình học này
lan sâu trong tâm khảm các nền văn hoá châu Âu, hễ có dịp là bộc
phát, hiện nay cũng vậy.
SPIEGEL: Nhưng trong thế giới Hồi
giáo, lòng căm thù Mĩ còn ăn sâu hơn nhiều. Vì sao?
Lévy:
Đối với người Hồi giáo, Mĩ là kẻ giơ đầu chịu báng. Bao thế kỷ nay
họ khổ sở triền miên vì xứ sở họ bị suy sụp hành hạ, đó là nỗi ám
ảnh của họ. Hiển hách thuở nào đã tan, công trình Khai sáng thì dở
dang, lại thêm nỗi nhục thời thực dân để lại, tất cả dồn vào, để
thành tình trạng như thể phương Đông bị phương Tây sỉ nhục thường
trực. Tuy Mĩ chưa bao giờ là một thế lực thực dân ở Cận Đông,
nhưng Mĩ được coi là hiện thân của công cuộc Tây phương hoá toàn
cầu, tức được coi là thần tượng.
SPIEGEL: Và cũng được coi
là thế lực che chở cho Israel, mà người Ả Rập quan niệm Israel là
thứ ngoại lai, do thực dân cấy vào.
Lévy: Đó chỉ là bình
phong. Israel và Mĩ chẳng đóng góp gì nhiều trong việc sỉ nhục
khối Ả Rập, mà chỉ là chỗ cho người ta lấp sự bất lực, không đủ
sức lí giải nỗi bất hạnh của chính mình và không nhận thức được
trách nhiệm của bản thân. Nhiều người Ả Rập sống trong một thế
giới huyển hoặc với một quan hệ nhân quả quỷ quái, trong cái thế
giới ấy thì Mĩ và Israel chẳng qua cùng một duộc: con này quỷ lớn,
con kia quỷ nhỏ.
SPIEGEL: Cho nên hàng loạt suy diễn rất
điên rồ mới có đất sống, chẳng hạn như cái thuyết cho rằng chính
Israel và Mĩ đã âm mưu hủy hoại World Trade Center để được
dịp ra tay đánh khối Hồi giáo?
Lévy: Nào là mối thông đồng
Mĩ – Israel, nào là New York, thủ phủ của cộng đồng DoThái thế
giới – toàn là những hoang tưởng cũ kĩ của phong trào cực hữu châu
Âu hiện đang lượn lờ tại nhiều thủ đô Ả Rập. Hồi giáo ở dạng chính
thống cực đoan có lẽ là chủ nghĩa phát-xít thứ ba, phát-xít màu
xanh, sau phát-xít nâu và phát-xít đỏ.
SPIEGEL: Ông có
đang so những cái không thể sánh với nhau không đấy? Chủ nghĩa
quốc xã và chủ nghĩa cộng sản là những phong trào thế tục, phi tôn
giáo …
Lévy: … nhưng cốt lõi thì cũng thần bí. Mọi chủ
thuyết chính thống cực đoan đều có chung một điều, đó là quyết tâm
hướng tới thuần khiết, là giấc mơ tạo dựng con người mới trong một
cõi hoà đồng tuyệt đối với chính mình và cộng đồng. Ta đang chứng
kiến các đỉnh cao cuối cùng của chủ nghĩa toàn trị thuộc về thế kỷ
20 trong những cơn co giật của chủ thuyết toàn vẹn Hồi giáo hiện
nay.
SPIEGEL: Vậy rõ ràng ông quan niệm đây là một cuộc
chiến giữa các nền văn minh, một cuộc chiến bảo vệ tự do, chống
man rợ ?
Lévy: Vâng, nhưng không phải là một cuộc chiến
của phương Tây chống Hồi giáo. Cuộc chiến thật sự, vì văn minh,
diễn ra trong nội bộ khối Hồi giáo. Triển vọng của công cuộc Khai
sáng chính là điểm quyết định, để được hay mất. Cuộc đấu tranh này
sẽ còn kéo dài và kết cục ra sao thì khó mà tiên liệu, nghĩ cũng
kinh hoàng. Song tôi tin rằng, đó sẽ là xung đột lớn của thế kỷ
21.
SPIEGEL: Thế tức là chấp nhận tiền đề cho rằng phương
Tây là nơi duy nhất sở hữu những giá trị toàn cầu chân chính: Dân
chủ, tự do, chủ nghĩa cá nhân, nhân quyền?
Lévy: Tính toàn
cầu, tinh thần thế giới như chữ của Hegel, phát huy rộng rãi nhất
và xác đáng nhất ở phương Tây. Nhưng tính toàn cầu còn có những
cách hiện diện khác, cả trong Hồi giáo, và có một phong trào Khai
sáng của Ả Rập mà đại diện là nhà tư tưởng Averroës ở thế kỷ 12.
SPIEGEL: Vì sao tinh thần duy lý đã không thắng thế trong
Hồi giáo?
Lévy: Phong trào Khai sáng Hồi giáo chỉ bại chứ
không chết hẳn, ở Thổ Nhĩ Kỳ và một số nhà tư tưởng tại vài nước Ả
Rập nó vẫn sống, tuy bị chèn ép và phủ kín. Không ai có thể gánh
thay cho người Hồi giáo công cuộc cải cách này, bây giờ là lúc các
nhà lãnh đạo tinh thần Hồi giáo phải lãnh lấy việc ấy, họ cần làm
việc với chính họ, với các kinh kệ của họ, như trước đây người
Thiên chúa giáo và Do Thái giáo từng làm.
SPIEGEL: Và phải
thay đổi những gì ?
Lévy: Người Hồi giáo phải chấm dứt
quan niệm cho rằng nguyên nhân của tất cả những gì tệ hại là bị
phương Tây sỉ nhục. Họ phải tìm hiểu rõ nguyên cớ chủ nghĩa bài Do
Thái của họ, một thứ bệnh hủi, càng ngày càng lây lan. Họ phải từ
bỏ lập trường bài bác – bài bác chủ nghĩa cá nhân, bài bác quyền
được dị biệt, được đi chệch đường lối, được nhầm lẫn. Họ phải thừa
nhận sự hiện hữu của cái Ác ngay cả trong tín ngưỡng của mình nữa.
Hồi giáo không phải là bất khả xâm phạm, và lời thượng đế có thể
được minh giải nhiều cách khác nhau.
SPIEGEL: Nhưng sự
giải trình mới trong thần học chắc chắn sẽ dẫn đến kết quả là việc
tách rời chính trị và tôn giáo, tức dẫn đến một xã hội thế tục,
phi giáo hội. Như vậy thì Hồi giáo phải từ bỏ bản chất, vì nó tự
cho mình là một mẫu hình tổng thể, tức không chỉ là một tín
ngưỡng, mà là hẳn một lối sống.
Lévy: Chính tham vọng sáp
nhập trọn vẹn đó hàm chứa nguy cơ toàn trị. Thiên chúa giáo thế kỷ
16 từng có chiều hướng thế tục, vậy Hồi giáo ngày nay sao lại
không? Mà Hồi giáo thế tục cũng có đấy chứ: ở Thổ Nhĩ Kỳ, và ở
Bosnia còn mạnh hơn. Cũng vì thế mà phải bảo vệ người Bosnia khỏi
bị người Serb đàn áp, để cứu vãn mô hình ấy, cứu vãn bằng chứng
cho sự hiện hữu của một Hồi giáo hiện đại, nhập thế.
SPIEGEL: Vậy có chiến tranh nào là chính đáng nữa không?
Người Mĩ đang tiến hành chiến tranh chính đáng ở Afghanistan
chăng? Sự can thiệp của Nato ở Balkan có chính đáng không?
Lévy: Tôi tin là có. Giới trí thức luôn ngả nghiêng nước
đôi giữa hai khuynh hướng phản chiếu nhau như hình với bóng, một
chủ chiến và một chủ hoà. Bên này coi chiến tranh như cha đẻ của
mọi thứ trên đời, bên kia hoà bình chỉ vì muốn hoà bình. Thế lưỡng
phân này che mất cái nhìn vào lựa chọn thứ ba ít người nghĩ tới:
chiến tranh chính đáng.
SPIEGEL: Hoà bình tự nó không phải
là một giá trị hay sao?
Lévy: Chiến tranh chẳng đẹp bao
giờ. Cái mĩ học chiến tranh từng quyến rũ những nhà văn như Ernst
Jünger, và Guillaume Apollinaire, Jean Cocteau hay Henry de
Montherlant bên nước tôi, thật khốn nạn. Ca tụng chiến tranh như
sự hoàn thiện dũng khí nam nhi là một hành động khiếm nhã. Nhưng
chiến tranh có khi là việc chẳng đừng, dù nó xấu xí đến đâu – lúc
đó thì đành ra trận, không hăng hái mà ân hận, và phải điều hoà
thế nào cho phải, vì có cái còn tệ hơn chiến tranh nhiều: Địa
ngục.
SPIEGEL: Nhưng khi suy tư về điều kiện của nền hoà
bình thế giới, Kant đã nhận định, chiến tranh có cái thuộc tính
khó chịu là: trừ Ác thì ít, mà đẻ thêm thì nhiều.
Lévy:
Điều đó sai. Cái Ác hiện cần trừ khử ở Afghanistan thì ta đã biết,
nhưng cái Tệ có thể đẻ ra ở đó thì chưa. Tôi dám cuộc rằng cái Tệ
dứt khoát đỡ hơn cái Ác.
SPIEGEL: Có một điều xem ra chắc
chắn là: Số người sẵn sàng tự sát để khủng bố sẽ không giảm đi sau
khi chiến tranh Afghanistan chấm dứt, ngược lại là khác.
Lévy: Đó là một việc khác. Tôi không bao giờ nghĩ rằng dội
bom là cách tốt nhất để diệt khủng bố, nên chấm dứt càng sớm càng
tốt. Cuộc đấu tranh chống khủng bố phải được tiến hành ở một bình
diện khác: Rút kiệt các kênh chuyển tải tài chính, dùng tình báo
và khai thác tin tức, dùng áp lực chính trị và ngoại giao, nhưng
trước hết phải chấm dứt thái độ nhân nhượng của Mĩ và phương Tây
nói chung đối với các nước sản sinh hoặc bao che khủng bố.
SPIEGEL: Ông nói đến Ảrập Xêút phải không?
Lévy:
Tất nhiên, cái trò lật lọng của nước này thật đáng tởm. Bạn tôi là
Massud, thủ lãnh Liên minh miền Bắc vừa bị sát hại, có nói khi tôi
sang thăm lần trước nữa, rằng Bin Laden là một sản phẩm tiêu biểu
của những mưu đồ hậu cung ở Xêút, do tham vọng muốn trở thành ông
hoàng thay chỗ các ông hoàng khác. Bạn tôi cũng nói, anh chớ tưởng
Bin Laden là tiếng nói của những kẻ bị đày đoạ của trái đất này
[2] hoặc là của người dân Palestine. Bin Laden muốn báo thù cái
đẳng cấp mà chính hắn là thành viên, hắn muốn nắm quyền, muốn
giành cho mình nguồn dầu hoả. Và khi biết rằng trước đây không lâu
chính CIA từng có liên hệ với hắn thì người ta đến phải buồn nôn.
SPIEGEL: Ông có tin là người ta có thể tận diệt khủng bố
không?
Lévy: Thế khác nào quí vị hỏi tôi rằng, có thể
thắng được Tử thần hoặc cái Ác hoặc chiến tranh hoặc bạo lực
không. Chẳng bao giờ thoát được chúng đâu. Chỉ có thể hy vọng cản
bớt, chống trả, hạn chế, cách ly được nạn khủng bố thôi.
SPIEGEL: Bush có nói tới việc diệt sạch khủng bố, thế có
phải là nông nổi reo rắc ảo tưởng không?
Lévy: Cái đó phải
trách Bush và Blair – lối tu từ hoá hủy diệt. Chúng ta có thể tự
vệ trước khủng bố, nhưng tận diệt nó thì không. Nhân loại không
thể vĩnh viễn chế ngự được cái phần đen tối, đáng nguyền, hiểm ác
trong chính mình; nó là một thành tố của con người. Khủng bố là
cái bóng hắc ám của xã hội phương Tây, nó còn theo đuổi ta lâu
lắm.
SPIEGEL: Nhà xã hội học Jean Baudrillard cho rằng
khủng bố ở tỷ lệ toàn cầu chính là cái phản hình thức tuyệt đối
của cuộc toàn cầu hoá. Marx thì tin rằng chủ nghĩa tư bản chứa sẵn
bên trong cái mầm tự hủy diệt chính nó. Quan niệm ấy có thể vận
vào cuộc toàn cầu hoá và động lực chính của nó là nước Mĩ không?
Lévy: Baudrillard đã diễn đạt hết sức rắc rối một điều vô
cùng hiển nhiên, cũng tiêu biểu cho ông ấy thôi. Tất nhiên là
khủng bố cũng phải tự toàn cầu hoá. Những phần tử đắc lực của nó
thường thuộc thành phần đặc tuyển, có địa vị chứ không phải là
giới bần cùng hay thất học. Nhưng xin hãy thận trọng: Baudrillard
đã hứng nhiều phẫn nộ vì gây ra cảm tưởng rằng, nước Mĩ là đầu tàu
của cuộc toàn cầu hoá, nên tai hoạ xảy ra cho họ là do lỗi của họ,
chính họ đã tạo ra phong trào khủng bố. Quan điểm này quả thật
không ngửi được.
SPIEGEL: Thế không phải là những kẻ khủng
bố New York muốn chứng tỏ chính điều đó hay sao? Phải bị đàn áp
nhường nào, phải tuyệt vọng lắm mới tự ý hy sinh cuộc sống của
mình, vì không còn lối thoát nào khác – Đó có phải là thông điệp
của cảm tử không?
Lévy: Có lẽ họ muốn thể hiện như vậy,
nhưng sự sùng bái cái chết của họ không xuất phát từ tuyệt vọng.
Sự cuồng tín của họ là một dạng của hy vọng. Họ tự ý thức mình là
những đứa con hiện đại của thiên đường. Họ tràn đầy hy vọng, linh
hồn và tinh thần của họ đốn ngộ. Tôi đã có dịp làm quen và tìm
hiểu đám khủng bố cảm tử ở Sri Lanka. Họ không hề là những mẫu
người ủ rũ u sầu. Họ tin rằng mình biết đường giải thoát. Họ cầm
chắc là kịp tránh ngày phán xử cuối cùng.
SPIEGEL: Họ cho
đó là mặt mạnh của mình: Họ sẵn sàng chết, trong khi phương Tây
vốn sợ cái chết. Mĩ không muốn tổn thất một binh sĩ nào.
Lévy: Quyết định tự sát là món vũ khí tuyệt đối, vũ khí
duy nhất không ai chống trả được. Đấy gần như là chuyện hàng ngày
ở Israel. Ai đi ngang qua cũng có thể là một quả bom di động, thế
là đủ gây rối loạn tâm thần tập thể. Những kẻ khủng bố này có một
sức mạnh kỳ lạ, một sức mạnh đạo đức khiếp đảm. Khả năng đi đến
tận cùng, vượt qua mọi bản năng sinh tồn, dứt bỏ mọi phân vân,
khiến họ có sức mạnh khủng khiếp.
SPIEGEL: Nhưng Mĩ thì
vẫn bảo những kẻ khủng bố ấy là hèn nhát.
Lévy: Thế là
không hiểu rõ đầu óc của những kẻ ấy. Phải gọi đó là những yêu
quái, vâng. Những người khủng bố bằng cách tự sát đó đã được huấn
luyện đặc biệt – về kỹ thuật-quân sự, đương nhiên, nhưng về tâm
linh cũng vậy.
SPIEGEL: Theo kiểu tẩy não tín ngưỡng, như
trong một giáo phái phải không?
Lévy: Theo tôi thì còn hơn
thế, vì họ không tuân theo đức tin mù quáng và kỷ luật kiểu người
máy. Họ có một sức phát sáng cực kỳ, cả về đạo đức lẫn trí tuệ.
Chủ nghĩa khủng bố kiểu này gần với kiểu tu khổ hạnh hơn là tẩy
não.
SPIEGEL: Phải chăng đó là sự cáo chung của lịch sử,
như một số người đã tiên đoán sau khi chủ nghĩa cộng sản sụp đổ,
tức là tự do và tiến bộ thì không hẳn đạt được, mà những nguy cơ
giông bão của ngày tận thế thì kéo đến?
Lévy: Hegel,
Kojève và Francis Fukuyama đã nhầm trầm trọng. Lịch sử không hề
cáo chung ở Jena, Moscow hay New York [3]. Song ở Burundi và vài
chỗ châu Phi khác thì tôi đã chứng kiến, những cuộc chiến hoành
hành ở đó nằm ngoài mọi lôgích, và những bên tham chiến chẳng còn
biết mình đang chiến đấu cho mục đích gì. Đó là chủ nghĩa hư vô
thả giàn, là hận thù và hủy diệt nguyên chất. Ở đó những môtíp
thuộc ý thức hệ chỉ còn tồn tại như cái khố che sự tàn bạo trần
trụi mà thôi.
SPIEGEL: Phải chăng lý trí nay phải đầu hàng
sự tàn ác?
Lévy: Lý trí không phải là vạn năng, triết học
đôi khi cũng phải hạ cờ. Trước đây 30 năm, tôi từng đặt niềm tin
vào cách mạng, vào khả năng cải tạo triệt để thế giới. Cái thời ấy
qua rồi, bây giờ tôi đã thành khiêm tốn. Bi quan là trọng tâm các
tác phẩm của tôi. Chính cái hình dung giả tưởng về một thế giới
mới và toàn hảo tự nó là một ý tưởng man rợ rồi.
SPIEGEL:
Ông có đang công bố sự thoái vị của mọi ý niệm nhân bản không đấy?
Lévy: Không đâu, vì đành rằng tôi tin vào cái Ác, song tôi
không tin vào quan niệm thân phận đọa đày. Tôi không từ bỏ cái nỗ
lực kiên trì khiến thế gian này bớt tồi tệ hơn. Không thể để cái
kinh hoàng đóng vai tiếng nói cuối cùng. Thế hệ tôi đã đạt được
một nguyên tắc tuyệt vời trong công pháp quốc tế: Quyền can thiệp.
Trong thời gian vừa qua, nguyên tắc này đã khiến ba cuộc chiến
tranh giải phóng thành hiện thực, ở Bosnia, Kosovo và bây giờ ở
Afghanistan. Thế hệ con cái chúng ta sẽ phải đi xa hơn, phải biến
quyền can thiệp này thành một nghĩa vụ phổ cập. Để được thế, không
thể chỉ dừng lại ở cứu trợ nhân đạo và bày tỏ lòng thương hại.
SPIEGEL: Xin cảm ơn ông Lévy.
_______________
[1] Lévy dùng từ “völkisch”:
đây là một khái niệm cơ bản trong chủ nghĩa „quốc xã“ của nước Đức
thời Hitler, bao hàm tính tự tôn của dân tộc trong phân biệt với
các dân tộc khác – người dịch chú thích
[2] „Những kẻ bị đày
đoạ của trái đất này“: Tựa cuốn sách nổi tiếng của Frantz
Fanon về các xã hội thuộc địa – ndct
[3] Jena, Moscow, New
York: nơi sống và làm việc của Hegel, Kojève và Fukuyama – ndct