trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.4.2003
Doug Saunders
Chiến tranh hoặc chuyên chế: cái nào tệ hơn?
viết từ Belgrade, Serbia
 

Bia bản xứ thì tuyệt vời và những người Serbia mới quen biết sắp nói nhiều điều thú vị, nhưng tôi không thể giữ cho đầu mình đừng rời bàn mà ngước lên, nhìn xuyên trần nhà bằng thủy tinh của quán cà phê. Mắt tôi dõi theo đường bay của viên đạn súng trường mấy hôm trước từ một cửa sổ tầng ba ngay sau quán cà phê, bay nghiêng cách trên mái nhà này mấy thước, ngang qua bãi đậu xe, rồi ghim thẳng vào đầu của Thủ tướng Zoran Djinjic.

Một người trẻ tuổi làm gián đoạn khúc liên tưởng của tôi bằng một nụ cười cảnh giác. Anh chỉ tới chỗ xảy ra cuộc ám sát và thì thầm một cụm từ tiếng Anh mới tìm ra: “Chế độ thay đổi.” Mọi người cười rộ. Một phụ nữ đưa tay chỉ toà nhà nằm bên kia bãi đậu xe, nơi hiện trường tử nạn của Thủ tướng và bật lên câu nói: “Không, không. Ðó là thay đổi chế độ!”

Toà nhà mười tầng ấy lỗ chỗ, bay mất hết cửa sổ khiến nó trông như thể bị một thiên thạch giáng trúng. Nhìn khá gần thì thấy nó từng bị bắn và bị cháy bởi tên lửa có tia hồng ngoại hướng dẫn phóng ra từ một chiến đấu phản lực cơ trong cuộc NATO dội bom Belgrade năm 1999. Chế độ hiện nay của những người Serbia theo chủ trương cải cách (mà may mắn thay, chẳng bị thay đổi bởi viên đạn của gã mafia bắn lén ấy) không đảm đương nổi việc san bằng hàng chục toà nhà từng bị oanh tạc trong thành phố này. Bên cạnh đó, chúng là những đài cao tiện lợi cho các quả bom điều khiển tầm xa mà sau cùng đã chấm dứt cuộc chiến Kosovo và kết liễu chiến dịch mười năm tàn sát tập thể và tẩy rửa chủng tộc của Slobodan Milosevic.

Ðó là quan điểm của tôi mà ít ra nó cũng được chia sẻ bởi vài người Serbia ngồi chung bàn. Giống hầu hết các thị dân dưới 40 tuổi, họ đều là người có đầu óc tứ xứ và cấp tiến, những kẻ khinh miệt cái lý thuyết người Serbia siêu đẳng của Milosevic. Nhưng cũng giống hầu hết người Âu, họ đánh giá việc người nước ngoài xâm lấn một quốc gia có chủ quyền là một hình thức chuyên chế, có thể còn tệ hại hơn sự chuyên chế của vị nguyên thủ quốc gia trước đây của họ.

Họ nổi giận với chúng ta, những thành viên NATO, về việc đã chờ đợi nhiều năm trời mới nhận dạng tên sát nhân đang ngồi trên đầu trên cổ họ, và còn nữa, về việc đã dùng vũ lực để hất cẳng hắn. Ở đây, chúng ta có một vấn đề nghiêm trọng nhất thời đại: chúng ta không biết hành động thế nào để nhận dạng một chính thể chuyên chế. Ðối với một số người, đó là hành động của một lãnh đạo bất xứng. Ðối với một số người khác, đó là hành động xâm lấn. Sự chia rẽ ấy dẫn tới thảm hoạ của người Balkan, và ngay trong tuần lễ này, nó xé thế giới ra làm hai về vấn đề Iraq.

Trong tuần lễ này, khi tôi đi qua những thành phố bị xâu xé của một “châu Âu mới”, tôi dự một cuộc trao đổi thư tín rất có giá trị về đề tài này với Mark Lilla, một triết gia ở Ðại học Chicago, người mới đây đã vật vã với khái niệm về một chính thể chuyên chế.

Lilla tin rằng cả người Âu lẫn người Mỹ đều bế tắc trong sự lưỡng phân lớn lao của thế kỷ 20: chế độ dân chủ chống chế độ chuyên chế. Ðối với người Mỹ, chế độ dân chủ biện minh cho cuộc chiến tranh chống chế độ chuyên chế. Ðối với người Pháp và người Ðức và nhiều người dân châu Âu khác thì chiến tranh là chuyên chế.

Vì kinh nghiệm của châu Âu về chủ nghĩa toàn trị và những cuộc chiến tranh khủng khiếp mà chế độ ấy gây ra, nên theo Lilla, đối với người châu Âu “họ đặt định rất cao mốc đo lường để có phản ứng, và dường như đối với hầu hết người Âu thì Saddam Hussein rõ ràng được xếp loại nằm hẳn dưới định mức đó. Và theo suy nghĩ của người Âu, sự thách thức nào mà được xếp loại nằm dưới định mức đó thì phải lờ đi vì nỗi hăm dọa của chiến tranh là cái tồi tệ nhất trong mọi cái độc dữ.”

Thí dụ, hãy nghe lời của Ngoại trưởng Ðức Joschka Fischer nói trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc hôm thứ tư 19.3 vừa qua: “Những ai biết lịch sử của châu Âu chúng tôi đều hiểu rằng chúng tôi không đang ở trên sao Kim, mà đúng hơn, chúng tôi là những kẻ sống sót trên sao Hoả. Chiến tranh thì kinh hoàng. Nó chỉ có thể là một phương sách cuối cùng mà thôi.”

Khi nghe lời nói đó, tôi có hai ý nghĩ. Thứ nhất, rằng người Ðức đã trở thành kẻ yêu chủ nghĩa hoà bình một cách gần như di truyền (và đó là cái đáng khao khát, phải không?). Thứ hai, rằng theo cái nhìn của Fischer thì sự độc dữ chủ yếu của Hitler là ở việc hắn xâm lược các quốc gia có chủ quyền và việc hắn gây ra cuộc chiến tranh chống lại nước Ðức – chứ không phải chế độ toàn trị của hắn tại Ðức hoặc việc hắn bức hại chủng tộc. Những kẻ khác, những kẻ không chịu đựng những năm dài bom đạn, có khuynh hướng đảo nghịch phương trình đó.

Quan điểm của người Âu cho rằng chủ nghĩa quân phiệt là con tim của chủ nghĩa chuyên chế, đã dẫn tới hiện tượng bất động khủng khiếp đối với Milosevic. Lilla viết: “Chủ nghĩa chống phát xít có thể được dùng để biện minh cho sự can thiệp, trên căn bản rằng người Serbia đang can tội diệt chủng. Nhưng nó cũng có thể biện minh cho thái độ trung lập, trên căn bản rằng lực lượng vũ trang của châu Âu không bao giờ nên động binh lần nữa trừ lúc nó bị tấn công trực tiếp. Rất ít người Âu có thể giảm khinh cho trường hợp ấy dù Milosevic không phải là Hitler, hắn là một bạo chúa nguy hiểm, kẻ phải bị tiến đánh bằng những phương thế tương xứng với nguy cơ mà hắn đặt ra.”

Bốn năm sau, thế giới đối mặt một nứt rạn chết người khác, căn cứ vào cái mà Lilla gọi là “một sự mất định hướng có tính chiến lược” ở khắp phương Tây. Ông giải thích thuật ngữ ấy với tôi theo cách này: “Người Mỹ thấy mình đang miêu tả Saddam Hussein như một nguy cơ toàn trị tức thời và không chút nào đáng tin. Người Âu thấy điều đó nhưng cho rằng kết luận như thế là sai, tới độ vì thế không cần thiết phải có phản ứng mạnh mẽ nào. Không bên nào có lập trường có sức thuyết phục về việc phải ứng xử ra sao với sự đa dạng của các chính thể chuyên chế mà phương Tây đang đối mặt hôm nay.”

Thế kỷ 20 dạy chúng ta sự chọn lựa giữa chế độ toàn trị và chế độ dân chủ. Nhưng hôm nay, chúng ta bị mắc bẫy trong bụi gai giữa các bức tường bở vụn. Chúng ta bị buộc phải phân định cho ra, theo Lilla, “những chủng loại chính thể chuyên chế muôn hình muôn vẻ và những loại chế độ “đàng hoàng” ở mức tối thiểu – dù không có tính cách hiện đại hoặc dân chủ – nhưng dứt khoát sẽ cải thiện so với chính thể chuyên chế.”

Như thế, tuần này, chúng ta bị mắc kẹt giữa sự đánh giá thấp của người Âu về một chính thể chuyên chế và sự đánh giá quá đáng của người Mỹ – một sự đánh giá mà chính nó bị người Âu và người Canada coi là một hình thức chuyên chế. Bàn tay vô minh đang rửa bàn tay lãnh đạm.

Nguyễn Ước, 1947, giáo viên, nhà văn, nhà báo, dịch giả, chuyên viên công tác xã hội. Sống tại Canada từ 1991.
Tác phẩm: Bài ca người nô lệ mới (thơ, trước 1975), Tội của họ (kịch, trước 1975)
Tác phẩm dịch và biên khảo: Chuyện Kinh Thánh (Pearl Buck), Krishnamurti: Cuộc đời và Tư tưởng (3 tập), Về từ cõi chết (Elie Wiesel)… và hơn 10 tác phẩm khác

© 2003 talawas

 
© talawas 2026