trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
25.2.2005
Phạm Toàn
Cành đào và cành hải đường
 

Có thể đây là thói quen nghề nghiệp (cầu Giời cho không phải là méo mó nghề nghiệp) nên tôi thường hay nghĩ về sự phát sinh nhận thức người. Chẳng hạn như nghĩ về việc này: tại sao có chuyện cành đào và cành hải đường được trọng vọng bởi những người nhận mình là thanh lịch, hoặc nhận mình là đậm đà bản sắc dân tộc. Cái người đầu tiên đã làm cho cành đào và cành hải đường trở thành biểu trưng của cách đón xuân truyền thống, người ấy học được cách làm này từ thày dạy nào hoặc từ sách vở nào?

Và ta hình dung chơi cho vui một chuyện sau. Từ hồi ấy, chuyện xảy ra cách đây lâu lắm rồi. Lâu bao nhiêu? Có mà Giời biết! Riêng tôi chỉ nhớ đó là lâu lắm rồi. Sáng hôm đó, trời mưa lay phay, gió xuân ve vãn mấy cành lá đầy lộc non ngoài vườn. Bữa đó, có một ông già – phải, một ông già, mặc dù tôi rất hồ nghi năng lực thẩm mỹ của không ít ông già – ông muốn nói điều gì đó với con mình. Ông già kia nhìn trời đất, ông già nọ lắng nghe tiếng gió rất khó nhận ra giữa muôn vàn tiếng chíp chiu của những con chim nhảy lách tách ngoài vườn nhà mình. Ông già kia rất muốn nói một đôi điều với con trai con gái nhà mình. Giá như vào thời buổi bây giờ, ông chỉ việc mở tờ báo xuân thì đã có đủ các công thức quen miệng cho những điều cần nói năng vào buổi sáng đầu xuân này. Nhưng vào thời buổi xưa của ông già nọ, cách đây lâu lắm rồi, ông già chỉ có thể trông cậy vào cách diễn đạt của chính mình. To nhỏ, xấu đẹp, dài ngắn, hay dở… gì thì gì, đó là cách biểu đạt của chính ông.

Ông không nói, nhưng ông làm thay cho lời khi Lời chưa lên ngôi. Tôi đã thấy ông già nọ dắt hai bên, tay trái là cậu con trai, tay phải là cô con gái, ông dắt họ ra vườn. Ông khẽ ngắt một cành đào nho nhỏ, như thể sợ làm đau cái cây, sợ nó khóc thương và làm rơi những cánh hoa như nước mắt màu phấn hồng, và ông đặt cành đào vào tay cậu con trai. Rồi ông vin cành hải đường và cũng khẽ ngắt một cành hải đường nho nhỏ có mấy cái nụ màu cánh sen chúm chím, những lá xanh nõn nà khoẻ khoắn được ông trao vào tay cô con gái đứng bên. Ông muốn nói điều gì đó với các con. Nhưng ông không đủ lời. Không phải ông “tiết kiệm lời” như các nhà văn nhà báo sau này vẫn dạy nhau. Hoặc như các nhà văn viết kiếm hiệp ba xu bí lời chỉ biết thả một câu “bút thần khôn xiết tả”. Ông không có lời, mà nếu có thì ông không đủ lời.

Nhưng ông muốn dặn các con, dặn thế hệ sau hãy nâng niu thiên nhiên, hãy khẽ khàng với sự sống đang nhú mầm. Ông không đọc diễn văn, mà ông dùng hành động của chính mình, ông lấy thành tựu trong vườn của chính mình, ông trao Thiên Nhiên vào tay con trai con gái mình. Ông không dạy con cái phải thanh lịch. Ông dạy các con ngắt một cành cây đời đem vào nhà cắm lọ, làm một nghi thức tôn thờ cây đời xanh tươi, và vô tình ông đã dùng hành vi của mình để dạy các con thế nào là thanh lịch.

Thế rồi sự vụ cứ kéo dài năm này qua năm khác, đến cái độ sau này mấy ông làm luận án tiến sĩ đặt được thành một cái tên, gọi chuyện như thế đó là truyền thống. Những tác giả luận án thường chỉ nhầm một chút xíu. Do thiếu kỹ năng triết học, họ không giải thích nổi đó là truyền thống gì. Truyền thống ngắt cành cây à? Hay truyền thống kiếm tiền và vung tiền bằng cành cây?

Muốn trả lời đúng đó là truyền thống gì, không thể có cách nào khác ngoài việc lần ngược trở về nguồn, trở về với sự phát sinh sự vật. Và ta sẽ thấy mấy ông tiến sĩ ít triết học không nhìn thấy nổi trong hành vi của ông già một mối quan hệ căn bản giữa vật chất và tinh thần. Do chỗ mấy ông chỉ thấy vật chất và tinh thần là hai phạm trù hoàn toàn đối lập nên họ tạo lập ra hai phe chống chọi nhau, và họ cũng ăn đủ khi nhằm trúng cái phe đang lên để mà phù thịnh. Họ không thấy rằng qua hành vi của ông già gửi cành đào và cành hải đường cho con đó là sự gửi gắm cái tinh thần vào cái vật chất. Và một khi cái vật chất chứa đựng đúng cái tinh thần tương ứng thì cả hai thể vật chất và tinh thần cùng tồn tại trong một sự vật, cực kỳ chắc chắn.

Giống như cái tinh thần gọi bằng tình mẹ được gửi vào bầu sữa và sự bú mớm hoàn toàn vật chất của người mẹ. Giống như một tiếng nói muốn gửi vào mênh mông, thì thoạt đầu cứ nói và gõ xuống đất, sau rồi mới có cái mõ thay cho đất, sau rồi mới có thêm khói hương để mong gửi đi cao xanh hơn. Giống như trong tấm huân chương có sự vật chất hoá cái tinh thần hy sinh xả thân.

Đến một lúc đời bị chi phối bởi những “hiểu lầm” và sự lợi dụng những hiểu nhầm. Cành đào càng to càng có giá. Dĩ nhiên đó là đào đi mua chứ không phải đào do tay mình trồng. Mà đi mua bằng đồng tiền chí ít cũng đáng ngờ như trình độ triết học của nhiều nhà triết học đương thời. Cành đào đã to, lại vặn vẹo cho thành những hình lạ kỳ rồng rắn. Những người làm vườn tra tấn cây cả năm để giáp Tết có được những cong queo thương tật mà càng tức mắt thì càng bộn tiền. Tinh thần nào rồi cũng bị lợi dụng. Cái thanh lịch trở thành những đống “củi giá cao” làm khổ những cô công nhân xe rác.

Khó gì mà chẳng có nổi một rừng đào ở ven đô thành. Sao trai thanh gái lịch không vào vườn đào mà thưởng thức cảnh xuân lại cứ làm đau thiên nhiên bằng những nhát dao? Chẳng nhẽ con người nơi núi cao – vẫn bị phân biệt về mặt dân trí – lại không biết gì đến cái sắc xuân tinh thần gửi trong những cốt lõi vật chất trong những rừng đào Sa Pa và rừng mận Bắc Hà hay sao?

© 2005 talawas

 
© talawas 2026