Nguyễn Trọng Đức
Là một độc giả thường xuyên của Tạp chí Mỹ thuật, đồng thời cũng là người yêu mến và quan tâm tới nghệ thuật, tôi lấy làm ngạc nhiên khi Tạp chí Mỹ thuật số 24 mới nhất gần đây (ra tháng 12/1999) lại đăng bài viết của ông Triệu Thúc Ðan phản bác lại bài “Suy nghĩ cuối thế kỷ về văn hoá thị giác” của tác giả Lê Thanh Ðức đăng trên một tạp chí khác cách đây vài tháng (Tạp chí VHNT số ra tháng 06/99). Vấn đề đơn giản là bài của ông Triệu Thúc Ðan không có tính khách quan, qua đó thể hiện thiện ý xây dựng của người viết, mà ngược lại, chỉ là kiểu “dọn vườn”, chỉ trích đầy tính cá nhân, chưa nói đến sự thiếu sang trọng câu chữ cần thiết của người có văn hoá khi viết về văn hóa. Trong khi tác giả Lê Thanh Ðức viết một bài có tính khoa học, nghiêm túc, tổng hợp kiến văn sâu sắc của một học giả nhiều năm nghiên cứu ở lĩnh vực này, qua đó đưa ra những suy nghĩ chân thành, tâm huyết và thiết thực của ông về văn hoá Việt Nam trước thềm thế kỷ.
Bài viết “Suy nghĩ cuối thế kỷ về văn hoá thị giác” của tác giả Lê Thanh Ðức là một bài viết có tính xây dựng hữu ích không chỉ đối với hướng phát triển của văn hoá Việt Nam nói chung, hay với thế hệ trẻ Việt Nam làm nghệ thuật nói riêng, mà còn là vấn đề chung trên toàn cầu. Nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi mà thế giới đang chịu chung một tình trạng bị thông tin quảng cáo lũng đoạn và văn hoá nghe nhìn lấn át, dẫn đến những lầm lẫn đáng tiếc về thông tin, về hàng thật, hàng rởm, trong đó không thiếu cả lầm lẫn về cái đẹp. Sự đăng quang của máy móc và khoa học kỹ thuật ở thế kỷ này đem lại cho con người tiện nghi và lợi nhuận nhưng cũng biết bao mối lo về văn hoá tinh thần. Người ta sợ mất đi chữ Việt bởi công nghệ máy tính, mất đi ngôn ngữ bởi các lối thông tin vắn tắt, mất đi tiểu thuyết bởi người xem tivi nhiều hơn đọc sách, mất đi nhạc sống bởi kỹ thuật phối nhạc qua máy tính và đàn oóc-gan điện tử… Hiện nay, ngoài công nghệ thông tin truyền hình, công nghệ máy tính, còn có công nghệ sản xuất âm nhạc, nghe đã có vẻ kỳ dị, và xuất hiện nhiều thứ công nghệ khác nữa, mà con người vừa đẻ ra kỹ thuật, vừa là nạn nhân của kỹ thuật. Người ta đang tìm cách lọc thông tin và lọc nhiều thứ ảnh hưởng khác nhau.
Nước Nhật có không ít hơn một thế hệ trẻ em vẽ tranh rập khuôn như truyện tranh Ðô rê môn hay hoạt hình Thuỷ thủ mặt trăng. Chẳng còn sự tưởng tượng mới lạ nào khác. Người Nhật đã công nhận sai lầm của họ, chưa kịp sửa sai, thì thứ văn hoá đại chúng giải trí ấy lại ào sang Việt Nam, quá nhiều, tới mức người lớn cũng xem Ðô rê môn. Một triển lãm khác về đồ họa hiện đại của Nhật, trưng bày tại Cung văn hoá Hữu nghị Việt Xô cách đây vài năm, không nhiều tranh, nhưng cũng đủ cho thấy sự khô khan ảnh hưởng của tư duy máy móc và nghệ thuật quảng cáo lên thẩm mỹ nói chung. Nhiều thứ công nghệ sản xuất các mặt hàng tiêu dùng, bao gồm cả in ấn sách báo, cốt nhanh-nhiều-tốt-rẻ, lợi nhuận cao, bán chạy, mà ít chú trọng tới sự tinh tế thẩm mỹ hay giáo dục thẩm mỹ. Nước ta là nước đi sau thiên hạ về kinh tế thị trường, càng cần phải cảnh giác trước mọi ô nhiễm văn hoá, trong đó đáng kể là văn hoá thị giác. Tôi e rằng một số việc ông Ðan chưa nắm được kỹ, nên ông vội cho rằng ví dụ về Nhật Bản trong bài của tác giả Lê Thanh Ðức là chưa đủ thuyết phục.
Văn hoá thị giác là điều tất yếu cần thiết, như mọi con người sinh ra đều cần có giáo dục và cần nâng cao trình độ văn hoá. Như người ta vẫn có môn giáo dục thẩm mỹ trong nhà trường. Văn hoá thị giác là bậc cao hơn và khó hơn mà con người luôn luôn cần vươn tới để hoàn thiện chính mình. Càng là thiết yếu đối với những người hướng nghiệp theo nghệ thuật. Lênin nói một câu giản dị và nổi tiếng: “Học, học nữa, học mãi!”. Nhiều người trong ngành âm nhạc và nghệ thuật thì nói rằng: “Năng khiếu bẩm sinh là quan trọng nhất, sau đó đến học. Nhưng nếu chỉ dựa vào năng khiếu thuần tuý thì không đi xa được. Phải học thì tài năng mới đi xa và phát triển”. Cái học này bao gồm trước hết học văn hoá cho thành người, sau thành nghề, thành một nhân cách lớn. Danh hoạ Nguyễn Sáng từng nói: “Trong sáng tạo, hoạ sĩ vừa là triết gia và nhà tư tưởng thì tác phẩm mới hay”. Thiết nghĩ, vài câu nói trên không xa với ý nêu trong bài của tác giả Lê Thanh Ðức là bao, nếu không muốn nói là cùng ý tưởng. Tôi còn muốn bổ sung rằng, chỉ để thưởng thức thôi người ta cũng còn phải học, học nghe nhạc, học xem tranh, học để nâng cao thẩm mỹ… Rất tiếc, những nội dung chính và ý tốt trong bài của tác giả Lê Thanh Ðức như: nhắc nhở thanh niên học tập, trau dồi văn hoá và nhân cách, nâng cao văn hoá thị giác và tư duy tạo hình… thì ông Ðan lại không nhìn thấy, ông cứ như người mặc cảm hàm hồ mà “nóng mặt” lên. Cả những cảnh báo của tác giả Lê Thanh Ðức về mặt trái của cơ chế thị trường, về lối sống chạy theo cám dỗ vật chất, thích hưởng thụ, ít chịu hy sinh… cũng là cần thiết, không thừa, nhất là đối với lớp trẻ. Ông Ðan không nên hiểu lầm thành sự đánh giá “chụp mũ” cho cả thế hệ.
Một vấn đề khác ông Ðan có đề cập tới nhưng lại mập mờ, thiếu rõ ràng, không hiểu ý ông muốn gì. Tuy nhiên, tôi có thể nói thẳng ra rằng, vấn đề sáng tác văn nghệ theo “phương pháp hiện thực XHCN” mà một thời Ðảng và Nhà nước Liên Xô đặt ra, đầu tiên trong văn học, sau ảnh hưởng sang nghệ thuật, đã được chính họ công nhận là có sai lầm, làm hạn chế và xơ cứng sáng tạo. Ðiều này báo chí văn nghệ Liên Xô đã nhắc đi nhắc lại rất nhiều lần trong giai đoạn cải tổ và công khai báo chí. Tất cả những ai quan tâm tới tình hình văn hoá nghệ thuật thế giới đều biết. Thực chất tác giả Lê Thanh Ðức chỉ lướt qua vấn đề này như một ví dụ cho sự dồn nén sáng tạo của nghệ thuật Việt Nam, có một giai đoạn từng ảnh hưởng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa của Liên Xô cũ, hơn nữa, cũng còn do hoàn cảnh chiến tranh kéo dài của đất nước, chưa hội đủ điều kiện để nghệ thuật phát triển. Ðiều này hoàn toàn đúng, cho nên mới dẫn đến các chính sách “đổi mới” sáng suốt và kịp thời của Ðảng và Chính phủ ta vào năm 1986, cho phép mở cửa, hội nhập và giao lưu văn hoá quốc tế. Hình như ông Ðan cứ nói mập mờ sang thành chuyện “quan điểm, lập trường”, bé xé thành to, một lối chơi mà trong thể thao thường gọi là “không đẹp mắt”. Tuy nhiên, tôi cho rằng, trong cuộc sống ai là người chẳng có lúc từng sai. Sai lầm của một con người, một chính sách, một chế độ quốc gia là chuyện bình thường, từng có trong lịch sử thế giới. Mà nước Ðức là một ví dụ không nhỏ. Có sai mới có đúng. Tránh được sai là tốt nhất. Quan trọng là biết sửa sai, học hỏi và cầu tiến. Trẻ con vẫn thường được dạy như vậy. Chỉ có bảo thủ, giáo điều mới là đáng sợ, nó kìm hãm mọi sự tiến bộ.
Nghệ thuật càng không bao giờ là giáo điều. Con đường của nghệ thuật là đổi mới và sáng tạo. Chẳng cứ hoạ sĩ Phạm Viết Hồng Lam (như trích dẫn trong bài) mà bất cứ họa sĩ chân chính nào cũng trăn trở, khát khao vươn tới cái mới. Không có sự giậm chân tại chỗ trong nghệ thuật. Dù Phạm Viết Hồng Lam có tuyệt vời rồi, đậm đà bản sắc dân tộc rồi, thì trên con đường nghệ thuật của mình, anh vẫn đi tìm cái mới và chưa hài lòng với những cái đã có. Ðó là nhu cầu tự nhiên nhất của sáng tạo, hay chính xác hơn, là bản chất của sáng tạo. Chắc chắn ông Ðan phải biết rõ điều này hơn ai hết, bởi ông từng là giảng viên của một trường Mỹ thuật. Lẽ nào ông cứ cố tình hiểu lệch ý người khác, và hiểu một cách thô thiển rằng sự “vượt tường” tức là đi đến chỗ không còn giữ bản sắc dân tộc nữa, hay nói rộng hơn, cụm từ “văn hoá thị giác và tư duy thị giác” chỉ là cái siêu thực, bác học của nước ngoài chứ ông Ðan đây nhất định từ chối không chịu hiểu. Lạ hơn, trong khi ông Ðan cũng học tiếng Pháp và chăm dùng tiếng Pháp (ngay cả khi viết bài), chính ông cũng dạy học trò bằng những kiến thức rút ra từ sách Pháp, nhưng ông lại khó chịu khi thấy người khác cũng đọc sách nước ngoài và tiếp thu từ đó kiến thức quý báu. Hay ông cho rằng chỉ có mình ông mới biết cách đọc sách nước ngoài, còn người khác thì hỏng. Như vậy có phi lý quá chăng?
Những vấn đề tác giả Lê Thanh Ðức đề cập tới về tình trạng phê bình mỹ thuật của ta hiện nay còn yếu là hoàn toàn đúng. Số bài viết tạm gọi có chất lượng rất hiếm hoi, số người nhập cuộc thực sự càng hiếm, tính nghiệp dư thì nhiều: Chẳng có gì phải tự ti, bởi cũng còn có được một lý do đáng kể, ngành phê bình của ta còn quá non trẻ, mới bắt đầu vài chục năm nay, trong khi châu Âu đã có vài thế kỷ, nếu kể từ Vasari (1511-1574) người Ý – được coi là mở đầu và đặt nền móng cho Sử học mỹ thuật. Nên biết người biết ta để mà cố gắng phấn đấu hơn nữa. Học hỏi tiếp thu kiến thức nước ngoài có gì là xấu. Biết bao người còn phải đi nước ngoài học để nâng cao kiến thức và lấy bằng cấp.
Ông Ðan đừng quá chạnh lòng buồn phiền khi tác giả Lê Thanh Ðức có nêu tên một số sách nước ngoài, là gợi ý giúp ích cho bạn đọc yêu mến nghệ thuật và giới phê bình tiếp cận tới những kiến thức sâu rộng hơn về nghề nghiệp. Có thể ông Ðan biết rồi nhưng còn nhiều người khác chưa biết. Thư mục sách tham khảo thường là cái người ta quý nhất, vưà là trang sách đầu tiên cần lướt qua trước khi bước vào nội dung chính. Tôi còn biết, có những người có tính đặc biệt, lại thích giấu tư liệu và giấu tên sách chỉ để riêng mình biết.
Tên một vài danh nhân, di tích văn hoá nước ngoài, hay tên các nền văn minh lớn trên thế giới mà tác giả Lê Thanh Ðức đề cập trong bài viết của mình đề minh họa cho những thành tựu văn hoá lớn của nhân loại, mà ông Ðan cho là “lấp lánh những tên đất, tên người… xa lạ”, nếu ông nói thực lòng thì quả là ông hơi ít đọc ở vị trí thầy giáo môn “lịch sử mỹ thuật thế giới”. Nhưng tôi không muốn tin như vậy.
Còn nếu ông mỉa mai giễu cợt thì lại là chuyện khác. Việc trả lời từng vấn đề vụn vặt mà ông Ðan đặt ra, (có lẽ vì tự ái cá nhân chăng, hay chạnh lòng không phải lối?), tôi cho là mệt mỏi vô ích. Chắc các bạn đọc đều có chính kiến của mình. Tôi không có ý định tranh luận cùng ông Ðan. Bằng trách nhiệm bé nhỏ của người đọc, và sự chân thành cá nhân, tôi chỉ muốn trao đổi riêng với Tạp chí Mỹ thuật những cảm nghĩ của mình qua hai bài báo.