trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
7.7.2003
 
Cải cách giáo dục tiểu học 2002-2003
Báo cáo của Bộ GDĐT
 

Từ I qua O sang A đến chữ E

Cuộc “cách mạng” từ tuổi lên 6

Vậy là một cuộc “cải cách giáo dục” mới lại sắp bắt đầu. Nhiều người đã thực sự tỏ ra lo lắng ngay khi Bộ Giáo dục và Đào tạo (GDĐT) khẳng định sẽ vẫn đưa sách giáo khoa (SGK) lớp 1 và lớp 6 triển khai đại trà vào năm học 2002-2003.

“Chỉ con Cừu được tôn trọng?”
Điều khiến dư luận băn khoăn nhất là những cuốn sách được làm vội vàng, để lại quá nhiều sai sót. Nhà văn Trần Mạnh Hảo trong một bài viết mới đây nhấn mạnh: “Cải cách” động trời của cuốn SGK “Tiếng Việt 1” là việc lấy nguyên âm e thay cho nguyên âm a, dạy chữ e trước, xáo trộn toàn bộ bảng mẫu chữ cái Latinh của chữ quốc ngữ truyền thống, thứ tự mà cả thế giới hàng nghìn năm nay vẫn dùng. Còn theo PGS-TSKH Nguyễn Kế Hào: Sách lạm dụng hình, trình bày nhiều chỗ chưa thoát, gây quá tải, trong khi mục tiêu đề ra lại thấp (thấp hơn giai đoạn thập niên 90 của thế kỷ trước). Sách Toán lớp 1 dạy phép cộng và phép trừ không nhớ trong phạm vi 100 là không thích hợp, là quá tải và làm rối rắm tư duy của trẻ. Trong khi đó, sách Toán lớp 1 lại trình bày theo hướng chủ đạo là kiểu trắc nghiệm, không thích hợp với lứa tuổi bắt đầu đi học. Học theo sách này, học sinh sẽ là người đóng vai phụ. Sách Tự nhiên – Xã hội lớp 1 lại được viết như sách dành cho trẻ em mẫu giáo lớn vì nhìn vào sách, trẻ em chỉ việc nhận diện chứ không phải suy nghĩ…”.

Nhiều nhà khoa học đã chỉ ra một cách chi tiết: Mặc dầu dạy ngay vào chữ e, nhưng bài này lại có tới 9 minh hoạ chẳng ăn nhập gì với chữ e mà trẻ đang học (ếch học bài, chim dạy hát…). Sang bài 2 dạy thêm chữ b, ghép với e thành be nhưng lại có hình vẽ bà cụ (gợi ý chữ , nhưng a lại chưa được học). Tác giả Trần Xuân cho biết: “Từ bài 1 đến bài 27, các chữ đầu câu và tên người không viết hoa, hết câu không chấm (nhưng lại phẩy). Còn từ bài 28 trở đi, chữ hoa lại được đem dùng rất phung phí, nghĩa là tên các loài vật đều được viết hoa (Cừu, Khỉ, Rùa, Sẻ, Cá, Sên, Kiến…) Những tên kép như: Bói Cá, Dế Mèn, Chào Mào, Sáo Sậu… viết hoa cả hai từ (trừ tu hú=Tú hú). Trong một câu, cừu được viết hoa (Cừu) còn hươu, nai thì không(?); lợn, giun, cò, chuồn chuồn… cũng liệt vào loại “không được tôn trọng” nên không viết hoa(!)”…

Đó là chưa kể đến thứ tự của 5 dấu truyền thống: Huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã đã được xáo trộn thành: Huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng.

Sẽ phải trả giá đắt?

Trao đổi với phóng viên báo Lao Động, TSKH Nguyễn Kế Hào (nguyên Vụ trưởng Vụ Tiểu học, Bộ GD-ĐT) nói: “Bộ sách mới dành cho lớp 1 mà NXB Giáo dục vừa in xong cần phải được viết lại chứ không chỉ là điều chỉnh, bằng không sẽ phải trả giá đắt”. GS-TSKH Hồ Ngọc Đại gay gắt hơn: ‘Tôi hoàn toàn có tư cách khoa học và trách nhiệm đảng viên nói quyển sách Tiếng Việt lớp 1 do Dự án tiểu học biên soạn vội vàng là một việc làm bất hợp pháp, phản khoa học và phi đạo lý…Tôi kính mong các đồng chí có trách nhiệm của Chính phủ và Đảng đừng để xảy ra sự việc rất đáng xấu hổ đó cho đất nước và cho Đảng ta”.

Cô Nguyễn Bích Loan (Hiệu trưởng Trường Tiểu học Kim Giang, HN) cho biết: Dạy các cháu viết chữ a dễ hơn dạy chữ e. Còn cô Dung, Hiệu trưởng Trường Tiểu học Trung tự (HN) – trường chuẩn quốc gia – thì cho rằng: Dạy chữ e trước phải hết sức cẩn thận kẻo các cháu dễ nhầm với chữ l (e lờ)…

Ông Nguyễn Hữu Trúc (Hiệp hội UNESCO VN) đã rất bức xúc khi viết thư cho chúng tôi: “Cải cách, thay đổi là cần thiết nhưng người ta chỉ thay đổi những gì sai, cái gì không phù hợp. Còn cái gì đã đúng, đã hợp lý mà thay đổi thì không được và nhất là lại dùng hàng triệu trẻ em ngây thơ, trong trắng ở độ 6 tuổi làm những “con thỏ” để thí nghiệm thì là có tội với các em, có tội với nhân dân…”

Nhóm PV KT-XH



*

Mảng sáng lại bị thu hẹp…

Sau 2 năm thực hiện, bức tranh của giáo dục tiểu học mảng sáng ngày càng sáng hơn, mảng tối đỡ tối hơn và ngày càng thu hẹp lại. Nhưng…

Vậy mà đã phải thay đổi quá sớm, “Chiến dịch 1.6.2002” của Nhà xuất bản Giáo dục đã in xong sách mới cho học sinh lớp 1 cả nước trong khi đó thì giáo viên, các bậc cha mẹ và các ngành, các cấp đều chưa sẵn sàng tiếp nhận. Riêng giáo viên dạy lớp 1 thì thật khó nói. Nhìn vào bộ sách giáo khoa (SGK) mới, nhiều người hoài nghi, họ than phiền, rằng sách tiếng Việt và sách Toán quá tải đối với trẻ em 6 tuổi lần đầu cắp sách tới trường, rằng sách quá đắt so với túi tiền và mức sinh hoạt của nhiều người dân, rằng sách chỉ được dùng một lần rồi bỏ đi ngay như vở nháp, rằng sách còn quá nhiều hạt sạn, rằng đồ dùng học tập của học sinh giá cao nên con nhà nghèo không mua nổi, rằng nhiều điều trong SGK khiến giáo viên không hiểu, mà khi tập huấn thay sách đem hỏi cán bộ hướng dẫn thì chỉ nhận được câu: “Cấp trên đã nghiên cứu cả rồi, cứ thế mà làm!”, rằng chương trình thiết kế cho học sinh học 1 buổi/ ngày và 2 buổi/ngày đều như nhau, v.v và v.v…

Thêm vào đó, nhiều giáo viên tiểu học nếu bị đánh giá là không đủ năng lực dạy theo SGK mới đành đứng trước nguy cơ không được tiếp tục dạy học! Đặc biệt là ở vùng núi, vùng sâu vùng xa, nhiều giáo viên chưa đạt chuẩn đào tạo, nhiều trẻ em khi vào học lớp 1 còn chưa biết nói tiếng phổ thông (tiếng Việt), chưa biết đếm đến 10 thì việc dạy và học ở những nơi này sẽ ra sao? Phải chăng, bức tranh giáo dục tiểu học sẽ thay đổi theo hướng ngược lại, mảng sáng bị thu hẹp và mảng tối sẽ tối hơn và lan rộng ra, sự lộn xộn và tiêu cực sẽ gia tăng. Vì bộ sách mới chỉ được thử nghiệm ở những nơi thuận lợi, trong khuôn khổ của dự án chứ không tính đến những nơi khó khăn, không quan tâm đầy đủ đến điều kiện đại trà (từ dự án ra đại trà còn là khoảng cách lớn).

PGS-TSKH Nguyễn Kế Hào



*

Ưu điểm lớn – khuyết điểm nhỏ

Bộ Giáo dục – Đào tạo trả lời

Để chuẩn bị khai giảng năm học 2002 – 2003, năm học bắt đầu triển khai chương trình, sách giáo khoa mới ở lớp 1, lớp 6, trong hai tháng 4 và 5.2002, Bộ đã huy động 124 báo cáo viên, tổ chức bồi dưỡng cho 6.031 giảng viên cốt cán (2.842 giảng viên lớp 1 và 3.189 giảng viên lớp 6). Trong hè 2002, các địa phương đã tổ chức bồi dưỡng cho tất cả hiệu trưởng các trường tiểu học, trung học cơ sở và toàn bộ giáo viên dạy lớp 1, lớp 6 và giáo viên dạy thí điểm ở lớp các lớp trên về chương trình, sách giáo khoa mới; phương pháp giảng dạy và cách đánh giá kết quả học tập của học sinh; thực hành soạn bài, sử dụng thiết bị, làm đồ dùng dạy học.

Nhà xuất bản Giáo dục đã phối hợp với các công ty sách và thiết bị trường học các địa phương phát hành 52,5 triệu bản SGK lớp 1 và lớp 6 mới, đáp ứng đầy đủ nhu cầu SGK và các tài liệu phục vụ năm học mới ở tất cả các vùng, đặc biệt là các vùng khó khăn. Theo dự báo, tổng số học sinh tiểu học nhập học năm học mới là 8,998 triệu em.

Thực hiện sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong hè 2002, UBND các tỉnh, TP đã tập trung vào công tác bố trí, bồi dưỡng giáo viên, đề ra các giải pháp khắc phục một phần tình trạng thiếu giáo viên và đội ngũ không đồng bộ, ưu tiên sắp xếp đủ giáo viên dạy lớp 1, lớp 6 phát hành SGK mới và mua sắm thiết bị, đồ dùng dạy học. Các tỉnh, TP cũng đã điều tra, thống kê cụ thể vầ số lượng và địa chỉ các phòng học tạm bợ, cần cải tạo, xây dựng, nâng cấp. Bộ Tài chính cũng đã trình Thủ tướng Chính phủ các giải pháp kịp thời về nguồn tài chính đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông. Đó là bước đầu quan trọng để việc triển khai chương trình, sách giáo khoa mới ở lớp 1, lớp 6 cũng như ở các lớp tiếp theo đạt kết quả tốt đẹp.

  1. Việc bắt đầu học từ chữ e chỉ là một phương án giảng dạy cụ thể, hoàn toàn không phải là sự thay đổi thứ tự bảng chữ cái. Trên thực tế, sẽ rất khó khăn nếu dạy học vần cho học sinh lớp 1 theo đúng thứ tự của bảng chữ cái.

    Ở nước ta, đã nhiều lần và từ lâu, có những phương án dạy tiếng Việt không bắt đầu từ chữ a. Năm 1939, Hội Truyền bá học Quốc ngữ đã thực hiện phương án dạy ghép vần của học giả Hoàng Xuân Hãn cho cả người lớn và trẻ em bắt đầu từ chữ i. Hiện nay, cách dạy này (phương pháp i tờ) vẫn được áp dụng cho các lớp xoá mù chữ. Từ năm 1981, tất cả các trường phổ thông đều dạy cho học sinh bắt đàu từ chữ o. Như vậy, việc dạy học sinh bắt đầu từ một chữ nào đó trong 29 chữ cái là một phương án dạy học cụ thể, mỗi phương án đều có những ưu điểm và nhược điểm. Vấn đề quan trọng là lựa chọn phương án nào để học sinh bắt đầu vào học lớp 1 có thể nhanh chóng, dễ dàng đọc, viết và ghép vần đối với những chữ cái mà các cháu học được. Các phương án dạy học cụ thể ấy không ảnh hưởng đến thứ tự của bảng chữ cái. Thực tế, mở đầu sách Tiếng Việt 1 tập một (trang 2, trang 3) đã trình bày bảng chữ cái theo tứ tự a, ă, â, b, c… Đến trang 58, lại trình bày bảng chữ cái ấy gồm chữ viết, chữ in thường và hoa.

    Kết quả dạy thí điểm trong 4 năm vừa qua theo phương án của sách giáo khoa mới (bắt đầu dạy từ các chữ e, b) cho thấy học sinh tiếp thu tốt, hầu như chưa có giáo viên nào băn khoăn về việc lựa chọn phương án này.

  2. Về việc quay trở lại sử dụng mẫu chữ viết truyền thống, việc dạy học sinh viết chữ hoa và những sai sót trong một vài trường hợp viết hoa ở sách Tiếng Việt 1 tập một:

    Bộ GDĐT đã tiếp thu ý kiến của đông đảo các nhà giáo, nhà khoa học và phụ huynh học sinh, trở lại mẫu chữ trước năm 1981 (với một vài điều chỉnh). Việc làm này đã được các cơ quan có thẩm quyền đồng ý và được đông đảo dư luận xã hội hoan nghênh.

    Trong sách Tiếng Việt 1 tập một, những bài đầu, do quan niệm học sinh chưa học viết hoa nên đầu câu và danh từ riêng vẫn viết thường. Sau khi đã học chữ hoa, đầu câu và danh từ riêng đã viết hoa theo quy định. Tuy nhiên, do thiếu rõ ràng trong việc nhân cách hoá, có một vài trường hợp, tên con vật chỗ thì viết hoa, chỗ thì viết thường. Đây là sai sót, cần sửa.

  3. Về việc không ghi tên tác giả các đoạn trích trong sách Tiếng Việt lớp 1 tập 1 và 2:

    Bộ GDĐT thấy rằng, đây là thiếu sót, Bộ sẽ yêu cầu tác giả SGK và nhà xuất bản GD sửa chữa, ghi tên tác giả của mỗi đoạn thơ, văn hoặc đưa vào cuối sách danh sách các tác giả có thơ, văn được trích dẫn kèm theo lời cảm ơn.

  4. Về việc dạy dấu (sắc, huyền, hỏi, ngã, nặng) không theo thứ tự như một vài người yêu cầu:

    Trên thực tế, không có quy định bắt buộc. Hội Truyền bá học Quốc ngữ dạy theo thứ tự “huyền, sắc, nặng, hỏi, ngã”. Các từ điển cũng không thống nhất: Có quyển theo thứ tự “không dấu, huyền, sắc, hỏi, ngã, nặng”, có quyển theo thứ tự khác “không dấu, huyền, hỏi, ngã, sắc, nặng”…

    Bộ GDĐT thấy rằng, về cơ bản, SGK Tiếng Việt lớp 1 (mới) có nhiều ưu điểm, tốt hơn những cuốn SGK tiếng Việt đã được sử dụng. Qua thử nghiệm trong 4-5 năm tại hơn 400 trường tiểu học, đã được giáo viên chấp nhận; kết quả kiểm tra cuối năm học, có hơn 60% học sinh đạt loại khá, giỏi; sau xem xét kỹ lưỡng, Hội đồng Thẩm định quốc gia đã đề nghị phê duyệt, vì vậy Bộ GDĐT đã cho ban hành và sử dụng trong nhà trường. Đồng thời, với tinh thần thực sự cầu thị, Bộ GDĐT luôn nghiêm túc lắng nghe, nghiên cứu và tiếp thu các ý kiến xác đáng để chỉ đạo việc hướng dẫn giáo viên khi sử dụng và yêu cầu các tác giả chỉnh lý trong các lần tái bản, đồng thời rút kinh nghiệm trong quá trình biên soạn, xuất bản các bộ SGK cho các lớp tiếp theo.

 
© talawas 2026