trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
18.10.2002
Phan Ngọc
Cách nhìn văn hoá từ góc độ Hiện tượng
 

Tôi viết bài này vì bất đắc dĩ. Tôi có nghiên cứu văn học và văn hoá và xuất bản vài quyển sách. Những quyển sách ấy có được một số người chú ý. Tôi tự nhận là người làm việc thức nhận (prise de conscience), tức là suy nghĩ về các nguyên nhân dẫn tới sự suy nghĩ. Tôi có nói đến hai chữ “Hiện tượng” và “Thao tác luận” nhưng không giải thích hai chữ ấy. Trong thâm tâm tôi thấy không nên giải thích vì sẽ gây rắc rối. Nhưng gần đây trên tạp chí Tia sáng, số 7, năm 2001, tôi có được đọc bài của anh Ðỗ Lai Thuý mang nhan đề Phan Ngọctấm huy chương nhìn từ mặt trái, trong đó nói đến tấm huy chương Phan Ngọc và mặt trái của nó. Tôi đâu phải là “tấm huy chương”, tôi chỉ là một con người bình thường, giống như anh Ðỗ Lai Thuý và vô vàn người khác. Còn việc anh Thuý nhìn chưa đúng, thì lỗi là ở tôi. Tôi xin trình bày dưới đây quan điểm của tôi về cách nghiên cứu của mình. Chắc anh Thúy và các bạn cũng hiểu cho nói chuyện này cách đây trên ba mươi năm vào giai đoạn tôi viết quyển Phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều là không thể được. Tôi cũng không bàn đến lý do triết học của quan điểm của tôi. Bàn chuyện ấy còn rắc rối hơn và còn sẽ gây hiểu lầm nhiều hơn. Ðể các bạn có phê bình cũng đỡ phải mất công tìm hiểu, tôi chỉ xin nói rõ cách nhìn của mình trong những bài và sách tôi đã viết. Bởi vì nếu không trình bày thì câu chuyện cách làm của tôi còn gây rắc rối hơn nữa. Vả lại, tôi cũng đã già và thời gian để tiếp tục tranh luận không còn bao nhiêu.

Khi nghiên cứu một hiện tượng, dù đó là văn học như Nguyễn Du, Ðỗ Phủ, dù đó là triết học như Khổng giáo, dù đó là văn hoá như văn hoá Việt Nam hay văn hóa Trung Hoa, tôi không nghiên cứu bản thân hiện tượng, tức là không nghiên cứu bản thân Nguyễn Du, Ðỗ Phủ, Khổng tử hay một mặt nào đó của văn hoá. Tôi chỉ nghiên cứu mặt hiện tượng của nó mà thôi. Nghiên cứu một vấn đề ở bản thân nó thì đã có vô số người làm rồi, tôi có làm cũng chẳng sao bằng người ta được. Nếu nghiên cứu Truyện Kiều ở bản thân Truyện Kiều tôi không thể bằng những người đi trước, đừng nói đến Hoài Thanh, hay Ðặng Thanh Lê. Sự thực là thế. Trong việc nghiên cứu, mỗi người phải tìm cái góc mình có điều kiện thông báo hơn. Cho nên tôi phải tìm cái góc nhìn để qua đó lời nói của tôi có một thông báo với ai đó đọc tôi. Chính vì vậy tôi chọn góc nhìn hiện tượng.

Nột vật chỉ là một hiện tượng đối với tôi (bởi vì không có chuyện hiện tượng độc lập khách quan ngay lập tức với mọi người, nếu thế thì triết học sẽ là thừa) khi có ba điều kiện: Một là nó rất lạ, rất khác, so với những vật khác cùng loại mà tôi đã biết. Hai là tôi phải chú ý đến nó vì nó liên quan tới chính tôi, hoặc giúp tôi hiểu được chính tôi, hoặc nhờ nó tôi hiểu được xã hội của tôi. Nếu nó là một sản phẩm tinh thần, nó sẽ bắt buộc tôi hoặc phải chấp nhận nó vì nhu cầu nội tâm của tôi, hoặc phải chống lại nó vì nó sẽ đe doạ sự tồn tại của tôi. Ba là nó không chỉ có những tác dụng nhất định đói với tôi, mà xem ra tác dụng này còn biểu hiện cả đối với dân tộc tôi, cho nên tôi bắt buộc phải có một thái độ đối xử với nó, không thể thờ ơ với nó được. Ba quan hệ này không phải là bất biến mà lệ thuộc vào từng hoàn cảnh một. Khi tôi đói lả thì miếng bánh là hiện tượng đối với tôi: nó khác các vật khác ở điểm ăn được. Nó gắn liền với nhu cầu của tôi, một nhu cầu không thể thiếu được của con người với tính cách một sinh vật. Nhưng khi tôi no thì nó không còn là hiện tượng nữa.

Vậy nghiên cứu Truyện Kiều như một hiện tượng văn học tức là khẳng định cho được ba điểm. Một là Truyện Kiều khác tất cả các tác phẩm văn học khác ở những điểm nào. Hai là trong khi Truyện Kiều khác các tác phẩm khác một cách “chướng tai gai mắt” như vậy, đồng thời nó vẫn nói lên được một nhu cầu có thực trong tôi mà tôi không dám nói ra, không có nó chính tôi cũng không hiểu được tôi, cho nên tôi cần Truyện Kiều như một thức ăn không thể thiếu, không thể thấy ở các thức ăn khác. Ba là cái nhu cầu ấy có thực không chỉ ở tôi mà ở cả dân tộc tôi, không chỉ hôm nay mà có thể nói ngót hai trăm năm rồi, và xem ra không thể mất được. Ðây là một nhu cầu thuộc loại vĩnh viễn ở động vật người.

Xuất phát từ quan điểm này, tôi phải tìm cái khác biệt ở Truyện Kiều so với các tác phẩm văn học khác, bởi vì nếu Truyện Kiều giống như các tác phẩm văn học khác, tại sao trong lòng tôi và cả nhân dân tôi không thèm khát các tác phẩm văn học khác bằng thém khát Truyện Kiều? Nhưng đồng thời tôi lại phải chứng minh cái khác ấy là vĩnh viễn ở ngay con người. Ðã là người thì khắc có những khao khát thuộc loại tôi thấy trong Truyện Kiều. Nói khác đi, các tác phẩm bất tử của loài người đều có cái mặt hiện tượng như tôi đã nói. Khi một người nghiên cứu văn hoá ở khía cạnh thức nhận, anh ta có quyền chỉ tập trung vào mặt này thôi, còn những mặt khác phải nhường cho người khác.

Cách nhìn ấy bắt buộc tôi phải làm hai việc. Một là tìm cái khác. Do đó tôi đối lập và đối lập. Từ chỗ đối lập Truyện Kiều với Kim Vân Kiều truyện tới việc đối lập tác phẩm với văn học thời đại và văn học cận đại, văn học Việt Nam và văn học thế giới, tôi cố gắng tìm ra cái tụ điểm của những nét khu biệt mà tôi gọi là phong cách Nguyễn Du. Thực chất của cách quy sự vật ra một chùm quan hệ khu biệt chính là do yêu cầu nhìn sự vật như một hiện tượng. Ðiều này theo tôi, đến nay tôi đã làm tương đối đầy đủ, vì nó dễ nói hơn, nhưng trong hoàn cảnh những năm 60 không thể làm hơn được. Sau này vào năm 1990 tôi viết quyển Ðỗ Phủ nhà thơ Thánh với hơn một nghìn bài thơ (NXB Văn hoá – Thông tin, H.2001), 800 trang, song do những khó khăn trong việc xuất bản nên phải chờ mười năm tôi mới cho ra đời cuốn sách đó được. Cuốn này tuy có nói khá kỹ đến cuộc đời và lai lịch từng bài thơ của Ðỗ Phủ, nhưng cũng chỉ xét mặt hiện tượng Ðỗ Phủ đối với văn học thế giới mà thôi, bởi vì những mặt khác đã có hàng trăm người viết rồi.

Nhưng tôi không tìm nét khu biệt như một mục đích tự thân mà tìm nét khu biệt để khẳng định cái bất biến. Về điểm này tuy tôi có ý thức nhưng không thể trình bày trong hoàn cảnh đương thời, nhất là trong hoàn cảnh một người bình thường như tôi. Cách nhìn của tôi đã xác lập xong vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, và công trình về Truyện Kiều tôi viết xong năm 1965, tuy đến năm 1985 mới xuất bản (tương tự như thế, bài Thơ là gì? tôi viết xong năm 1961 công bố lần đầu tiên năm 1996). Thực tình tôi không có thể viết rõ hơn được. Mà tôi cần công bố cách nhìn của mình, dù có mâu thuẫn đi nữa, sao cho không gây tai tiếng. Nếu tôi có “mặt trái”, và có mâu thuẫn là ở điểm này. Từ năm 1960 trong công việc của mình, tôi chỉ xét cách làm đúng hay không đúng, hiểu theo nghĩa có lợi hay có hại cho nhân dân Việt Nam mà thôi. Do chỗ cách nhìn của tôi là xuất phát từ tính toàn nhân loại để tìm nét khu biệt tạo thành hiện tượng văn hoá được bàn đến, nếu không đứng cùng với tôi từ cách nhìn ấy, các bạn có trách tôi “đơn giản hoá vấn đề, độc đoán, cực đoan” thì cũng đành vậy. Nhưng nếu bạn đọc các công trình triết học về văn học, nghệ thuật thì sẽ thấy các công trình đều như thế, đây là yêu cầu của việc thức nhận. Còn chuyện đúng sai là chuyện trình độ người viết.

Quan điểm xuất phát từ cái bất biến của toàn nhân loại để tìm ra các nét khu biệt không phải là của tôi. Nó là một xu hướng chung bao gồm mọi tôn giáo, toàn bộ các nhà tư tưởng trước thế kỷ 19, và cũng là quan điểm chính trị, văn hoá của Hồ Chí Minh. Câu chuyện này cũng đòi hỏi một sự thức nhận để khỏi sa vào những tranh cãi về văn hoá giai cấp. Con người cấu tạo cơ thể như nhau. Cơ thể tôi có mặt, có miệng và mọi người đều thế cả. Mọi bộ phận cơ thể đều có những nhu cầu riêng không thay đổi hễ còn là con người. Do chỗ có những nhu cầu vật chất như nhau, con người có những nhu cầu tình cảm như nhau hễ còn là con người và do đó có những nhu cầu tư tưởng như nhau. Nhưng các nhu cầu này tuy là như nhau ở mức độ tối thiểu lại không có giới hạn tối đa cho nên nẩy sinh mâu thuẫn. Nhu cầu về quan hệ nam nữ có thể thu hẹp vào mức độ tối thiểu là một vợ một chồng, nhưng với ông Tần Thuỷ Hoàng thì ông lấy ba nghìn cô gái đẹp nhất thiên hạ, tức là tước đoạt quyền có vợ có chồng của ba nghìn chàng trai và ba nghìn cô gái. Rồi để bảo vệ độc quyền hưởng thụ này ông nuôi vài vạn thái giám, tức là thiến vài vạn anh đàn ông. Nhưng để làm được điều trái khoáy như thế, ông phải dựa vào một văn hoá không chỉ chấp nhận mà còn ca ngợi hành động này, tức là dựa vào một tổ chức xã hội ra sức hợp lý hoá sự bất công, khẳng định chính sự bất công này là hay là đẹp. Họ ca ngợi, tô vẽ hành động đó chính là để họ cũng được hưởng những đặc quyền của Tần Thuỷ Hoàng tuy có kém hơn một chút. Nhưng sở dĩ điều bất công này tồn tại cũng là do một điều bất biến, nếu không tại sao xã hội loài người chấp nhận nó từ khi thành xã hội? Ðó là trong xã hội thực tế có người khôn, người ngu, người mạnh, người yếu, người tài, người dốt… Nếu những người khôn, mạnh, tài… chỉ nhận được cái phần như những người ngu, người lười thì họ chẳng dại gì cố gắng làm việc, và những người ngu, người lười cũng không việc gì mà làm việc. Do đó, trong mọi xã hội đều có một tôn ty nào đó và có một sự chênh lệch nào đó trong hưởng thụ để xã hội phátt triển và tồn tại. Ðiều cần phải làm là đảm bảo một sự chênh lệch vừa phải để cho mọi người dù là ở địa vị thấp kém nhất cũng có điều kiện tồn tại như một con người và có khả năng thay đổi hoàn cảnh của mình. Ðây là cái nguyên lý toàn nhân loại. Việc Hồ Chí Minh chủ trương làm cho nhân dân có ăn, có mặc, có thuốc men, được học hành và tự do phát triển là xây dựng trên tính toàn nhân loại của những nhu cầu bất biến của cả loài người, một chân lý hiển nhiên không ai bác bỏ được. Các nhu cầu có những thay đổi nhất định theo sự phát triển của xã hội, và các khái niệm có ăn, có mặc, có thuốc men, được học hành, và tự do phát triển là khác nhau ở từng xã hội và từng giai đoạn phát triển khác nhau. Khi giai cấp xuất hiện, giai cấp thống trị muốn giành ưu thế về mình để độc hưởng thừa thãi các nhu cầu của mình và bắt mọi người khác phải phục vụ mình. Nó đặt ra những lý thuyết để biện hộ cho ưu thế của mình dựa trên sức mạnh, đồng tiền, màu da, văn hoá, quân sự… để mê muội nhân dân. Nhưng dù cho các giai cấp thống trị có xuyên tạc các nhu cầu toàn nhân loại đến đâu chúng cũng không tài nào xoá bỏ được các nhu cầu có tính toàn nhân loại, và nó làm thành nền tảng của con người có ý thức về giá trị làm người của mình. Nếu ta xem nghệ thuật là một nhu cầu bất biến thì ở dưới đáy tận cùng của nghệ thuật chính là khẳng định tính hợp lý của những nhu cầu tình cảm, tính vĩnh viễn của việc giải phóng các nhu cầu ấy bằng một sự đền bù nào đó nhằm chống lại những cản trở có thực của xã hội đang khiến cho các nhu cầu này bị đè bẹp, bóp nghẹt bởi những nhu cầu khác, cũng có ở con người nhưng bị thổi phồng trở thành quái đản (nhu cầu quyền lực, tiền tài, hưởng thụ vật chất).

Cái gì làm thành tính bất tử của một tác phẩm? Một tác phẩm trở thành bất tử khi đọc nó, nghe nó, nhìn nó, ta hiểu thêm về chính mình. Chính điều này là quyết định với tính cách một “thức ăn”. Nếu như Trang tử có có gan nhìn “Ðạo” ngay trong “phân, nước tiểu”, tại sao tôi không có quyền nhìn “nghệ thuật” ở trong “thức ăn”? Vậy tôi sẽ nói đến “thức ăn” mà Truyện Kiều cấp cho tôi.

Ðọc Truyện Kiều, trước hết tôi hiểu chính tôi. Tôi thấy tôi cũng tầm thường như nàng Kiều. Cũng sợ gian khổ, ham quyền lực, tham lam, thích yên thân, muốn có địa vị, muốn danh tiếng, muốn được người ta hiểu cho mình. Cũng cám cảnh thấy mình trong cuộc đời không làm nên trò trống gì. Ðặc biệt tôi thấy Kiều là con người có ý thức về tài năng của mình, khao khát được có người hiểu cho cái tài năng ấy. Việc ý thức về tài năng là nét chủ đạo trong tác phẩm “quái đản” này. Hầu hết những người trong tác phẩm này đều ý thức về tài năng mình và đều đòi hỏi một sự bù đắp. Người có tài thực sự như Kim Trọng về văn chương, Từ Hải về thao lược đã đành, mà ngay cả những tên lưu manh như Mã giám sinh, Sở Khanh cũng có ý thức về cái tài lừa bịp của mình và coi khinh mọi người. Người không có tài thực sự thì lại có ý thức về của cải (Thúc Sinh), thế lực (Hoạn Thư), địa vị (Tú Bà), mưu mô (Hồ Tôn Hiến). Truyện Kiều hiện đại ở điểm này, nó xây dựng những con người có ý thức về mình và khẳng định một yêu cầu mà nó nêu lên với xã hội. Nét này vào thời Tự lực văn đoàn là nét chủ đạo lôi cuốn mọi người, đồng thời cũng là một nét hết sức tiêu biểu của văn học Nôm Việt Nam, nhưng vì bắt buộc phải mang một cái vỏ kinh điển cho nên không nổi bật, lộ liễu như trong tiểu thuyết và thơ thời 1930 – 1940.

Thứ hai là một bức tranh xã hội trái ngược lại với những yêu cầu có tính toàn nhân loại. Con người muốn có hạnh phúc gia đình, hạnh phúc giản dị nhất là có người chồng yêu mình, người vợ yêu mình ở mức độ một vợ một chồng, nhưng những bất công lại đẩy những cô gái đẹp nhất vào thanh lâu để làm trò chơi cho bọn có tiền, hay làm lẽ để sống trong tủi nhục và lo sợ. Con người muốn tỏ mặt phi thường nhưng trong một xã hội thối nát (quan ăn tiền, bọn lưu manh, bọn có thế lực làm chủ hoàn toàn) nhưng không thể cứu vãn nên đã chọn con đường làm giặc. Con người muốn có ích nhưng cảm thấy bất lực đành phải chấp nhận tìm lối thoát trong một tháí độ tiêu cực (Giác Duyên) lẫn vào một tín ngưỡng siêu hình (Tam phủ đạo cô). Ðể sống chỉ còn một cách là chấp nhận hoàn cảnh và sống với nó (Vương Quan, Thuý Vân). Xã hội đã bị những sức mạnh quyền lực, đồng tiền, gia thế, mưu mô thống trị, không cách nào thoát khỏi được. Ðể sống với nhau chỉ còn cách dựa vào cái “Tâm”. Cái tâm ấy không phải là cái tâm Phật giáo mà chỉ sự thông cảm, thương nhau, giúp đỡ nhau, điều mà ta thấy ở Kim Trọng, Thuý Vân, Vương Quan, Giác Duyên, những người nhỏ bé giúp việc Hoạn Thư, Tú Bà, ông quan xử kiện. Cái tâm ấy vẫn tồn tại tuy không phải là một sức mạnh rõ ràng như quyền lực, đồng tiền và những mánh khoé lừa dối.

Con người bình thường yêu Truyện Kiều chính vì “chữ tâm” ấy. Vì hoàn cảnh thực tế không cho phép chữ tâm ấy đóng vai trò một thế lực xã hội khách quan nên nhiều khi nó mượn cái vỏ thần thoại hết sức quen thuộc trong văn học dân gian.

Các nhà nghiên cứu chú ý tới nội tâm Nguyễn Du khi viết tác phẩm. Dĩ nhiên không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Du dốc hết tài năng mình để kể vè cuộc đời một cô gái thanh lâu, cũng như ông đã khóc khi đọc cuộc đời của Tiểu Thanh. Nhưng tôi không coi trọng tâm lý tác giả bằng tâm lý của bạn đọc cùng thời với tôi. Tôi tìm quan hệ giữa thời đại của tôi với tác phẩm là đối tượng có thể kiểm tra được, còn nội tâm của Nguyễn Du thực tình tôi ít chú ý bởi vì đây là một quyển tiểu thuyết chứ không phải một bài thơ trữ tình. Ðiều quan trong trọng việc sáng tác tiểu thuyết là xây dựng được những tình huống tạo nên được ở người đọc những ấn tượng tâm lý mình muốn truyền đạt. Và để làm thế tác giả phải lẩn tránh để mặc cho hành động tiếp diễn, chỉ thỉnh thoảng xen vào nhưng cũng với thái độ khách quan chỉ để hướng dẫn người đọc mà thôi.

Tôi không có ý định bênh vực mình, chẳng qua chỉ tự phân tích động cơ để các bạn hiểu cho và phải nói thêm: tôi luôn luôn nhất quán với những nguyên tắc nghiên cứu đã được xác lập. Ðây là chuyện bất đắc dĩ. Nếu như cách nhìn này được chấp nhận tôi sẽ viết tiếp cách nhìn của tôi về cái gọi là “Thao tác luận” còn rắc rối hơn nhiều. Trong lần xuất bản đầu tiên, cũng như trong lần tái bản Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều tôi đều không có điều kiện nói rõ hơn quan điểm của mình, vì nếu làm thế phải viết lại hoàn toàn trong khi tôi có những trách nhiệm cấp bách hơn trước cái thời gian mà tạo hoá có thể dành cho tôi.

 
© talawas 2026