David W.P. Elliott
Về tác giả: David W.P. Elliott tốt nghiệp ĐH Yale trước khi phục vụ trong quân ngũ Hoa Kỳ thời gian 1962-65. Sau một năm học tiếng Việt, Elliott phục vụ ở Việt Nam từ 1963-65. Năm 1965, ông vào làm tại tổ chức Rand Corporation và giám sát một nghiên cứu về phong trào Việt Cộng ở tỉnh Mỹ Tho (khi đó mang tên Định Tường và hiện là Tiền Giang) cho đến 1967. Sau khi lấy bằng tiến sĩ ở ĐH Cornell, Elliott dạy ở Cornell một năm và rồi chuyển sang Pomona College, nơi ông giảng dạy từ 1977 đến nay.
Về tác phẩm: Dày hơn 1500 trang, cuốn The Vietnamese War: Revolution and Social Change in the Mekong Delta (Cuộc chiến của người Việt: Cách mạng và thay đổi xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long, do M.E. Sharpe ấn hành đầu năm 2003) có lẽ là tác phẩm dài nhất về chiến tranh Việt Nam trong một thập niên qua và là một trong các sách được đánh giá cao. Jayne Werner viết trong bài điểm sách của tạp chí The Journal of Asian Studies, tháng 11-2004, rằng: “Sau 30 năm, cách mạng Việt Nam cuối cùng đã tìm thấy sử gia của mình. Với tầm bao quát lịch sử và khả năng liên kết tính địa phương với thế giới bên ngoài, sự chú tâm đến chi tiết, sự tinh thông chiến lược quân sự và phần tích văn hóa, sự mô tả sắc sảo hoạt động của các bên, và cách tác phẩm nắm bắt cá tính của các nhân vật cách mạng chính, quyển sách này là bản đánh giá đầy đủ tính học thuật về sự phát triển của cách mạng miền Nam, từ lúc khởi thủy thập niên 1920 đến 1975.”
Cuốn sách tập trung vào một tỉnh Mỹ Tho, nơi David Elliott thực hiện phỏng vấn cho Rand Corporation với những người chiêu hồi và tù nhân của chính quyền Sài Gòn từ 1965-68, rồi năm 1971, và 1972-74. Hiện ra trên trang sách là một câu chuyện mang tính cá nhân, về một người bắt đầu với sứ mạng tìm hiểu đối phương và kết thúc bằng tác phẩm về quan hệ con người.
Mỹ Tho được dùng như một nghiên cứu tỉ mỉ ở cấp độ địa phương, mà qua đó giúp có những nhận xét về toàn bộ cục diện chiến tranh. Theo Jayne Werner, Mỹ Tho có ích cho nghiên cứu bởi nhiều thành viên ban đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam sinh ở Mỹ Tho. Trụ sở chi bộ miền Nam của Đảng đặt ở đây thập niên 1930 và 1940. Tỉnh này cũng giữ vị trí chiến lược trong cả cuộc chiến ở các giai đoạn quan trọng.
Văn bản giới thiệu ở đây là trích dịch từ phần phụ lục B ‘Reflections’, mang tính chất kết luận của sách.
Ghi chú: Phần phụ lục không có chú thích ở cuối trang. Vì độ dài cuốn sách, nên nếu chỉ đọc phần phụ lục này sẽ có nhiều điểm gây mơ hồ. Các chú thích do người dịch bổ sung là phần dịch thêm một số đoạn liên quan trong sách, ngõ hầu làm rõ nghĩa hơn.
Câu chuyện về cuộc cánh mạng ở Mỹ Tho từ 1930 đến 1975 phức tạp và khúc khuỷu. Tuy vậy, có một số kết luận tổng quát có thể đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về cuộc chiến Việt Nam (1959-1975). Có lẽ điểm quan trọng nhất là trái với ấn tượng của nhiều người Mỹ, những người nghĩ rằng cuộc xung đột bắt đầu khi họ đặt chân đến nước này, thì thật ra đã có một lịch sử tranh đấu lâu dài từ trước đó. Đường đi của những sự kiện trước đó, và di sản của những thái độ tạo nên từ những sự kiện này, đã tạo ra những ràng buộc trong hành vi của toàn bộ người Việt trong các giai đoạn sau của cuộc xung đột, và vì thế (một cách vô tình) cũng tạo ra ràng buộc cho người Mỹ. Dù vai trò của Mỹ trong cuộc chiến có quan trọng đến đâu, thì kết quả cuối cùng được quyết định, một cách căn bản, bởi những hành động của người Việt Nam. Những hành động này lại dựa trên những nhận thức và niềm tin đã có nguồn gốc lịch sử sâu xa. Vì vậy, tác giả sách này xem dự án khảo sát chi tiết “cuộc chiến của người Việt” (Vietnamese War) và thời kì trước khi Mỹ có sự can dự lớn là một tiền đề cần thiết để hiểu sự kiện vốn thường được nhắc đến dưới tên gọi “Vietnam War” – một tên gọi tập trung nặng vào những gì người Mỹ đã làm ở Việt Nam, và những gì họ nhận.
Mặc dù cuộc chiến Việt Nam (Vietnam War) chủ yếu là một sản phẩm của Chiến tranh Lạnh và sự can thiệp bên ngoài, nhưng các yếu tố mà sau cùng đã làm hỏng mục tiêu và kế hoạch của Hoa Kỳ lại có nguồn gốc từ Việt Nam. Phong trào chống thực dân và chế độ chiếm hữu ruộng đất đã tạo nên các yếu tố của một phong trào cách mạng. Cách mạng tháng Tám 1945 là một chuyển động lịch sử quan trọng, đó là lúc các yếu tố này gắn kết và tạo ra một phong trào quần chúng. Các xu hướng khác biệt bên trong phong trào cách mạng ở Mỹ Thọ, mỗi xu hướng lại có một nền tảng xã hội riêng. Ngay sau cách mạng tháng Tám, chúng hòa lẫn vào sự nghiệp cách mạng lâu dài; tuy nhiên, nhiều thành phần tinh hoa ở đô thị và nông thôn từng bị thu hút bởi cách mạng thì nay rời bỏ – nền tảng xã hội của cuộc cách mạng ngày càng dựa vào tầng lớp nông dân nghèo hơn ở nông thôn.
Một tập hợp các yếu tố lịch sử đặc thù đã dẫn đến chiến thắng cách mạng ở miền Bắc Việt Nam. Nghiên cứu này chỉ ra tại sao phong trào cách mạng ở miền Nam ban đầu lại kém thành công hơn – vì sự đa dạng của các động lực chính trị và xã hội cũng như những hoàn cảnh lịch sử kém may mắn hơn (sau khi Nhật đầu hàng, người Anh quản lý miền Nam và làm ngơ trước sự quay lại của Pháp). Ngay cả trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp, sự phức tạp của xã hội miền Nam đã khiến người Pháp tạm thời thành công trong việc “bình định” đồng bằng sông Cửu Long. Một bài học quan trọng trong thời kì này là: thành công tạm thời ở một khu vực ở Việt Nam trong một giai đoạn nhất định vẫn không bao giờ đủ để đánh bại những nhà cách mạng. Khi tình hình xấu đi ở các khu vực khác, sự bình định của Pháp tan vỡ. Nếu kháng chiến tiếp tục, Việt Minh gần như chắc chắn sẽ chiến thắng tại miền Nam giống như họ đã làm ở miền Bắc.
Hiệp định Geneva khiến lực lượng vũ trang tập kết ra Bắc, còn du kích thì giải ngũ. Không còn sự bảo vệ, những cán bộ còn ở lại bị chính quyền Ngô Đình Diệm săn đuổi có hệ thống – chính quyền Sài Gòn, giống như đối phương ở miền Bắc, cũng không cảm thấy bị mấy ràng buộc về cảm kết bảo vệ quyền tự do chính trị. Nghiên cứu này không nhắm đến phân tích câu hỏi về tính hợp pháp của thời kì này, hay ngay cả tính chất đạo đức tương đối của hai phe. Tuy nhiên, dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn cho thấy những thành tựu ngắn hạn của chính phủ Diệm do sự đàn áp dân số nông thôn ở các nơi như Mỹ Tho đã tạo ra những hậu quả lâu dài cho chế độ của ông. Mặc dù không ai nghi ngờ phong trào cách mạng có một trung tâm quyền lực – Hà Nội – nhưng dữ liệu nêu ra trong sách cũng chứng tỏ mức độ mà những cán bộ miền Nam đã gây sức ép cho một miền Bắc miễn cưỡng để đưa đến cuộc nổi dậy mà sau cùng dẫn đến chiến tranh Việt Nam.
Một vấn đề gặp ở nhiều nghiên cứu về phong trào cách mạng ở Việt Nam là thiên hướng hay đưa ra những sự phân chia sai lầm: giải phóng / khủng bố, nông dân đau khổ / đảng viên Marx-Lenin bảo thủ. Cuốn sách này ghi lại rõ rệt vai trò của bạo lực cách mạng trong các cuộc nổi dậy năm 1959-60 và sự quan trọng của vài trăm nhà tổ chức chính trị ở tỉnh Mỹ Tho. Mục tiêu của họ không chỉ nhằm đe dọa, tiêu diệt người ủng hộ và viên chức của chính quyền Sài Gòn, mà còn để cân bằng lại sự sợ hãi mà chính quyền Diệm đã tạo nên trong nông dân, những người mà nếu không bị chính quyền đe dọa thì có thể có cảm tình với cách mạng. Vì thế bạo lực lúc này là để làm vô hiệu ưu thế của ông Diệm vào giai đoạn khi những người cách mạng thua kém phía Sài Gòn về người và vũ khí.
Một sự quan sát kỹ cách thức phong trào cách mạng hồi phục sau 1960 đưa đến hai kết luận. Thứ nhất, có một sự ủng hộ rộng lớn thật sự cho cách mạng tại những nơi như Mỹ Tho, đặc biệt ở thời kì 1961-64. Nhiều cuốn sách lịch sử phương Tây có khuynh hướng nhìn lại toàn bộ cuộc chiến thông qua lăng kính sau 1975, vì thế đã có kết luận là cuộc cách mạng chưa bao giờ có nền tảng vững chắc ở miền Nam. Những ghi chép từ các cuộc phỏng vấn thời kì này chứng tỏ rõ ràng là có cao trào cách mạng trong những năm đầu của chiến tranh Việt Nam. Giống như năm 1945 và 1954, những người cách mạng gần như chắc chắn sẽ chiến thắng nếu Hoa Kỳ không can thiệp vào năm 1965. Trên thực tế, gần như toàn bộ các ghi chép đương thời của các nhà hoạch định chính sách Mỹ từ thời kì này nói rõ điểm này. Nói như thế không có nghĩa là những người cách mạng có cả một vùng đất chính trị thoải mái cho họ. Họ có nhiều kẻ thù nhưng, tại những nơi như Mỹ Tho, họ không có một lựa chọn chính trị khác thay thế họ. Những đối thủ của cách mạng, tuy nhiều, nhưng chia rẽ và quá phụ thuộc vào sự hỗ trợ bên ngoài.
Một kết luận thứ hai rút ra từ nghiên cứu thời kì sau 1960 là mặc dù cách mạng thường thất thế, nhưng nó không bao giờ thất bại (while the rovolution was often down, it was never out.) Những người cách mạng luôn tìm ra câu trả lời cho những vấn đề họ gặp ở những thời điểm nhất định. Nhiều nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam viết trong thời hậu chiến cho rằng “giá như” đã có những chiến thuật, chương trình hay vũ khí nhất định áp dụng đúng lúc, kết cục chiến tranh đã khác đi. Tuy nhiên, cuộc xung đột mở ra theo “thời gian thực” (real time). Luôn có một lý do vì sao những phương thuốc hữu hiệu này không được áp dụng vào lúc chúng có thể xoay đổi cục diện. Lấy hai ví dụ: cải cách ruộng đất và vũ khí thông minh. Chương trình “Trả đất cho dân cày” của chính quyền Sài Gòn có thể có ảnh hưởng đến người nông dân nếu nó được thực hiện trong thập niên 1950 thay vì các cải cách như ông Diệm đã làm. Nhưng dĩ nhiên, ông Diệm không bao giờ nghĩ đến chương trình này cũng như về mặt chính trị, ông cũng không có khả năng thực hiện [1] . Nói về vũ khí cao cấp, đúng là bom thông minh và công nghệ vũ khí cao cấp có thể hiệu quả hơn loại vũ khí kém tinh vi mà Mỹ và chính phủ miền Nam sử dụng thời gian đầu. Nhưng ở giai đoạn chiến tranh du kích rải rác này, họ cũng không có nhiều mục tiêu để dùng vũ khí hiện đại đến thế. Và người cách mạng cũng không đứng yên. Bắt đầu năm 1945 với dao rựa, họ bước vào thập niên 1970 bằng tên lửa SAM. Dĩ nhiên, vũ khí này do Trung Quốc và Liên Xô cung cấp, nhưng ý tôi muốn nói rằng cuộc xung đột là sự diễn biến của các hành động và phản ứng mang tính biện chứng; ở đó mọi phát kiến mới để chống cách mạng lại sẽ tạo ra cơ chế phản ứng từ đối phương. Những kịch bản “giá mà” là phi lịch sử và vô ích. Điều có ý nghĩa là những gì đã xảy ra vào thời điểm đó, và sức mạnh của mỗi bên vào một khoảnh khắc cụ thể.
Yếu tố Bắc Việt mang tính quyết định vào giai đoạn cuối là điều quan trọng, nhưng cũng cho thấy cuộc xung đột ngay từ đầu đã đặt trên một vũ đài toàn quốc. Việc Mỹ xác quyết rằng lằn ranh thích hợp của cuộc xung đột là vĩ tuyết 17 chia đôi Bắc – Nam là vấn đề chủ chốt trong cuộc chiến. Những người cách mạng bác bỏ quan điểm này, xem nó không tương thích với định nghĩa về chủ nghĩa quốc gia Việt Nam, và quan điểm của họ chiến thắng. Các cuộc phỏng vấn trong sách thể hiện nhiều lần có sự phản kháng của người miền Nam trước người Bắc, nhưng các cuộc phỏng vấn cũng thể hiện rõ là những người cách mạng miền Nam ở Mỹ Tho hoàn toàn chia sẻ quyết tâm về một Việt Nam thống nhất, mặc dù họ muốn có nhiều tiếng nói hơn trong cách lãnh đạo đất nước và thường bất bình vì vị thế trội hơn của bộ máy lãnh đạo đặt ở miền Bắc [2] .
Những gì xảy ra tại Mỹ Tho rọi sáng vào một số tranh cãi lịch sử. Trước đó tôi đã nói, nghiên cứu giúp cho việc hiểu nguồn gốc miền Nam trong việc hồi phục phong trào nổi dậy. Và tình thế quân sự mà về cơ bản là bế tắc ngay trước cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968 – dù một sư đoàn Mỹ đã dành cả một năm hoạt động tại Mỹ Tho và các tỉnh xung quanh – cho thấy cuộc tấn công Tết Mậu Thân không phải là một ván cờ tuyệt vọng như một số sách thường mô tả. Nó cũng chứng tỏ ngay cả trong địa thế bất lợi ở đồng bằng sông Cửu Long, những người cách mạng đã tìm ra cách đối phó với quân Mỹ theo các quy tắc giao chiến đã tồn tại từ trước Mậu Thân. Khi ấy không ai chú ý chi tiết có một cuộc nổi dậy của nông dân – nhiều người tuy rằng ngắn ngủi – đã xảy ra ở Mỹ Tho vào tháng Hai 1968. (Các nghiên cứu về sự kiện Mậu Thân đôi khi chỉ ra việc không có nổi dậy tại các đô thị, xem đây là bằng chứng rằng cách mạng thiếu sự ủng hộ. Và có lẽ quả thật ở các khu đô thị như Sài Gòn và thành phố Mỹ Tho, không có mấy người ủng hộ sẵn sàng đổ xuống đường trong lúc đạn đang bay vèo vèo.) Dĩ nhiên có nhiều người ủng hộ một cách có điều kiện và những người cơ hội đã tham gia cuộc nổi dậy ở nông thôn mà tôi nhắc ở trên. Mục đích của họ là chấm dứt chiến tranh hơn là đạt thắng lợi cho cách mạng. Nhưng cần nhớ đã không có sự tuần hành nào tương tự thể hiện sự ủng hộ chính quyền Việt Nam Cộng Hòa vào năm 1971 khi cách mạng có vẻ thoái trào. Và ngoài những người cơ hội, thì nhiều người tham gia ủng hộ cách mạng trong phong trào quần chúng ngắn ngủi này cũng là những người ủng hộ tiềm năng; họ phản ứng trước một tình thế mới khi việc ra mặt ủng hộ đã bớt nguy hiểm và khả năng có lợi tăng lên.
Các cuộc nổi dậy nông thôn ở Mỹ Tho có lẽ không phải là các sự kiện riêng lẻ. Một trong những mục đích của việc tấn công vào các đô thị chính là để giải tỏa sức ép cho các căn cứ cách mạng ở nông thôn. Trong các hồi ký thời hậu chiến của nhiền cán bộ ở đồng bằng sông Cửu Long, thường lặp lại bình luận chua chát rằng họ đã không tận dụng được sự gần suy sụp của cơ cấu an ninh tại nông thôn bởi vì lãnh đạo ở Hà Nội và Trung ương Cục miền Nam đã ra lệnh họ phải tiếp tục các cuộc tấn công vô vọng vào các vùng ven đô trong suốt hơn một năm sau Tết. Trong mấy năm cuối cùng của chiến tranh có sự tăng cường quân từ miền Bắc. Lực lượng này đóng vai trò chủ chốt cho chiến thắng, mà cũng là cần thiết bởi các quyết định từ Hà Nội trước đó đã khiến quân cách mạng miền Nam suy sụp. Điều này xảy ra không chỉ vì các tổn thất ban đầu của đợt tấn công đầu tiên hồi Tết, mà còn qua cả một thời gian dài một năm sau Tết Mậu Thân.
Một số nghiên cứu viết sau chiến tranh kết luận rằng có thể Mỹ đã nên tiếp tục tận dụng ưu thế quân sự sau Tết và thế là giành chiến thắng. Một số sách khác cho rằng chỉ sau Tết, Mỹ mới tìm ra một chỉ huy (tướng Creighton Abrams), chiến thuật (chương trình Phượng hoàng và “bình định”) và chính sách (chương trình “Trả đất cho dân cày”) mà có thể đã giúp chiến thắng. Nhưng những gì xảy ra ở Mỹ Tho sau Mậu Thân không đem lại nhiều sự ủng hộ cho các luận cứ này. Các hoạt động quân sự của sư đoàn Chín quân Mỹ năm 1968 và nửa đầu 1969 hiệu quả về quân sự, nhưng do họ không bị hạn chế như trước Tết Mậu Thân trong việc dùng đạn pháo đánh vào khu dân cư, nên họ cũng không chinh phục được tình cảm người dân. Chủ trương bình định thì tạm thời thành công, nhưng chủ yếu dựa trên việc giảm số dân ở nông thôn, được tạo ra bởi việc đánh bom không kiềm chế vào các khu vực lớn ở tỉnh. Chương trình Phượng hoàng ở Mỹ Tho không hiệu quả. Chương trình “Trả đất cho dân cày” cũng không thành công bởi ngay cả vào năm 1971, khi đa số trong tỉnh đã được “bình định”, các khu đất từng thuộc về nông dân thì hoặc vẫn nằm trong các nơi không an toàn, không có người sống, hoặc không còn trồng trọt được. Ngay cả với những người có ruộng, một câu hỏi lại đặt ra là liệu họ có đủ biết ơn chính phủ Sài Gòn để ủng hộ chính phủ khi thất thế hay không. Nghiên cứu này đưa ra một số bằng chứng sinh động, tuy còn mang tính truyền khẩu, về mức độ chính quyền Sài Gòn bị xa lánh bởi những người có thế lực tại thị trấn và làng xã ở Mỹ Tho. Như thế, nó cũng không tạo được nền tảng cho một cộng đồng chung của các thế lực chính trị phi cộng sản [3] .
Ngay cả khi phong trào cách mạng rơi xuống điểm thấp nhất năm 1971, một nhóm cán bộ ít người nhưng quyết tâm vẫn ở lại hàng ngũ. Năm 1972, một cuộc tổng tiếng công mùa xuân được thực hiện. Mặc dù giao tranh diễn ra ác liệt nhất ở miền Trung và các khu vực tây bắc của Mỹ Tho, nhưng một trong các tác động của diễn biến này là nó kéo quân Sài Gòn ra khỏi đồng bằng sông Cửu Long và giải tỏa sức ép cho các chốt cách mạng ở những nơi như Mỹ Tho. Như các báo cáo của Mỹ và phỏng vấn với người địa phương cho thấy, điều này đem lại thất vọng cho chương trình “bình định” và chấm dứt chương trình “Trả đất cho dân cày”. Nó cũng đặt câu hỏi về tính khả thi của chính sách ‘Việt Nam hóa’ sau khi quân Mỹ rút đi [4] . Nghiên cứu này cho thấy ưu thế gần tuyệt đối của chính quyền VNCH ở tỉnh Mỹ Tho năm 1971 chỉ là ảo giác. Sự hồi phục phong trào cách mạng được dẫn dắt chủ yếu, nhưng không phải tuyệt đối, bởi quân đội Bắc Việt.
Nghiên cứu này giúp giải thích vì sao những người cách mạng đã thắng lợi trong cuộc đấu tranh 30 năm chống lại đối phương có sự hỗ trợ từ ngoài. Nó cũng đặt giả thiết vì sao giai đoạn tiếp theo của cuộc cách mạng lại khó khăn đến thế. Nền tảng xã hội mà cách mạng dựa vào đã bị đổi thay tận gốc vào cuối cuộc chiến. Xã hội miền Nam không sẵn sàng chấp nhận nhãn hiệu xã hội chủ nghĩa áp đặt lên họ sau 1975, như các sự kiện sau đó chứng minh. Nhưng xem những diễn biến trước 1975 từ cái nhìn của những gì diễn ra sau 1975 là rất phản lịch sử. Cuộc cách mạng xuất phát từ những bất bình có thật. Nó xây dựng được một nền tảng ủng hộ của dân chúng. Quan trọng nhất, cách mạng để dấu ấn sâu sắc trong tâm trí những người Việt ở các nơi như Mỹ Tho.
Một kết luận khác từ nghiên cứu này là nguy cơ đưa ra những khái quát từ một giai đoạn dài và phức tạp như từ 1930 đến 1975, ngay cả khi nghiên cứu được thu hẹp ở một tỉnh tại một nước tương đối nhỏ. Không có khái quát nào về hành động chính trị lại đúng ở một thời điểm cho toàn bộ dân tộc. Cũng chỉ có ít những khái quát đúng cho một thời điểm nhất định hoặc một nhóm người cụ thể [5] . Cơ cấu của phong trào cách mạng phức tạp. Các giá trị, thái độ và hành vi của lớp cán bộ cốt cán ở Mỹ Tho khác so với lớp người hỗ trợ họ. Mỗi nhóm, và các cá nhân trong mỗi nhóm, hành động dựa trên các nhóm giá trị và động cơ khác nhau. Sự phục hồi theo từng giai đoạn của cả nhóm cán bộ lẫn những người ủng hộ họ hời hợt ở Mỹ Tho (sau các thoái trào năm 1950-52, 1955-59, 1966-67 và 1970-71) chứng tỏ rằng phong trào cách mạng không tiến triển theo cách lũy tiến đi lên và cũng không liên tục đi xuống. Các nhóm người khác nhau vẫn là những người ủng hộ tiềm năng ngay cả khi họ không thể hay sẽ không hành động dựa trên cảm tình của mình.
Một điểm liên quan là không có gì kéo dài vĩnh viễn. Tính chính danh giành được trong cách mạng tháng Tám và kháng chiến chống Pháp đã giúp Đảng vượt qua các thời kì khó khăn. Nhưng tính chính danh cũng giống như tiền trong ngân hàng. Khi tài khoản bị rút bớt, thì nó cần bổ sung thêm. Những người cách mạng đã làm điều này và nhận được lòng tin cho sự hy sinh và lòng yêu nước của ho [6] ̣. Tuy nhiên, những đòi hỏi liên miên và không nhân nhượng của Đảng đã làm con số người xa lánh ngày càng tăng, và khiến số ủng hộ viên tiềm năng chựng lại. Số lượng nông dân trung lưu tăng lên và, nhưng Đảng đã lo ngại, số này ngày càng rời bỏ “ân nhân” của họ và tập trung cho quyền lợi cá nhân. Sự rút quân dần dần của Mỹ phần nào đã giảm bớt sự độc quyền về tinh thần quốc gia mà cuộc cách mạng từng có. Tuy nhiên, xét cho cùng, VNCH đã không thể thu hút đủ sự ủng hộ từ những người rời bỏ cách mạng. Các lý do giải thích điều này đòi hỏi một nghiên cứu sâu về VNCH và những người ủng hộ trung thành với họ, nhưng dữ liệu rút ra từ nghiên cứu này đặt giả thuyết là mặc dù nhiều người không còn sẵn sàng ủng hộ cách mạng dựa trên nền tảng đạo đức (đảng đồng nghĩa với tính chính danh), thì Đảng lại vẫn có khả năng tước bỏ tính chính danh này ra khỏi chế độ VNCH – một chế độ thiếu một nòng cốt chính trị vững chắc, một điều bị lộ rõ trong giai đoạn cuối cuộc xung đột.
Có một khoảng giữa hai yếu tố – giữa sự nhiệt tâm tuyệt đối tham gia hoạt động chính trị và sự tách biệt tuyệt đối khỏi chính trị (một điều không khôn ngoan và thường không thể làm được trong một khu vực do cách mạng kiểm soát). Người ta cần ghi nhớ rằng khi tiếp cận vấn đề mà có lẽ trọng tâm nhất của đa số nghiên cứu về chiến tranh Việt Nam – tức là liệu nông dân là một lực lượng trung lập, thờ ơ với mọi phe, hay họ quyết tâm đi theo một phe duy nhất. Tôi tin rằng dữ liệu trong nghiên cứu này không ủng hộ quan niệm về người nông dân trung lập. Nhưng đồng thời, nó cũng nhắc không nên kết luận về một sự thống nhất giữa quyền lợi của nông dân và chính sách của Đảng. Đã có nhiều ví dụ chứng tỏ người nông dân đáp ứng có chọn lọc các mệnh lệnh của cách mạng. Nó chứng tỏ mối quan hệ đôi khi lỏng lẻo. Đồng thời, cũng có nhiều ví dụ cho thấy người cách mạng thành công trong việc sử dụng sức ép cộng đồng và khuôn xã hội làng xã theo cách đáp ứng mục tiêu của cách mạng. Sự bảo thủ của người nông dân trong mấy năm cuối cuộc chiến có lẽ cũng là bằng chứng về gốc rễ nông thôn của cuộc cách mạng [7] . Nhưng mà điều này cũng đặt vấn đề liệu những người cách mạng có phải là giới được chuẩn bị tốt cho giai đoạn phát triển kinh tế và chính trị thời hậu chiến. Đó là giai đoạn đòi hỏi những kỹ năng và thái độ khác, dựa trên một nền tảng xã hội đã thay đổi và phát triển trong một thế giới thay đổi với sự tan rã của chủ nghĩa thực dân và suy tàn của Chiến tranh Lạnh.
Những người phê phán cách mạng vì những khiếm khuyết rõ rệt – sự tàn nhẫn, nghi kị, và xu hướng toàn trị – cũng cần ghi nhớ rằng các phong trào xã hội chủ yếu được định nghĩa và định hình bởi những lực lượng tạo ra phong trào ấy. Các phong trào dân tộc chủ nghĩa ở các thuộc địa, nơi Anh quốc có thái độ khoan dung hơn, thường hướng đến một kiểu chính trị tương đối cởi mở. Các nhà dân tộc chủ nghĩa ở những nơi như Việt Nam bị buộc phải tàn nhẫn và bí ẩn vì đó là cách duy nhất mà một nhóm đối lập có thể tồn tại trong môi trường đàn áp của thực dân Pháp và sự đàn áp trong thời ông Diệm. Ở hoàn cảnh nào, sự tàn nhẫn và đàn áp cũng là điều đáng khinh, nhưng nếu gán nhãn “khủng bố” cho những người cách mạng thì cũng không đúng. Bi kịch của Việt Nam là môi trường chính trị vận động quần chúng tương đối cởi mở của giai đoạn Cách mạng tháng Tám đã bị thay thế bằng chính trị khép kín của chiến tranh cách mạng. Mà loại chính trị này lại được tạo ra bởi việc người Pháp quay lại và chế độ độc đoán không thua kém của Ngô Đình Diệm – và chưa nói đến nhu cầu cần sống còn sau những cố gắng tiêu diệt của người Mỹ.
Từ 1930 đến 1975, đồng bằng sông Cửu Long đã trải qua một loạt biến đổi. Có lẽ quan trọng nhất là sự biến chuyển trong thế giới tâm hồn của người nông dân, biến từ con dân thành công dân [8] . Sự dịch chuyển dân số ghê gớm trong chiến tranh đã thay đổi bộ mặt của các tỉnh như Mỹ Tho, nơi mà trong thế kỷ 19, người Pháp mô tả “chỉ toàn là làng với làng”. Cơ cấu xã hội vùng thôn quê bị thay đổi vì ưu thế tăng lên của lớp “nông dân trung lưu”, những người này dần dần thay thế lớp nông dân nghèo và không có ruộng để trở thành lực lượng xã hội chính ở nông thôn. Không ngạc nhiên khi năm 1975, lúc bà quay lại Mỹ Tho sau hai thập niên lưu lại miền Bắc, bà Nguyễn Thị Thập gần như không nhận ra con người và cảnh vật – và những nhà cách mạng sống sót qua thời kì 1930-75 như bà cũng chỉ còn rất ít.
Nói về cảm giác cá nhân, ấn tượng mạnh nhất của tôi từ những năm nói chuyện với những người tham gia cách mạng là khả năng quan sát và phân tích phi thường mà đa số những người này chứng tỏ. Một phần lý do là các yếu tố văn hóa chung – như sự trọng giáo dục, và trí thông minh mà nhiều người nước ngoài nhanh chóng bình luận. Nhưng cũng còn là nhờ sự đào tạo khắc nghiệt mà họ nhận từ phong trào cách mạng. Chắc chắn nó bị hạn chế trong cái nhìn, cách nghĩ và có những đường biên bị giới hạn. Nhưng dù vậy, các phiên giảng chính trị và những kinh nghiệm tức thời của việc làm cách mạng trong tình huống sống chết đã là một ngôi trường đại học tầm cỡ quốc tế về chính trị học. Cuối cùng, giá trị của những tư liệu rút ra từ các cuộc thảo luận với những con người nuôi dưỡng trong các hoàn cảnh khiêm tốn đã là chứng từ thể hiện họ, thể hiện khả năng của những cá nhân phi thường này, dù cho cuối cùng định mệnh đã định đoạt số phận họ theo cách nào.
© 2005 talawas
[1]Các tác động dồn lại của
toàn bộ các cuộc cải cách ruộng đất liên tiếp, bắt đầu từ chương trình của Việt Minh giai đoạn đầu kháng chiến, là rất sâu sắc, nhưng ảnh hưởng chính của chúng xảy ra sau năm 1975 và như thế quá muộn để giúp cho VNCH. Một giai cấp nông dân độc lập – điều những người Mỹ ủng hộ chương trình “Trả đất cho dân cày” dự đoán sẽ là nền tảng chính trị cho VNCH – quả thật đã xuất hiện. Các khảo sát đồng bằng sông Cửu Long thời hậu chiến bộc lộ mức độ biến đổi này. Khảo sát năm 1983 cho biết gần 70% là giới nông dân trung lưu, và khoảng 12% là nông dân thật giàu có sở hữu 23% đất đai. Tầng lớp trung lưu nông thôn này quả thật trở thành một lực lượng chính trị, nhưng chỉ sau năm 1975, và trong một hoàn cảnh khi họ chống đối tập thể hóa. Phần nào đó, những thay đổi xã hội nông thôn diễn ra trong 30 năm xung đột đã khiến miền Nam miễn nhiễm với chủ nghĩa xã hội. Nếu mục tiêu của chiến tranh là không để cho CNXH chiến thắng ở nông thôn miền Nam, thì cuộc xung đột có thể xem là thành công của chính sách Mỹ. Nhưng như thường xảy ra ở Việt Nam, thực tế lại phản ánh điều tồi tệ nhất của cả hai thế giới. Người cách mạng thắng trận chỉ để thấy giấc mơ về CNXH tan biến, còn đối phương của họ lại chỉ có sự hài lòng phù phiếm khi thấy những thất vọng của Hà Nội chỉ sau khi họ đã thất trận. (trích trang 1242)
[2][Trong giai đoạn từ 1972-75] viễn cảnh về những phần thưởng cách mạng đem lại đã bắt đầu giảm sút do thực tế về tiến triển của cách mạng ở cả Bắc lẫn Nam. Người nông dân đã thấy lợi ích của các khoản cấp đất cách mạng có thể không chắc chắn thế nào. Và một hậu quả bất ngờ của việc đưa quân miền Bắc vào Nam là thông qua những liên lạc và nói chuyện, người nông dân miền Nam bắt đầu có ý niệm về cuộc sống dưới CNXH, và đa số không thích điều họ nghe – đặc biệt là khả năng đất của họ sẽ bị tập thể hóa. Không may cho chế độ VNCH, sự giảm sút nhiệt tình cách mạng đã không làm tăng mức độ ủng hộ tương ứng cho VNCH. Ở tầm mức toàn quốc, nguyên nhân là việc chính quyền không củng cố được nền tảng chính trị của những người đã mất nhiệt tình cách mạng. Còn ở mức địa phương tại những nơi như Mỹ Tho, vấn đề là ở hành vi của các viên chức và quân đội. Những người này không chinh phục được những người dân đã rời bỏ cách mạng. Sài Gòn đã không vận động được họ để làm thành trì chống cách mạng. Những người nông dân này, cùng với những lực lượng khác vốn vẫn chống cách mạng, sau đó trở thành tầng lớp phản kháng các định chế XHCN áp đặt lên miền Nam sau 1975. Nhưng trong giai đoạn 1972-75, mặc dù sự ủng hộ phong trào cách mạng giảm về
số lượng, nhưng
mức độ ủng hộ của những người vẫn còn đi theo cách mạng thì tăng lên so với giai đoạn 70-71. ̣(trích trang 1296)
[3]Làm sao chế độ VNCH lại để mất ưu thế rõ rệt ở đồng bằng sông Cửu Long trong vòng một năm, từ 1971 đến 1972? Một phần câu trả lời là sự tăng viện quân miền Bắc và giảm hỗ trợ của Mỹ, nhưng các yếu tố chủ chốt mang tính chính trị và tâm lý. Một phần giải thích việc chế độ VNCH không thể chuyển sức mạnh quân sự thành ưu thế chính trị là vì ngay cả khi Đảng Cộng sản đã khiến người ủng hộ xa lánh, uy tín dân tộc chủ nghĩa của Đảng có từ thời Cách mạng tháng Tám vẫn nhiều hơn VNCH, vốn có nguồn gốc từ thời thuộc địa và phụ thuộc lộ liễu và trực tiếp vào nước ngoài. Rõ ràng khi chiến tranh tiếp diễn, điều này bắt đầu thay đổi khi nhiều người Việt bắt đầu thấy có giá trị trong tuyên ngôn của VNCH rằng họ đại diện cho ‘người quốc gia’. Tuy nhiên, chính phủ Sài Gòn đã không đủ khả năng củng cố các lực lượng trong xã hội Việt Nam. (trích trang 1214)
[4]Cuốn
The Fall of South Vietnam, một nghiên cứu của Rand Corporation làm năm 1980, qua phỏng vấn với các tướng lĩnh quân đội VNCH, kết luận rằng trong cái nhìn của các viên tướng, tham nhũng là ‘nhân tố chủ chốt của chính thể miền Nam’. Ở mức địa phương, tham nhũng và sự độc đoán là trải nghiệm của đa số dân ở nông thôn và khiến họ không thích thú với hệ thống chính quyền VNCH – mặc dù nói một cách khách quan, chính quyền VNCH ít đòi hỏi và ít ngột ngạt hơn so với hệ thống kiểm soát cách mạng. Sự tham nhũng và vô hiệu năng của chính quyền Sài Gòn lẽ ra có thể khiến những nông dân bị thúc ép cảm thấy dễ thở hơn (thông qua việc hối lộ), nhưng với những người dưới đáy không tiền và những người chịu sự sách nhiễu của quân lính, thì mối quan hệ tiền bạc không phải là sự thay thế hấp dẫn cho những giá trị cứng rắn nhưng công bằng hơn trong các cộng đồng do cách mạng kiểm soát. (trích trang 1217)
[5]Nối hoài nhớ nhiệt thành về lá cờ miền Nam của người Việt hải ngoại là một chỉ dấu nói rằng các xã hội và chính thể thay đổi theo thời gian. Ưu thế chính trị của cuộc cách mạng trong việc nhận mình đại diện cho chủ nghĩa dân tộc bị bào mòn theo thời gian, mặc dù nhiều, nếu không nói đa số, viên chức Sài Gòn trong những khoảnh khắc nội tâm hơn cũng thừa nhận cảm giác là phe họ không đủ so sánh với đối phương về vấn đề chủ nghĩa dân tộc. Bất chấp sự thông minh và tài năng của nhiều người trung thành, nhưng với tư cách một hệ thống, VNCH bị tê liệt vì tham nhũng thể chế; và với tư cách một phong trào chính trị, nói chung họ đã không thể tạo ra các lãnh tụ có ảnh hưởng và được kính trọng – chỉ có một số ngoại lệ. Sự phụ thuộc hỗ trợ của nước ngoài cũng giảm sút sức hút dân tộc của họ trong mắt nhiều người Việt Nam. (trích trang 1380) Khi ra nước ngoài, giọng điệu của viên chức cũ trở nên tự tin hơn, và mặc cảm thua kém trước đây nay lùi vào quá khứ, đặc biệt vào lúc đối phương ngày xưa của họ lúng túng trong việc đưa Việt Nam vào thế kỷ 21. Giữa nhiều người miền Nam mà trước đây từng chỉ trích lãnh đạo VNCH, thì quá khứ đã được trình bày lại và VNCH được khôi phục lại như một thời kì vàng son của dân chủ và thịnh vượng. (trích trang 1380)
[6][Những thành viên cách mạng còn sống đến phút cuối cuộc chiến] thường là những người cứng rắn, giáo điều và tin tưởng tuyệt đối vào cách mạng. Nhưng đây không phải lúc nào cũng là những người đủ khả năng đưa VN đi tiếp trên đường phát triển. Họ đã từng thể hiện sự dũng cảm phi thường, thậm chí anh hùng. Nhưng họ cũng đã học những thói quen để sống còn mà giờ đây kiềm chế sự phát triển của một hệ thống cởi mở hơn thời hậu chiến. Ngoài một số ngoại lệ đặc biệt, niềm tin của họ về sự khổ hạnh và hy sinh, tuy đáng trọng trong thời chiến, lại không giúp cho phát triển kinh tế. Quan trọng nhất, niềm tin rằng phong trào cách mạng quan trọng hơn mọi quyền lợi cá nhân đã dẫn tới sự coi thường quyền và lợi ích của nhân dân, và thường trở thành cớ cho việc lạm dụng quyền lực của những cán bộ, những người coi thường quy tắc pháp trị tư sản và cho rằng mục tiêu cách mạng có thể biện minh cho phương pháp. (trích trang 1382)
[7]Ở một mức độ ngạc nhiên, sự bảo thủ của nông dân – chứ không phải ý thức hệ hay sự tính toán lý trí – giúp giải thích rõ hơn vì sao những người cách mạng ở Mỹ Tho lại gắn bó với cách mạng trong lúc khó khăn. Những thay đổi lớn trong cách sống ở vùng đô thị đã đổ về nông thôn, khi các ‘cô gái bar’ và ‘cao bồi’ thỉnh thoảng trở về thăm làng xưa, hay được thấy bởi dân làng họ ở vùng thành thị…Nói chung ở những ngôi làng càng xa khu vực do VNCH kiểm soát và có thời gian lâu dài bị kiểm soát bởi cách mạng thì thù địch hơn trước các ảnh hưởng văn hóa của VNCH. Đó không chỉ là quan điểm chính trị của các cán bộ, mà còn là phản ứng bảo thủ của nông dân trước các tác động đô thị xúc phạm quan niệm của họ về sự đúng đắn. (trích trang 1228)
[8]Như các sự kiện sau này đã chứng tỏ, chủ nghĩa cá nhân ăn sâu trong người dân ở nông thôn miền Nam. Cách mạng đã có một ảnh hưởng biến đổi lớn lên những nông dân này, bằng việc giáo dục họ để hiểu những quyền lợi của chính mình và đấu tranh cho chúng. Đến khi sau chiến tranh, khi những quyền lợi này trở nên khác quyền lợi của Đảng, ít ai ngạc nhiên khi thấy những nông dân này đã đứng lên bảo vệ bản thân.