Tahar ben Jelloun
Chỉ có thể chúc mừng các nhà tổ chức Hội chợ sách Frankfurt năm nay đã có sáng kiến chọn thế giới A-rập làm chủ đề. Quả là một quyết định dũng cảm trong thời buổi hình ảnh thế giới A-rập bị phần lớn dư luận đánh đồng với chủ nghĩa khủng bố. Song có một điều này: không có thế giới A-rập, ít nhất như một khối thuần nhất. Tất nhiên là có các nước A-rập cũng như các dân tộc A-rập khác nhau hoặc tương tự hoặc phức tạp, khó lường. Nhưng thế giới A-rập chỉ là một dự tính, một sự không tưởng. Người A-rập biết rõ điều này nhưng không muốn thừa nhận, khiến người ta có thể cho rằng họ đã thề sẽ chẳng bao giờ chịu thống nhất, chẳng bao giờ chịu phát biểu công khai với một tiếng nói duy nhất có sức mạnh thuyết phục.
Trong thế giới A-rập các nền chính trị không dựa trên những cơ cấu giống nhau. Mỗi nước thoát thai từ một hoàn cảnh và sự bó buộc khác nhau. Mọi nỗ lực nhằm thống nhất thế giới này đều đã thất bại: với tổng thống Ai Cập Nasser ( sau khi lên nắm quyền bính năm 1952 qua đảo chính) cũng như với tổng thống Libya Ghaddafi (lên nắm quyền qua đảo chính năm 1969).
Làm sao thống nhất nổi một thế giới đa dạng như thế? Có gì được gọi là chung giữa những vương quốc dầu mỏ vùng Vịnh và những nước vùng Maghreb [1] mà đa số dân chúng có nguồn gốc Berber [2] chứ không phải A-rập? Dẫu sao hầu hết các nước này giống nhau ở một điểm: thiếu dân chủ và có một thứ luật gia đình thuộc loại lạc hậu nhất thế giới.
Đó là về mặt tiêu cực. Còn mặt tích cực là quá khứ vinh quang giữa thế kỉ 9 và 11, thời kì mà những nền móng quan trọng về khoa học và triết học được người A-rập triển khai, ảnh hưởng khắp thế giới. Một điểm chung nữa là thứ tiếng A-rập chuẩn, ngôn ngữ của kinh Coran mà chỉ giới ưu tú mới nói, còn mỗi sắc dân A-rập đều có phương ngữ riêng của họ. Đạo Hồi, về phần mình, không chỉ là một điểm chung, nó còn là điểm qui chiếu về đạo đức, song chính vì thế mà những sự kiện chính trị trong các thập niên vừa qua đã không ngừng bị bóp méo và xuyên tạc.
Qui chụp là “gián điệp của phương Tây”
Một vài đại biểu của những người ưu tú này được mời dự Hội chợ sách ( 06 – 10.10.04). Đó là những nhà văn chỉ viết bằng tiếng A-rập chuẩn. Đa số từ Ai Cập, không chỉ vì ông Mohammed Goanem, Ủy viên phụ trách Hội chợ, được Liên minh A-rập và Alesco (Unesco ở các nước A-rập) chỉ định là người Ai Cập, mà còn vì từ trước đến nay Ai Cập vốn là trung tâm quan trọng của văn hóa A-rập, tự xem là cái nôi thật sự và đáng tin cậy của văn chương A-rập.
Trước cuộc nội chiến ở Lebanon vào năm 1975, nhiều tác giả và người xuất bản đã định cư ở Beirut [3] để tránh vấn đề kiểm duyệt. Người ta đồn rằng một trong những lí do khiến Lebanon bị tàn phá vì Beirut là nơi nương náu của sự sáng tạo văn hoá, nhất là của tự do. Ngày nay Lebanon sống dưới sự chiếm đóng của Syria và phần lớn nền chính trị của nước này được Damascus [4] chỉ thị. Ai thông hiểu về nền chính trị của nhà nước Syria cảnh sát trị hẳn biết rằng mọi sự đều bị kiểm soát và không có gì khó đoán về tình trạng văn hoá ở đó.
Sai lầm tai hại của các nhà trách nhiệm Đức về Hội chợ sách là đã mời các nước thay vì mời các tác giả. Ta nên biết rằng phần lớn Hội nhà văn các nước A-rập đều gắn liền với nhà nước. Chỉ có Hội nhà văn Marocco là từ lâu nay vẫn thoát được sự giám hộ của chính phủ và hoàng cung, nhưng không thoát nổi sự giám hộ của các đảng phái chính trị. Các nước này sẽ chỉ cử đến Hội chợ sách những nhà văn không gây phiền toái qua phản kháng hay vạch trần những âm mưu của họ. Thế nhưng vai trò của nhà văn chính là phê phán và suy nghĩ khác nhà nước. Sai lầm trên có thể minh họa rõ rệt nhất qua sự so sánh này: giả thử rằng trong những năm giữa 1960 và 1980 Hội chợ sách Frankfurt chọn các nước Đông Âu làm chủ đề. Như thế thì chỉ có những nhà văn chính thức và những tác giả được lòng nhà nước mới hiện diện thôi. Còn những kẻ chống đối chắc chắn sẽ không được góp mặt.
Năm nước đã từ chối tham dự Hội chợ sách năm nay rồi: Algeria, Marocco, Iraq, Kuwait và Libya, vì những lý do khác nhau. Trường hợp Iraq rõ ràng quá, đất nước bị tàn phá này có những mối lo khác khẩn thiết hơn. Kuwait và Libya viện lí do tài chính. Marocco và Algeria muốn xuất hiện độc lập. Hai nước này không tán thành những quyết định đơn phương của ông Ủy viên người Ai Cập. Ngày 24.7. 2004 nhật báo Marocco Al Alam đã viết về việc nước này không tham dự Hội chợ như sau: “Các nhà tổ chức đã quên mời những đại diện Marocco ‘biểu tượng’ như triết gia Mohammed Abed Jabri, nhà sử học Abdallah Laroui hoặc nhà soạn kịch Taieb Saddiki.”
Bên cạnh những chuyện mang tính hình thức này có một vấn đề cơ bản: có hay không một nền văn học A-rập? hay là trong thế giới A-rập có bao nhiêu nước thì có bấy nhiêu thứ văn học? Văn chương là ngôn ngữ. Thế chẳng hạn đối với những tác giả A-rập viết bằng tiếng Pháp hay tiếng Hòa Lan thì sao? Phải xếp họ vào đâu khi lưu ý thêm rằng công chúng phương Tây biết đến họ hơn là những nhà văn viết bằng tiếng A-rập? Với Amin Maalouf, Assia Djebbar, Fouad Laroui hay Driss Chraibi thì sao? Tác phẩm của những tác giả này diễn đạt sâu sắc thực tế của Lebanon, Algérie hay Marocco. Họ giữ vị trí nào tại Hội chợ sách này khi các tác giả viết bằng tiếng A-rập được xem là những đại biểu chính đáng duy nhất của văn hóa A-rập, còn những người viết bằng ngôn ngữ khác lại không được nhìn nhận?
Trong thế giới A-rập người ta đã từng tranh luận một thời gian dài quanh chính những câu hỏi về bản sắc và tư cách này mà không đi tới quyết định nào. Song trong những tác giả viết bằng tiếng A-rập lan tràn nỗi bực dọc lớn sau đây: một số đồng nghiệp viết bằng tiếng Pháp của họ được đọc nhiều hơn và có tiếng tăm lớn trên trường quốc tế. Đối với dư luận phương Tây những người này đóng vai trung gian, làm nhịp cầu nối thế giới A-rập với thế giới bên ngoài. Những nhà văn viết bằng tiếng A-rập kết án họ về vai trò này, nhẹ nhất thì họ bị chửi là “những nhà văn ngoại nhập, bám cổ độc giả châu Âu”, còn tệ nhất là “gián điệp của phương Tây”.
Tháng chín 2003 Hội nhà văn Marocco đã tổ chức ở Rabat một hội thảo về tình trạng tiểu thuyết A-rập. Chỉ vì bộ trưởng ngoại giao Marocco đã gặp một bộ trưởng Israel ở Luân Đôn mà các tác giả Ai Cập đã tẩy chay hội thảo này. Trước hết họ không muốn bị rơi vào sự công kích của một bộ phận truyền thông Ai Cập – luôn kết án mọi tiếp xúc với “kẻ thù xi-ôn”. Những nhà văn A-rập khác, phần lớn sống ở nước ngoài, đã đến tham dự và giãi bầy về hoàn cảnh bi đát của họ: trong thế giới A-rập người ta càng ngày càng ít đọc. Một tác phẩm bestseller hiếm khi hơn được 3000 ấn bản. Thế nhưng người ta dường như thích tranh cãi xem có nên tham dự hội thảo của các nhà văn hay không…
Thế giới A-rập đang trong cơn khủng hoảng; thậm chí có người nói đến sự suy tàn, kẻ khác bi quan hơn cả quyết rằng đó là một sự trừng phạt, một thảm họa. Israel nào có coi chữ nghĩa A-rập ra gì, dân chúng Palestine vẫn tiếp tục bị súng đạn Israel bắn gục mà không một nước A-rập nào đủ khả năng làm chuyển biến được chút gì. Người A-rập không có chỗ đứng trong lịch sử. Chủ nghĩa cuồng tín và chủ nghĩa khủng bố ra tay, triệt tiêu chút hy vọng cỏn con manh nha trong vài nước như Jordan và Marocco.
Hội chợ cần dành một chỗ đứng cho những người lưu vong
Cuộc xung đột Israel – Palestine, cuộc chiến tranh vùng Vịnh và cuộc chiến tranh Iraq hiện nay đã hủy hoại hình ảnh và bộ mặt thế giới A-rập. Dầu mỏ của các vương quốc vùng Vịnh đúng ra là một tai ách đã kềm hãm sự phát triển văn hoá và cách tư duy phê phán. Các tệ nạn chính trị vẫn luôn lây lan sang lãnh vực văn hóa. Nhà thơ cung đình khom lưng trước quyền lực chính trị theo truyền thống xưa kia. Họ được nuôi để ca ngợi giới có chức có quyền. Chẳng ai nhớ tới những nhà thơ này cả, song trên những trang báo nhà nước đầy những bài thơ ca tụng của họ. Tôi e rằng tại Frankfurt sẽ có cả đống loại này. Còn những nhà văn không chịu thỏa hiệp thì gặp khó khăn. Hễ lưu vong được là họ đi ngay. Hội chợ nên dành cho đông đảo những người lưu vong này một chỗ đứng.
Vì những lí do trên, phần lớn văn học A-rập mang đề tài chính trị. Trung lập là thứ xa xỉ mà một tác giả A-rập không kham nổi. Anh ta bắt buộc phải lăn lưng vào, phải quan tâm đến môi trường chính trị và xã hội là những nguồn tạo cảm hứng. Cho dù tác phẩm của họ tương đối ít được đọc [nếu so sánh với phương Tây], các tác giả A-rập vẫn có một giới độc giả trung thành. Giới độc giả này chờ đợi ở họ đủ thứ: là tiểu thuyết gia, đồng thời họ phải là thi sĩ, nhà hoạt động xã hội, luật sư, anh hùng, kẻ tuẫn nạn và nhiều thứ khác nữa.
Đó là cả một vấn đề lớn khiến các nhà văn này không sống nổi bằng trước tác của mình, buộc phải làm những ngành nghề khác hay viết cho nhật báo. Lại còn thêm nạn in lậu nữa chứ! Những kẻ gọi là người xuất bản (thật ra họ không đáng được gọi như thế), chủ yếu ở Syria, thuổng những sách đã ấn hành ở Lebanon, Ai Cập hay Marocco rồi phát hành mà chẳng trả cho ai một xu teng. Quyển sách ấy thế là xuất hiện trên thị trường A-rập với giá bằng một phần ba giá gốc. Kiểu làm ăn này, khiến ngay cả những tác giả viết bằng tiếng Pháp cũng bị thiệt hại, được các cơ quan nhà nước Syria bao che với lí do Syria không kí thoả ước Genève về bản quyền. Bằng cách ấy, giới chức trách Syria đã hậu thuẫn những kẻ xuất bản gian trá – thực chất là lũ ăn cướp – nói trên.
Năm 1988, khi Naguib Mahfuz được trao giải Nobel văn chương thì báo chí A-rập cho rằng Viện hàn lâm Thụy điển muốn đền bù sự sai quấy của họ, vì trước đó chưa có một tác giả A-rập nào được trao giải này. Giải thưởng này cũng đã tác động tích cực lên toàn bộ nền văn học A-rập. Song từ đó đến nay tình hình không tiến triển thêm. Các nhà tổ chức Hội chợ sách Frankfurt đã buộc phải thấy thế giới văn học A-rập phức tạp nhường nào. Nó vừa nghèo nàn lại vừa giàu, nhà thơ thì đầy rẫy mà tiểu thuyết gia lại hiếm, vì xã hội A-rập không trọng cá thể, nó chuộng phe cánh và thị tộc hơn.
Mà tiểu thuyết, như một thể loại của nghệ thuật, gắn liền với sự nhìn nhận từng cá nhân riêng lẻ. Mãi năm 1914 trên một trong những nhật báo lớn ở Cairo mới xuất hiện tập tiểu thuyết đầu tiên Zainab dưới dạng nhiều kì. Tác giả, Mohammed Hussein Haykal, không giới thiệu nó với độc giả như tiểu thuyết mà là Kí sự biên niên của một gia đình ở làng quê. Bấy giờ tiểu thuyết bị xem là một thể loại thiếu đạo đức. Haykal từng sống ở Paris và đã thừa nhận chịu ảnh hưởng của Flaubert [5] . Ông bị kết tội theo dị giáo và phản bội.
Điều này cho thấy tại sao thơ trữ tình lại là thể loại chính yếu của nền văn học A-rập. Nó được quần chúng ưa thích. Một buổi đọc thơ của nhà thơ Palestine Mahmaoud Dawisch hay Adoni, nhà thơ Syria-Lebanon, thu hút cả nghìn người yêu thơ. Hội chợ sách Frankfurt lẽ ra chỉ nên mời các nhà thơ trữ tình A-rập thôi hay ít ra dành cho họ một chỗ đứng xứng đáng. Người ta muốn mời các tác giả của thế giới A-rập nhưng lại chỉ gây hiềm khích giữa những người A-rập. Giới hữu trách của Hội chợ sách hẳn đã không rõ về sự phức tạp ghê gớm và những ngộ nhận chi phối đời sống văn hoá của những đất nước vốn dị biệt cỡ này. Mọi người coi đó là những chuyện do chính trị chi phối khiến tự do và sáng tạo phải chịu thiệt thòi. Tuy vậy đây là cơ hội ngàn năm một thuở cho một khu vực văn học đa dạng ít được biết đến. Biết đâu sau Hội chợ sách các nhà xuất bản châu Âu sẽ phổ biến tiểu thuyết, kịch, thơ của một thế giới mà người ta có thể tìm hiểu qua các tác phẩm nghệ thuật tốt hơn là qua lăng kính của chuyện thời sự.
Tahar Ben Jelloun là nhà văn Maroco nổi tiếng nhất hiện nay. Sinh năm 1944 ở Fez, định cư tại Paris đầu những năm 70, viết văn bằng tiếng Pháp.
© 2004 talawas
[1]Maghreb: tiếng A-rập nghĩa là ‘phía tây’. Đây là các nước ở phía tây của thế giới A-rập như: Tunesia, Algeria và Maroco.
[2]Berber: tên chỉ chung cư dân vùng Bắc Phi trước khi người A-rập và đạo Hồi đến chinh phục vùng này (thế kỉ thứ 7).
[3]Beirut: thủ đô Lebanon.
[4]Thủ đô Syria.
[5]Gustave Flaubert (1821 – 1880), văn sĩ Pháp, tác giả tiểu thuyết ‘Madame Bovary’ nổi tiếng.