trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
11.10.2003
J. M. Coetzee
Buổi diễn duy nhất trên phố
 

Viết không nở rộ dưới sự kiểm duyệt. Điều này không có nghĩa sắc lệnh của kẻ kiểm duyệt, hoặc bóng hình kẻ kiểm duyệt, đã tiếp thu, là cái áp lực duy nhất, hay thậm chí, chủ yếu trên nhà văn: có những hình thái đàn áp – kế thừa, thu thập, hoặc tự áp đặt – có thể biểu lộ trầm trọng hơn. Cũng có thể có những trường hợp khi sự kiểm duyệt bên ngoài khơi dậy trong nhà văn những phương cách thú vị hoặc kích thích tính sáng tạo. Nhưng những mưu cách ngụ ngôn mà sự kiểm duyệt tạo ra thông thường thì không gì hơn là tài khéo; trong lúc những chướng ngại mà các nhà văn có khả năng khám nghiệm trên chính mình thì chắc chắn là đủ về số lượng và thứ loại để họ không cần phải yêu cầu thêm.

Tuy nhiên, vì lợi ích chung, vì lợi ích nhà nước, đôi lúc các cơ chế chỉnh đốn và giám sát đuợc thành lập, tăng trưởng và tự chúng cố thủ, như tập quán của các bộ máy quan liêu. Thật khó có nhà văn nào khi suy ngẫm về qui mô của các cơ chế ấy mà không điểm một nụ cười hoài nghi. Nếu các biểu trưng, chỉ là những cái bóng, thực nguy hiểm đến thế, một người có thể nghĩ, thì nhất định các biện pháp đối phó thích hợp chính là các biểu trưng khác: những biện pháp đối phó khác. Nếu sự chế nhạo sói mòn lòng tôn trọng nhà nước, nếu lời báng bổ xúc phạm Chúa, nếu phương tiện khiêu dâm phá nghĩa niềm đam mê, thì rõ ràng rằng lòng tôn trọng sẽ đủ nếu tiếng nói phản bác, mạnh mẽ hơn và thuyết phục hơn, cất lên để bảo vệ thẩm quyền nhà nước, vinh danh Chúa, tán dương tình yêu trinh bạch.

Sự đáp ứng này hoàn toàn phù hợp với cứu cánh luận của chủ nghĩa tự do, vốn tin vào việc mở toang thương trường cho các lực lượng tranh giành, bởi về lâu về dài thị trường có khuynh hướng tiến đến cái tốt, tức là, để mà nói, tiến đến sự tiến bộ, cái mà chủ nghĩa tự do lĩnh hội qua một quan điểm lịch sử và thậm chí siêu hình. Nó hoàn toàn cọc cạch với quan niệm của các nhánh Hồi Giáo, Do Thái giáo và Tin Lành khổ hạnh nhất – khi đưa ra một sức cám dỗ và ma tà tại gốc rễ quyền lực của sự biểu trưng, và như thế không có lí do gì để chờ đợi rằng, trong một cuộc chiến giữa các sự biểu trưng, một cuộc chiến không luật lệ, các biểu trưng tốt sẽ khải hoàn – chọn việc cấm đoán các hình tượng khắc tạc.

Tại đây, chúng ta đến ngưỡng cửa một cuộc tranh luận giữa quyền của cá nhân trái với quyền của tập thể, đủ quen thuộc để không cần phải nhắc lại nhiều, và về điều này tôi không có gì để đóng góp, có thể ngoại trừ một sự thận trọng trước cái kiểu cảnh giác đạo đức vốn xác định đặc điểm các tầng lớp quần chúng dễ bị tổn thương và bắt đầu bảo vệ họ trước những tổn hại mà do tính chất của chúng, họ phải bị bịt mắt (chủ đề bắt đầu) vì rằng chỉ cần biết sự tổn hại có nghĩa là đau sự tổn hại. Ở đây, chủ yếu tôi đề cập đến trẻ con, dù chủ đề đã từng được đưa ra, đặc biệt là từ những tín đồ được gọi là mộc mạc. Chúng ta quan tâm đến việc bảo vệ trẻ con, phần lớn là để tránh cho chúng những hậu quả của tính tò mò vô hạn về các vấn đề tính dục. Nhưng chúng ta không nên quên rằng trẻ con trải nghiệm việc kềm chế những sự thăm dò của chúng – sự kềm chế mà tự thân những tiền đề không thể giải thích chính xác cái gì là cái bị cấm – không như sự bảo vệ mà như sự ấm ức. Từ những biện pháp nguời lớn dùng để chối từ sự thỏa mãn tính tò mò của trẻ con, có thể trẻ con lại không suy ra một cách chính đáng rằng sự tò mò của chúng là đáng kiểm duyệt?; và từ những giảng giải được cung cấp cho việc chế ngự – những giảng giải bí ẩn với những lỗ hổng – có thể trẻ con lại không suy ra rằng chúng không được tôn trọng như các tác nhân đạo đức? Có thể cái sai về luân thường đạo lí phạm trên đứa trẻ trong quá trình xử lí lại không dai dẳng hơn bất kì cái tổn hại nào mà đứa trẻ có thể phải chịu khi đi bất cứ nơi nào mà sự tò mò dắt đến?

Đây không phải là một lí lẽ để cất các dữ liệu tính dục bộc bạch ra xa trẻ con, cũng không phải là một lí lẽ chống lại điều ấy. Nó là một suy ngẫm về mức độ tổn hại cân nhắc giữa cái này và cái kia, về việc giữ thăng bằng những cái không thể lường, về việc chọn lựa giữa những cái xấu. Khi lấy những chọn lựa như thế, chúng ta có thể bao gồm trong ước lượng cái nhận xét cho rằng đối với một đứa bé, những cái mà người lớn làm với cơ thể của chính họ hoặc với cơ thể của nhau không chỉ hấp dẫn và gây bối rối mà còn xấu xí và ngồ ngộ, thậm chí ngờ nghệch; cũng thế, cái nhận xét cho rằng dẫu đứa bé thành công hay không trong việc chặn đứng ý nghĩ coi cái thiên hạ làm trong hình là cái bố mẹ nó cũng có thể làm, thì cũng khó có cha mẹ nào mà không phóng chiếu cái ý nghĩ này vào đứa bé, và, trong lúc trải nghiệm lại nó qua đứa bé, thì cảm thấy bối rối, xấu hổ, và ngay cả tức giận. Chúng ta cũng không nên quên rằng ai là kẻ bối rối nhiều nhất khi những cảnh tượng người lớn trần truồng thồ lộ phơi bày trước cái nhìn chằm chằm vô tư của một đứa trẻ. Cái khoảnh khắc là một khoảnh khắc rắc rối; nhưng một khi đuợc bao gồm trong sự thèm khát của chúng ta để mà giữ các cảnh tượng như thế ra xa đứa trẻ thì có thể nào lại không là một ao ước, qua liên tưởng, để không bị hạ thấp trong niềm quí trọng của đứa trẻ, để không bị trở thành đối tượng của sự ghê tởm hoặc trò vui của đứa trẻ? Max Scheler phân biệt giữa sự trần truồng của một thần Vệ Nữ, điêu khắc bằng nỗi kính sợ đến mức nàng hình như mang một cái lốt khiêm tốn về nàng, và sự “mất cao hứng”, hoặc sự mất cái thần, xảy ra khi niềm kinh ngạc ban sơ hoặc trẻ thơ bị đánh mất, rồi cái thân thể trần truồng được nhìn bằng cặp mắt hiểu biết. Ông nối kết sự mất cao hứng với cái ông gọi là sự “bục phá tổng giác” (apperceptive breaking out) của các bộ phận tính dục ra khỏi thân thể: không còn được xem là toàn vẹn với thân thể, rồi cũng không được xem như những “trường biểu lộ của các sự vận động thầm kín và say đắm”, các bộ phận tính dục, đặc biệt, một người có thể ghi nhận, cái bộ phận nam, với cái vẻ tạng phủ thò lò của nó – hăm he trở thành đối tượng của sự kinh tởm. Chẳng có gì lạ khi chúng ta mong ước bảo toàn thời thơ ấu của trẻ con bằng cách che chở chúng khỏi những cảnh tượng ấy; nhưng tính nhạy cảm của ai mà chúng ta trước tiên đang giữ gìn, của các đứa trẻ hay của chính chúng ta?

Các bộ phận tính dục, Saint Augustin quan sát, vận động độc lập với ý chí. Đôi khi chúng phản ứng với cái chúng ta không muốn chúng phản ứng; đôi khi chúng duy trì tình trạng “đóng băng” khi chúng ta muốn tận dụng chúng. Từ cái bất phục tùng này của xác thịt, dấu ấn của một trạng thái sa ngã/chịu nạn (fallen state), chẳng ai miễn nhiễm, ngay cả những kẻ giám sát đạo đức chúng ta. Một kẻ kiểm duyệt tuyên bố một lệnh cấm, dù về một cảnh tượng tục tĩu hay một màn bắt chước chế giễu, là giống một người đàn ông đang cố gắng chặn đứng dương vật của mình đang cương lên. Cảnh tượng thì nực cười, nực cười đến nỗi kẻ ấy chóng vánh sẽ là một nạn nhân không chỉ của cái bộ phận ngỗ ngược của kẻ ấy mà còn của các ngón tay chỉ trỏ, của các giọng điệu cười đùa. Đây là điều tại sao cái định chế kiểm duyệt phải tự vây quanh nó bằng các lệnh cấm phụ trên sự xâm phạm phẩm cách nó. Từ cái cáu gắt sang cái bị diễu cười thay cho cái cáu gắt sang cấm đoán cái bị diễu cười, cáu gắt là một cuộc tiến hành các-thứ-quá-quen-thuộc vào tính chuyên chế, cái có lẽ cho chúng ta thêm lí do để thân trọng.

Trong sự ví von trên, tôi hầu như không cần vạch ra rằng kẻ tuyên bố lệnh cấm không nhất thiết phải là nam giới. Kẻ tuyên bố lệnh cấm bằng đạo luật ấy qui sự đòi hỏi cho biểu tượng Dương Vật, nhưng dương vật trong cái hình thái trần tục của nó: con cu. Khoác vị thế của kẻ kiểm duyệt, kẻ này trở thành, trong thực tế, kẻ mù, kẻ ở trung tâm của cái vũ đài trong trò chơi bịt mắt bắt dê. Trong khoảng thời gian – đến khi cái giải bịt mắt mà cùng lúc biểu thị kẻ ấy, phấn chấn kẻ ấy, và bất lực kẻ ấy, có thể chuyển đi – thì số phận kẻ ấy là kẻ xuẩn ngốc, loạng choạng, bị diễu cười, và bị lảng tránh. Nếu tinh thần của trò chơi, tinh thần của đứa trẻ, trị vì, thì kẻ kiểm duyệt phải chấp nhận cái trò hề đi cùng với vương quyền mù. Kẻ kiểm duyệt – kẻ từ chối là một tên hề, kẻ giật phăng cái khăn bịt mắt rồi buộc tội, trừng phạt những ai diễu cuời – thì không tham dự trò chơi. Kẻ ấy, do đó, trở thành, trong nghịch lí của Erasmus, kẻ thực sự xuẩn ngốc, hoặc đúng hơn, kẻ xuẩn ngốc giả dối. Kẻ ấy xuẩn ngốc bởi kẻ ấy không tự biết mình là một kẻ xuẩn ngốc, bởi kẻ ấy tin rằng, đang ở trung tâm của cái vũ đài, hắn là vua.

Trẻ con, với tư cách trẻ con, thì không ngây thơ. Chúng ta, tất cả, đã từng là trẻ con và biết – trừ phi chúng ta có ý quên – rằng chúng ta ít ngây thơ thế nào, rằng những gì là những nỗ lực tuyên truyền kiên quyết cần đến để biến chúng ta thành những đứa trẻ ngây thơ, rằng mỗi bao lâu thì chúng ta lại tìm cách trốn khỏi buổi cắm trại dàn dựng cho tuổi thơ và thế nào là sự cương quyết qua đó chúng ta bị lùa về. Chúng ta cũng không tự nhiên sở hữu phẩm cách. Chắc chắn chúng ta sinh ra vắng phẩm cách, và chúng ta trải qua đã quá là đủ thời gian mình với mình, trốn tránh những cặp mắt kẻ khác, làm những điều chúng ta làm khi chúng ta mình với mình, để biết cái mà chúng ta xem là mình một cách lương thiện có quyền đòi hỏi là ít thế nào. Chúng ta cũng thấy đã quá là đủ việc các con vật chú ý đến phẩm cách của chúng (những con mèo, chẳng hạn) để biết rằng những kì vọng về phẩm cách có thể xiết bao khôi hài.

Ngây thơ là một trạng thái chúng ta tìm cách giữ cho con cái chúng ta; phẩm cách là một trạng thái chúng ta đòi hỏi cho chính chúng ta. Lăng mạ tính ngây thơ của con cái chúng ta hoặc lăng mạ phẩm cách bản thân chúng ta là những sự tấn kích không phải vào sự tồn tại thực chất của chúng ta mà vào các kiến tạo – những kiến tạo qua đó chúng ta sống, nhưng dẫu sao vẫn là những kiến tạo. Điều này không để nói rằng lăng mạ tính ngây thơ hoặc lăng mạ phẩm cách không phải là những lăng mạ thực, trong cái nghĩa của một tâm trạng không biểu lộ thành thật. Sự xâm phạm là thực; thế nhưng, cái bị xâm phạm không phải là thực chất của chúng ta mà là một sự hư cấu nền tảng mà chúng ta một lòng một dạ ít nhiều đăng kí, một sự hư cấu có lẽ rất thiết yếu cho một xã hội công bình, cụ thể là, con người có một phẩm cách, cách riêng họ với những con vật và do đó che chở họ khỏi bị đối xử như những con vật. (Ngay cả có khả năng chúng ta sẽ mong đợi một ngày khi những con vật sở hữu phẩm cách qui riêng cho chúng, và cái lệnh cấm sẽ được thảo lại thành một lệnh cấm về việc đối xử một sự sống mà như một sự vật).

Hư cấu về phẩm cách hỗ trợ việc xác định nhân loại và danh nghĩa nhân loại hỗ trợ việc xác định quyền con người. Cho nên có một ý nghĩa thực theo đó một sự lăng mạ phẩm cách chúng ta đánh vào quyền chúng ta. Thế rồi, giận dữ trước sự lăng mạ như thế, chúng ta giữ đúng quyền của chúng ta và kêu gọi sự uốn nắn, chúng ta sẽ cư xử đúng điệu khi chúng ta nhớ rằng cái phẩm cách mà các quyền ấy dựa vào thì biết bao là không thực chất. Khi quên đi phẩm cách từ đâu tới, chúng ta có thể rơi vào một bộ dạng khôi hài giống cái của kẻ kiểm duyệt giận dữ.

Cuộc đời, Người Điên của Erasmus nói, là sân khấu: chúng ta mỗi nguời có vài câu để tấu một tiết để diễn. Có loại diễn viên, nhận ra rằng họ đang ở trong một vở diễn, dù thế nào, cũng vẫn tiếp tục diễn; có loại diễn viên khác, thảng thốt thấy mình đang tham dự một trò ảo tưởng, sẽ tìm cách bước xuống sàn diễn và ra ngoài vở diễn. Diễn viên thứ hai thì nhầm. Vì chẳng có gì nằm ngoài sân khấu, thật thế, chẳng có cuộc đời hoán thế nào khác mà một người có thể chắp. Buổi diễn, để mà nói, là buổi diễn duy nhất trên phố. Tất cả các cái mà một người có thể làm là diễn cái tiết của mình, dù có thể với một sự tỉnh thức mới, một sự tỉnh thức hài hước.

Vậy là, chúng ta đến cặp nghịch lí Eramus. Một phẩm cách đáng tôn trọng là một phẩm cách vắng phẩm cách (hoàn toàn khác với phẩm cách không ý thức hoặc phẩm cách chân thật); một sự ngây thơ đáng tôn trọng là một sự ngây thơ vắng ngây thơ. Còn như tự thân lòng tôn trọng, người ta thèm đề nghị rằng đây là một khái niệm thừa, thế mà cho sự hoạt động của cái sân khấu đời, lòng tôn trọng có thể hoá ra thiết yếu. Lòng tôn trọng đích thực là một loạt các mối tình khác nhau và có thể được xếp vào tình yêu; tôn trọng người nào đó có nghĩa là, giữa các cái khác, miễn cho người ấy một sự ngây thơ, mà ở ngoài sân khấu, là giả dối, một phẩm cách buồn cười.

© 2003 talawas


[1]J. M. Coetzee, Giving Offense: Essays on Censorship, Introduction, University of Chicago Press. 1996, tr. 11-15. Tựa do người dịch chọn.

 
© talawas 2026