trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.8.2007
Tiền Kỳ Tham
Bình thường hóa quan hệ Trung-Xô
 

Đột phá đàm phán

Làm thế nào đi ra từ trong cục diện cứng nhắc của cuộc đàm phán bình thường hoá quan hệ Trung-Xô? Phía Trung Quốc kiên trì xoá bỏ “ba trở ngại lớn”, đó là cơ sở cải thiện cơ bản quan hệ hai nước, còn ba vị lãnh đạo Liên Xô, Brezhnev, Andropov và Chernenko đều lảnh tránh cái quan trọng, chú ý cái phụ, ý đồ vòng qua “ba trở ngại lớn” thông qua phát triển hợp tác kinh tế mậu dịch, gia tăng qua lại thực hiện cái gọi là bình thường hoá. Thời kỳ đầu nắm quyền của Gorbachev cũng chưa có ý có bước tiến về phía trước trong vấn đề khắc phục “ba trở ngại lớn”.

Ngày 9 tháng 10 năm 1985 khi tiếp Nicolae Ceauşescu, người lãnh đạo Romania thăm Trung Quốc, đồng chí Tiểu Bình chỉ ra, giải quyết vấn đề bình thường hoá quan hệ Trung-Xô, xoá bỏ “ba trở ngại lớn” trước tiên nên bắt đầu từ việc Việt Nam rút quân khỏi Campuchia. Chỉ cần giải quyết vấn đề này là các vấn đề khác đều giải quyết tốt. Để thúc đẩy quan hệ Trung-Xô giành được đột phá, đồng chí Tiểu Bình lần đầu tiên đề xuất ý tưởng cử hành gặp gỡ cấp cao Trung-Xô. Đồng chí Tiểu Bình nhờ Ceausescu chuyển thư miệng cho Gorbachev: nếu Liên Xô cùng chúng tôi đạt được sự hiểu biết, khiến Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, hơn nữa nếu có thể đạt được điều đó thì tôi vui lòng hội kiến Gorbachev. Đồng chí Tiểu Bình nói, sứ mệnh lịch sử đi thăm nước ngoài của đồng chí tuy đã hoàn thành, nhưng vì vấn đề này đồng chí có thể phá lệ.

Ngày 16 tháng 11 năm 1985 phía Liên Xô trả lời là đã nhận được thư miệng. Ngày 23 phía Liên xô biểu thị, thời cơ Xô Trung gặp gỡ cấp cao và khôi phục quan hệ Đảng đã chín muồi, kiến nghị lãnh đạo cao nhất hai bên gặp nhau ở vùng Viễn Đông Liên Xô hoặc trong vùng biên giới Trung Quốc để thảo luận vấn đề bình thường hoá quan hệ hai nước.

Ngày 28 tháng 7 năm 1986, Gorbachev đã có bài phát biểu dài tại thành phố Vladivostock, Viễn đông, biểu thị Liên Xô vui lòng vào bất kỳ thời gian nào với bất kỳ cấp bậc nào cùng Trung Quốc vô cùng nghiêm túc thảo luận “những biện pháp hơn nữa” nhằm xây dựng quan hệ láng giềng thân thiện. Ông ta tuyên bố, trước cuối năm này sẽ rút khỏi Afghanistan sáu trung đoàn quân đội Liên Xô, việc rút hết toàn bộ quân đội Liên Xô quyết định bởi việc, sự can thiệp từ bên ngoài có còn tiếp tục hay không, đồng thời để lộ Liên Xô đang cùng Mông Cổ nghiên cứu vấn đề rút một ”số lượng tương đối” quân đội Liên Xô, còn biểu thị muốn cùng Trung Quốc thảo luận giảm bớt lục quân ở vùng biên giới Trung-Xô. Đồng thời ông ta cũng nói đến vấn đề Campuchia, rêu rao giải quyết vấn đề Việt Nam–Campuchia quyết định bởi việc quan hệ Trung Việt bình thường hoá, đó là việc của hai bên Trung Việt, Liên Xô chỉ hy vọng Trung Việt khôi phục đối thoại, lại hoà thuận với nhau.

Điều đáng chú ý là ông ta tiếp nhận lập trường mà Trung Quốc giữ trong đàm phán biên giới Trung – Xô, đồng ý phân chia ranh giới sông Amur/Hắc Long Giang theo đường trung tâm của đường đi an toàn chính trên sông, hy vọng trong tương lai không xa, biên giới sẽ trở thành biên giới hoà bình, hữu hảo.

So với nhiều lần phát biểu của Gorbachev sau khi lên nắm quyền, lần phát biểu này đã hiển thị lập trường của phía Liên Xô đã có sự thay đổi quan trọng.

Trong vấn đề “ba trở ngại lớn” lần này không gẩy lại điệu đàn cũ như “không được đặt điều kiện tiên quyết”, “ không làm hại lợi ích nước thứ ba”, “chưa bao giờ đe doạ Trung Quốc”…, không né tránh và có nới lỏng trong vấn đề rút quân khỏi Afghanistan và vùng biên giới Mông Cổ. Trong vấn đề Việt Nam-Campuchia ngôn ngữ cũng tương đối hoà dịu, nói hiện nay là thời cơ có lợi để giải quyết vấn đề.

Do nguyên nhân lịch sử, đoạn biên giới hai nước Trung-Xô tại Hắc Long Giang từ đời nhà Thanh chỉ đơn giản lấy sông làm ranh giới không phân chia rạch ròi. Liên Xô luôn đứng trên lập trường ngang ngược của Nga Sa hoàng năm đó, rêu rao biên giới Trung Quốc nên được chia tại đường ranh giới trên sông ven bờ sông phía ta. Nếu như vậy thì các hòn đảo trong sông sẽ tự nhiên được qui về phía Liên Xô còn con sông Hắc Long Giang và Ô-tô-lý/Ussuri sẽ trở thành nội hà của Liên Xô. Tất nhiên là phía chúng ta không thể đáp ứng. Trung Quốc chủ trương, theo chuẩn tắc quốc tế và thực tiễn quốc tế, nên lấy đường trung tâm của đường đi an toàn trên sông làm đường biên giới quốc gia. Năm 1969, cuộc xung đột đổ máu ở đảo Chân Bảo/Damanski giữa hai nước Trung-Xô bắt nguồn từ chỗ này. Biểu thái của Gorbachev không thể nói không phải là một thái độ tích cực.

Đồng thời với tư cách là người lãnh đạo Liên Xô, lần đầu tiên Gorbachev cũng công khai khẳng định phương châm tiến hành xây dựng hiện đại hoá ở nước ta, biểu thị lý giải và tôn trọng. Ông ta còn đề xuất những ý tưởng cụ thể để mở rộng và đi sâu trong hợp tác kinh tế khoa học kỹ thuật.

Trung ương quyết định nắm chắc thời cơ này, áp dụng đối sách tương ứng, biểu thị thái độ trân trọng hoan nghênh bài nói của Gorbachev, nhưng trên vấn đề “ba trở ngại lớn” không lơi lỏng, tiếp tục duy trì sức ép, đồng thời có những tư thế tích cực, tiếp nhận cách nêu lấy đường trung tâm của đường đi an toàn trên sông, đồng ý khôi phục đàm phán biên giới.

Vì vậy ngày 13 tháng 8, Ngoại trưởng Ngô Học Khiêm hẹn gặp Đại biện lâm thời Đại sứ quán Liên Xô tại Trung Quốc Yuri Phedotov, đã biểu thị như sau: chúng tôi có sự đánh giá nghiêm túc và coi trọng những ý kiến trình bầy trong bài nói của Tổng Bí thư Gorbachev ngày 27 tháng 7 tại Vladivostock về Trung Quốc và quan hệ Trung-Xô. Phía Trung Quốc chú ý đến một số lời nói trong đó mà trước đây chưa hề nói qua, chúng tôi biểu thị hoan nghênh những cái đó. Phía Liên Xô biết rõ lập trường nguyên tắc và chủ trương cụ thể của phía Trung Quốc về việc xoá bỏ “ba trở ngại lớn” để thực hiện bình thường hoá quan hệ hai nước, nhưng khoảng cách trong bài nói của Gorbachev với việc xoá bỏ “ba trở ngại lớn” hãy còn xa, đặc biệt là không nêu ra vấn đề Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, chúng tôi không hài lòng. Việt Nam rút quân khỏi Campuchia, giải quyết vấn đề Campuchia một cách công bằng hợp lý là vấn đề mà Trung Quốc cảm thấy quan tâm nhất, và cũng là điều then chốt trong những lời nhờ Ceausescu chuyển. Phía Trung Quốc chân thành hy vọng sớm thực hiện bình thường hoá quan hệ Trung-Xô, hy vọng phía Liên Xô nghiêm túc suy nghĩ ý kiến của phía Trung Quốc. Phía Trung Quốc biểu thị hoan nghênh tuyên bố của Tổng Bí Thư Gorbachev đoạn phía đông biên giới Trung-Xô lấy đường trung tâm đường đi an toàn trên sông làm ranh giới. Căn cứ vào đó, phía Trung Quốc cho rằng vào thời gian thích hợp khôi phục đàm phán biên giới Trung-Xô là thích nghi.

Ngày 2 tháng 9 năm 1986, khi tiếp nhận phỏng vấn truyền hình của phóng viên Mỹ Walace, đồng chí Đặng Tiểu Bình lại một lần nữa bàn về quan hệ Trung-Xô, nhấn mạnh chỉ ra vấn đề Việt Nam rút quân khỏi Campuchia là then chốt trong cải thiện quan hệ Trung-Xô, xoá bỏ xong trở ngại này, ông vui lòng phá lệ đến bất cứ nơi nào ở Liên Xô gặp mặt Gorbachev. Ngày 7 tháng 9 chúng tôi chính thức phát biểu đoạn nói chuyện này ra bên ngoài, công bố lập trường của phía Trung Quốc với thế giới, trên thực tế là trả lời công khai bài nói của Gorbachev tại Vladivostock.

Đi tới bình thường hoá

Để thúc đẩy Liên Xô tiến về phía trước, trên cơ sở bài nói của Gorbachev tại Vladivostock, chúng tôi đã làm luôn mấy việc: mời Phó Chủ tịch thứ nhất Hội đồng Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ Ban Kế hoạch nhà nước Liên Xô Nicolai V. Talyzin sang thăm Trung Quốc; khôi phục đàm phán biên giới Trung-Xô; sau đó cử hành vòng thương thảo chính trị Trung-Xô lần thứ mười hai, trọng điểm là đàm phán vấn đề Việt Nam, Campuchia.

Talyzin thăm Trung Quốc tháng 9 năm 1986, trong thời gian thăm hai bên đã thảo luận việc Liên Xô cung cấp tài khoản chính phủ cho chúng ta, hợp tác xây dựng nhà máy nhôm ở Quảng Tây, mở rộng sản xuất nhà máy gang thép Bản Khê, xây dựng đường sắt Tân Cương; còn thăm dò thảo luận một loạt vấn đề thúc đẩy hợp tác kinh tế mậu dịch hai nước như chung vốn xây dựng nhà máy, mậu dịch đền bù và nhập nguyên liệu gia công, mở rộng mậu dịch biên giới v.v..Talyzin còn thăm dò hỏi han hơn nữa thái độ của chúng ta đối với bài nói của Gorbachev tại Vladivostock. Lãnh đạo Trung Quốc đã biểu thị, bài nói của Gorbachev có một số mặt đáng hoan nghênh, nhưng cũng chỉ rõ ra rằng trong vấn đề Việt Nam, Campuchia mà Trung Quốc quan tâm nhất thì lại không có ý mới, đốc thúc phía Liên Xô cần phải đưa ra quyết đoán chính trị sớm nhất trong vấn đề then chốt nhất của việc bình thường hoá quan hệ Trung-Xô.

Căn cứ vào kiến nghị của phía Trung Quốc về việc khôi phục đàm phán biên giới, hiệp nghị mà hai Ngoại trưởng Trung-Xô đạt được tại cuộc gặp gỡ ở New York tháng 9 năm 1986, đàm phán biên giới hai nước đã được cử hành tại Moskva tháng 2 năm 1987. Tôi giữ chức Trưởng đoàn đàm phán Trung Quốc, Trưởng đoàn đại biểu Liên Xô là Thứ trưởng Ngoại giao [Igor] Rogachev. Trước đó Trung Quốc và Liên Xô đã trước sau cử hành hai lần đàm phán biên giới, từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1964 và từ tháng 10 năm 1969 đến tháng 6 năm 1978. Trong lần đàm phán thứ nhất, hai bên trao đổi bản đồ và đạt được một số đồng thuận miệng về hướng đi của đoạn biên giới phía đông, nhưng chưa ký bất kỳ hiệp định chính thức nào, hội đàm coi như không có kết quả. Tháng 10 năm đó, sau khi Khrushchev bị đổ, nhưng hội đàm biên giới vẫn không được khôi phục. Lần đàm phán biên giới lần thứ hai đã kéo dài 9 năm, hai bên khi thảo luận dự thảo hiệp định duy trì hiện trạng biên giới đã luôn luôn đọ sức kịch liệt xoay quanh vấn đề vùng tranh chấp. Năm 1979, Liên Xô xâm nhập Afghanistan khiến cuộc đàm phán biên giới lần thứ hai giữa đường dừng lại. Bây giờ lần đàm phán biên giới lần thứ ba bắt đầu, bài nói của Gorbachev tại Vladivostock đã công khai lấy đường trung tâm đường đi lại an toàn trên sông làm đường biên giới đoạn phía đông Trung-Xô, đã tiếp nhận lập trường của phía Trung Quốc khiến đàm phán có cơ sở tiến hành trong bầu không khí tương đối tốt.

Tôi chủ trì hai vòng hội đàm tháng 2 và tháng 8 năm 1987, các cuộc hội đàm sau đó do Thứ trưởng Điền Tăng Bồi chủ trì. Trước khi Trung-Xô cử hành gặp gỡ cấp cao, hai bên đã đạt được hiệp nghị nguyên tắc về hướng đi của phần lớn đoạn biên giới phía đông. Tại đoạn biên giới phía tây phức tạp, hai bên cũng thu được ý kiến nhất trí về nguyên tắc chia ranh giới, và đồng ý thành lập Tổ công tác tiến hành cùng chụp ảnh đường đi an toàn trên sông, v.v… Những tiến triển của lần đàm phán thứ ba biên giới Trung-Xô đã giúp làm dịu tình hình đối địch biên giới hai nước, trở thành bộ phận tổ thành của bình thường hoá quan hệ Trung-Xô.

Sau bài nói của Gorbachev tại Vladivostock, Trung-Xô đã cử hành vòng thương thảo chính trị lần thứ chín vào tháng 10 năm 1986, cho đến đêm trước của gặp gỡ cấp cao Trung-Xô, hai nước đã tiến hành nhiều tới 12 vòng thương thảo chính trị. Tôi một mực chủ trì đến vòng thứ mười một. Tháng 4 năm 1988 tôi nhận chức Ngoại trưởng, Trưởng đoàn Đoàn đại biểu đàm phán biên giới Trung-Xô và Đặc sứ Chính phủ do Thứ trưởng Điền Tăng Bồi đảm nhiệm. Trong bốn vòng đàm phán cuối cùng, phía Liên Xô đã từng bước có biểu hiện linh hoạt trên những vấn đề then chốt cản trở bình thường hoá quan hệ hai nước, không lảng tránh thảo luận vấn đề Campuchia, nhưng lại nói vấn đề này chỉ có thể giải quyết chính trị, sau này lại thừa nhận Việt Nam rút quân khỏi Campuchia là nhân tố quan trọng. Mặc dù phía Liên Xô không hứa thúc đẩy Việt Nam rút quân, nhưng biểu thị sẽ có những cố gắng trong khả năng có thể để xúc tiến tiến trình giải quyết vấn đề Campuchia. Từ đó có thể thấy sau khi Liên Xô có ý tiến hành co lại chiến lược và quyết định rút quân khỏi Afghanistan, trên cơ sở nhu cầu tự thân cũng đã muốn giải quyết vấn đề Campuchia sớm, so với trước đó thái độ đã thay đổi tích cực.

Trong vòng thương thảo thứ mười hai, phía Liên Xô đề xuất vui lòng cùng phía Trung Quốc thảo luận riêng về vấn đề Campuchia đồng thời đạt được sự hiểu biết. Căn cứ vào tình hình lúc đó, để thúc đẩy Liên Xô gây ảnh hưởng hơn nữa với Việt Nam, chúng tôi quyết định tiếp nhận kiến nghị của phía Liên Xô. Từ ngày 27 tháng 8 đến ngày 1 tháng 9 năm 1988 Thứ trưởng Ngoại giao Điền Tăng Bồi và Thứ trưởng Ngoại giao Liên Xô Rogachov đã có cuộc gặp làm việc tại Bắc Kinh chuyên về vấn đề Campuchia. Cuối cùng hai bên đạt được hiểu biết nội bộ nhất định, tìm được một số điểm chung và chỗ tiếp cận, thế nhưng bất đồng vẫn tồn tại. Cuộc gặp cho thấy rõ lập trường của Liên Xô trong vấn đề thúc đẩy Việt Nam rút quân đã có nới lỏng. Xuất phát từ đòi hỏi nội chính, ngoại giao đúng là phía Liên Xô đã hy vọng vứt bỏ sớm cái balô vấn đề Campuchia, đồng thời nhờ những cái đó cải thiện quan hệ Trung-Xô, thực hiện gặp gỡ cấp cao.

Sau khi kết thúc thương thảo chính trị Trung-Xô, tôi không còn dịp qua lại với Đặc sứ Liên Xô Ilychev, sau này cũng không có dịp gặp lại ông. Sau này nghe nói, vợ ông mất trước, người con trai duy nhất cũng chết trước ông. Đến cuối đời do không người thừa kế, đã mang rất nhiều sách, tranh v.v…, sưu tập suốt đời tặng cho bảo tàng quê hương. Ông mất tháng 8 năm 1990, tôi đã đặc biệt gửi điện chia buồn.

Chuyến đi phá băng

Từ ngày 1 đến ngày 3 tháng 12 năm 1988, với tư cách là Ngoại trưởng, đáp lời mời của Ngoại trưởng Liên Xô Eduard Shevardnadze, tôi đã thăm chính thức Liên Xô. Đây là lần đầu tiên hơn 30 năm nay, kể từ sau năm 1957, Ngoại trưởng Trung Quốc chính thức thăm Liên Xô, nhiệm vụ chủ yếu là chuẩn bị cho gặp gỡ cấp cao Trung – Xô.

Trước đó Ngoại trưởng hai nước cũng đã có một số tiếp xúc, nhưng đều là những cuộc hội kiến trong thời gian Đại hội đồng Liên Hợp Quốc tiến hành ở New York. Lần Ngoại trưởng đi thăm này, nếu xét từ thời gian xa cách dài và nhiệm vụ nặng nề, có thể nói là một chuyến đi phá băng.

Tháp tùng tôi cùng đi Liên Xô có Vụ trưởng Vụ Liên Xô Đông Âu Đới Bỉnh Quốc, Vụ trưởng Vụ Báo chí Lý Triệu Tinh, Bộ Ngoại giao lúc đó. Chúng tôi ngồi máy bay của Hàng không dân dụng Trung Quốc, trưa ngày 1 tháng 12 đến Moskva. Ngoại trưởng Shevardnadze ra sân bay đón, cùng ngồi ôtô về nhà khách.

Đoàn chúng tôi có mười người trú tại Nhà khách số 11 Phố Kosygin trên đồi Lênin. Đang lúc trời rất rét, Moskva rơi tuyết lớn, lạnh thấu xương. Phía Liên Xô tiếp đãi rất chu đáo. Nhưng xét tới những đặc biệt trong quan hệ hai nước và sự phức tạp của hoàn cảnh, tôi và các thành viên chủ yếu trong Đoàn không tiện thương nghị bàn bạc đối sách ở trong phòng, nên sáng sớm đành phải bất chấp gió lạnh dẫm lên những lớp tuyết dầy, đi dạo không ngừng trong sân nhà khách, không thể vận trù trong màn trướng mà đành trù hoạch dưới vòm trời.

Ngày thứ hai sau khi tới Moskva, tôi đến Điện Kremli hội kiến Gorbachev, Tổng Bí Thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xô viết tối cao Liên Xô. Lúc này ông ta vừa đưa ra lý luận “tư duy mới” của mình, gây cho người ta ấn tượng tuổi trẻ có triển vọng. Cũng có thể là vì có”tư duy mới” nên ông ta đặc biệt thích nói, nói rất nhiều, hội kiến tiến hành 1giờ 40 phút. Gorbachev chủ động biểu thị, những sự việc xảy ra trong quá khứ, Liên Xô cũng có sai lầm. Khi nói đến gặp gỡ cấp cao Trung – Xô, ông ta chủ động nêu ra, suy tính tới các loại tình hình, ông chuẩn bị tới Bắc Kinh. Tôi chuyển đến ông ta lời mời của người lãnh đạo Trung Quốc hoan nghênh ông ta đến thăm Bắc Kinh năm 1989, và biểu thị về quan hệ hai nước phía Trung Quốc chủ trương nhìn về tương lai, không vướng víu vì món nợ cũ, nhìn về phía trước, nghiên cứu thảo luận xây dựng quan hệ mới.

Trong thời gian thăm viếng, tôi đã cùng Ngoại trưởng Shevardnadze tiến hành ba lần hội đàm, tổng cộng khoảng sáu giờ rưỡi. Trọng điểm của hội đàm là vấn đề Campuchia.

Về vấn đề Campuchia, hai bên đã khẳng định một số ý kiến nhất trí trong cuộc gặp làm việc Thứ trưởng Ngoại giao Trung-Xô tháng 8 năm 1988 và cuộc gặp của Ngoại trưởng hai nước tại New York, đồng thời mỗi bên trình bầy thêm một bước nữa về chủ trương của mình. Tôi chú trọng chỉ ra, quân đội Việt Nam nên rút toàn bộ khỏi Campuchia trước cuối tháng 6 năm 1989, hai bên Trung-Xô nên có chủ trương nhất trí về thời gian biểu rút quân Việt Nam và thúc đẩy họ thực hiện. Đồng thời sau khi Việt Nam rút quân toàn bộ, mọi nước ngoài (bao gồm Việt Nam) đều nên ngừng viện trợ quân sự cho các phái Campuchia, không ủng hộ bất kỳ bên nào gây nội chiến. Về vấn đề nội bộ Campuchia, tôi không bàn sâu, chỉ đơn giản nhắc lại những chủ trương như về việc xây dựng chính phủ Liên hiệp bốn bên do Hoàng thân Norodom Sihanouk đứng đầu, đông kết, cắt giảm để đi tới giải tán quân đội các bên, cử bộ đội gìn giữ hòa bình quốc tế, thực hiện giám sát đôn đốc và bảo đảm quốc tế nghiêm nhặt v.v… Phía Liên Xô biểu thị hy vọng giải quyết vấn đề Campuchia sớm nhất, Việt Nam nên sớm rút toàn bộ quân, nhưng cho rằng, Việt Nam rút quân nên là tiến trình song song với việc thành lập cơ chế giám sát đôn đốc quốc tế và bảo đảm quốc tế, không khôi phục những chính sách trong quá khứ của Campuchia, thực hiện việc tiếp tục đối thoại trong nội bộ các phái Campuchia cũng như giữa Đông Dương và các nước Asean, chủ trương sau khi các bên Campuchia đạt được hiệp nghị giải quyết chính trị, tất cả các nước nên lập tức ngừng viện trợ quân sự với bất kỳ bên nào của Campuchia.

Phía Liên Xô không muốn hứa hẹn một cách chắc chắn là thúc đẩy thời hạn rút quân của Việt Nam, nói Liên Xô “không thể ra lệnh cho Việt Nam”, nhưng phía Liên Xô đã chuyển nguyện vọng của phía Việt Nam cùng chúng ta thảo luận trực tiếp vấn đề thời gian biểu, hy vọng Trung-Việt trực tiếp đối thoại để tăng nhanh tiến trình giải quyết chính trị. Thấy ý kiến hai bên đã tiếp cận, chúng tôi đề xuất có thể xác định thời gian biểu rút quân của Việt Nam khỏi Campuchia vào khoảng từ cuối tháng 6 đến cuối tháng 12 năm 1989. Hai bên đã đạt thành hiệp nghị về việc này.

Kết quả cuối cùng là, tiểu tổ công tác do Ngoại trưởng hai nước cử ra trải qua thương thảo nhiều lần, bằng phương thức “cùng ghi chép” về vấn đề Campuchia hai bên đã đạt được sự hiểu biết nội bộ, và được tôi và Shevardnadze xác nhận. Nội dung hạt nhân là: hai bên Trung-Xô chủ trương giải quyết chính trị vấn đề Campuchia một cách công bằng hợp lý, sớm nhất, hai bên hy vọng quân đội Việt Nam tận khả năng trong thời gian ngắn nhất, ví dụ như trong nửa cuối năm 1989 chậm nhất là trước cuối năm 1989, rút toàn bộ khỏi Campuchia, hai bên Trung-Xô biểu thị vui lòng có cống hiến của mình, nhằm thúc đẩy thực hiện mục tiêu nói trên.

Tôi và Shevardnadze còn thảo luận về các vấn đề như đóng quân của Liên Xô tại Mông Cổ, cắt giảm quân đóng ở vùng biên giới hai nước, đàm phán biên giới v.v.. và cũng thu được một số tiến triển.

Ngày 2 tháng 2 năm 1989, Ngoại trưởng Liên Xô Shevardnadze thăm đáp lễ Trung Quốc, mục đích là để chuẩn bị cho gặp gỡ cấp cao. Tôi cùng ông ta cử hành hai lần hội đàm, trọng điểm vẫn là thảo luận vấn đề Campuchia. Tôi tiếp nhận kiến nghị của phía Liên Xô, đồng ý tiếp tục thảo luận trên cơ sở hai lần “ghi chép chung” đã đạt được, và công khai phát biểu một tuyên bố về vấn đề Campuchia, khái quát thuật lại chủ trương nhất trí của Trung-Xô về việc giải quyết chính trị vấn đề Campuchia. Tuyên bố này cùng với thời gian cử hành gặp gỡ cấp cao sẽ coi như là một hiệp nghị cả gói cùng phát biểu.

Sau khi hai bên đã bàn bạc xong thời gian Gorbachev thăm Trung Quốc, phía Liên Xô đột ngột giở mánh khoé, lật lọng biểu thị không muốn phát biểu hiệp nghị mà hai bên đã đạt được, mà chỉ tuyên bố thời gian Gorbachev thăm Trung Quốc. Ngày 3 tháng 2, Shevardnadze đến Thượng Hải. Ngày hôm sau, đồng chí Tiểu Bình tiếp kiến ông ta. Đêm khuya, thái độ phía Liên Xô trở nên càng cứng rắn hơn, không đồng ý phát biểu tuyên bố chung về vấn đề Campuchia.

Đối mặt với sự ép buộc của phía Liên Xô, chúng ta lập tức phản kích. Sáng sớm ngày 4, chúng tôi thông tri cho phía Liên Xô, xét thấy sự bất đồng giữa hai bên tương đối lớn, đồng ý tạm thời không công bố tuyên bố chung về vấn đề Campuchia nhưng đồng thời cũng không tuyên bố trước thời gian gặp gỡ cấp cao Trung-Xô cử hành vào tháng 5 mà hai bên đã bàn bạc và xác định.

Trước khi đồng chí Tiểu Bình hội kiến Shevardnadze, tôi đã báo cáo với đồng chí tình hình lập trường thụt lùi của phía Liên Xô trong vấn đề Campuchia, đồng thời cũng kiến nghị tạm thời chưa công bố thời gian gặp gỡ cấp cao Trung-Xô, hai bên tiếp tục thương thảo. Đồng chí Tiểu Bình biểu thị “thời gian gặp gỡ cấp cao Trung-Xô không thể thay đổi, thế nhưng hôm nay tôi không nói thời gian đi thăm, điều này do các anh đàm phán.”

Khi vừa bắt đầu hội kiến, Shevardnadze đã biểu thị với đồng chí Tiểu Bình, “Gorbachev kiến nghị thăm Trung Quốc từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 5 năm 1989, ngày hôm qua tôi đã cùng Ngoại trưởng Tiền Kỳ Tham bàn vấn đề này”. Dụng ý của ông ta rõ ràng là trước tiên mời đồng chí Tiểu Bình xác nhận thời gian gặp gỡ cấp cao, khiến cho việc này trở thành sự thực đã định, để từ đó vòng qua vấn đề Campuchia, lại ép phía Trung Quốc nhượng bộ.

Đồng chí Tiểu Bình lập tức đưa ra phản ứng, nói “đàm phán của hai vị Ngoại trưởng các ông còn chưa kết thúc, hy vọng các ông tiếp tục làm việc, thời hạn do các ông bàn bạc xác định, tôi nghe sự chỉ huy của các ông.”

Tiếp đó trong nói chuyện đồng chí Tiểu Bình một lần nữa nhấn mạnh tính quan trọng của việc sớm giải quyết vấn đề Campuchia.

Nhìn thấy dự tính của mình chưa thể thực hiện, Shevardnadze đành biểu thị vấn đề Campuchia có thể tiếp tục thảo luận.

Trưa ngày 4, trên máy bay trở về Bắc Kinh, Thứ trưởng Ngoại giao hai nước lại tiến hành trao đổi ý kiến, nhưng vẫn giằng co không thôi. Shevardnadze vốn định sau khi đến sân bay là lập tức chuyển máy bay bay về Pakistan, nhưng sau khi đến Bắc Kinh đã về ngay sứ quán Liên Xô, và lùi đi lùi lại mãi thời gian rời Bắc Kinh. Tôi sử dụng biện pháp đợi ở sân bay, kiên trì yêu cầu sau khi hai bên đạt được hiệp nghị đồng thời công bố tuyên bố chung và thời gian Gorbachev thăm Trung Quốc. Đợi mãi dến lúc trời tối, Shevardnadze mới tới sân bay, chúng tôi tiến hành cuộc gặp cuối cùng trong phòng chờ của sân bay. Tôi biểu thị, chuyến thăm của ông là thành công, hội đàm của hai bên, cũng như hội kiến với người lãnh đạo Trung Quốc đều có thành quả, nhưng không nên lật lọng lời nói và việc làm, cần phải biết là quan hệ hai nước chúng ta còn chưa bình thường! Công bố tuyên bố chung là kiến nghị do phía Liên Xô đề xuất, chúng tôi đồng ý, tiểu tổ công tác của hai bên cũng đã làm một khối lượng công việc rất lớn. Xuất hiện tình hình như thế này là ngoài dự liệu của chúng tôi. Việc này vốn là sự giở trò của Shevardnadze, nay thấy không thể thu dọn được sự việc, liền vội tỏ ra oán trách Rogachov không biết làm việc, đồng thời lại tố khổ với tôi, nói phía Liên Xô trong khi dính líu đến vấn đề Campuchia đúng là có chỗ khó khăn, sự tình phức tạp. Thấy tôi không có hành động gì, cuối cùng ông ta không thể không đồng ý để lại hai vị Vụ trưởng, tiếp tục trao đổi với phía Trung Quốc, còn mình thì lên máy bay về trước.

Ngày hôm sau, sau khi tiểu tổ công tác của hai bên làm việc suốt đêm, đã đạt được hiệp nghị. Ngày 6 tháng 2, hai bên đồng thời công bố Tuyên bố về vấn đề Campuchia và thời gian Gorbachev thăm Trung Quốc. Hôm đó vừa đúng là ngày mồng một tháng Giêng âm lịch.

Năm năm sau, tôi đi thăm Georgia và đã gặp Shevardnadze ở đó. Lúc này ông đã là Tổng thống nước Cộng hoà Georgia. Tôi được tiếp đón rất cao, ông thân tự mở tiệc chiêu đãi và ra sân bay tiễn, so với những năm ở Moskva nhiệt tình hơn nhiều.

Gặp gỡ cấp cao

Từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 5 năm 1989, Tổng Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô, Chủ tịch Chủ tịch đoàn Xô viết Tối cao Liên Xô Gorbachev đã chính thức thăm Trung Quốc theo đúng thời hạn.

Hơn 40 năm qua, quan hệ hai nước Trung-Xô đã chứng kiến những cố gắng của mấy thế hệ người, đã trải qua thử thách của máu và lửa, đầy những gập ghềnh quanh co và thay đổi kịch tính. Năm 1954, lần đầu tiên đến Liên Xô, tôi còn là một thanh niên 26 tuổi, trước sau đã trải qua gần mười năm sinh hoạt ngoại giao tại Liên Xô; rồi với tư cách là Đặc sứ đã tham gia những cuộc thương thảo chính trị Trung-Xô lâu tới bẩy năm, trong đó có nhiều đêm không ngủ. Hôm nay cuối cùng đã được đón giờ phút quan trọng mà nhân dân hai nước chờ đợi đã lâu gặp gỡ cấp cao Trung-Xô, trong lòng không thể không kích động khác thường.

Cuộc gặp gỡ lãnh đạo cấp cao Trung-Xô là sự kiện trọng đại được mọi người chú ý.Về nghi lễ tiếp đón lần đi thăm này của Gorbachev, đồng chí Tiểu Bình yêu cầu trong sắp xếp phải nghiên cứu cho thích hợp, khi gặp mặt “chỉ bắt tay, không ôm hôn” lời nói đơn giản chỉ có sáu chữ nhưng biểu đạt không chỉ là vấn đề nghi lễ giản đơn mà là đã khái quát một cách chuẩn xác tính chất quan hệ Trung-Xô lúc đó, phác hoạ một cách hình tượng định vị quan hệ tương lai của hai nước.

Còn về chủ đề của gặp gỡ cấp cao, đồng chí Tiểu Bình đã đề xuất tư tưởng sâu sắc thâm thuý, chỉ có tám chữ rõ ràng: “kết thúc quá khứ, mở ra tương lai”.

Từ 10 giờ đến 12 giờ 30 phút sáng ngày 16 tháng 5, đồng chí Tiểu Bình đã có cuộc gặp có tính lịch sử với Gorbachev tại phòng họp lớn phía đông Đại lễ đường nhân dân. Còn nhớ hôm đó đồng chí Tiểu Bình trông rất quắc thước, tâm tình rất tốt. Sức nhớ của đồng chí khiến người ta phải kinh ngạc, khi nói chuyện không cần bản dự thảo, nhưng trình bầy rõ ràng, câu chữ đơn giản chuẩn xác. Trước tiên đồng chí nhắc lại lịch sử từ hai mặt: một là gần một trăm năm nay, trước sự áp bức của các cường quốc, Trung Quốc đã bị tổn thất, hai là gần mấy chục năm nay những đe doạ lớn nhất đối với Trung Quốc đến từ phía nào. Đồng chí Tiểu Bình đã tổng kết quan hệ Trung-Xô mưa mưa gió gió trong mấy chục năm qua, nhấn mạnh chủ yếu là do Liên Xô xếp sai vị trí của Trung Quốc, thực chất thực sự của vấn đề là không bình đẳng. Lại nói, mặc dù như vậy phía Trung Quốc xưa nay chưa bao giờ quên trong thời kỳ đầu thành lập Trung Quốc mới, Liên Xô đã từng giúp Trung Quốc đặt nền móng công nghiệp. Còn về một số vấn đề tranh luận hình tháí ý thức, đồng chí Tiểu Bình nói, đồng chí ấy là người trong cuộc của cuộc tranh luận đó, bây giờ quay đầu nhìn lại thấy cả hai bên đều nói những lời trống rỗng. Những cuộc tranh luận này chúng tôi cũng không tin là mình hoàn toàn đúng. Nói đến đó đồng chí đặc biệt nhấn mạnh, nói một số chuyện quá khứ đó mục đích là để tiến lên phía trước. Không phải là yêu cầu lại cùng Liên Xô tiến hành tranh luận. Nói những món nợ lịch sử này, vấn đề sẽ như gió thổi qua, trọng điểm đặt ở tương lai.

Gorbachev biểu thị, về quan hệ Nga, Liên Xô và Trung Quốc hình thành như thế nào, có một số việc Liên Xô có cách nhìn và đánh giá của mình, nhưng trong quá khứ không xa lắm, có một số mặt trong quan hệ Trung – Xô, Liên Xô có sai lầm và trách nhiệm nhất định, đồng thời đồng ý những vấn đề quá khứ nói đến đây thì dừng lại.

Thái độ của Gorbachev lúc đó tương đối thoả đáng, rõ ràng là ông ta có chuẩn bị trước khi đến. Roannov, nguyên Đại sứ Liên Xô tại Trung Quốc trong hồi ức của mình có tên là “Vượt qua thời gian và không gian” đã viết, Gorbachev đã từng nói với nhân viên tháp tùng, ông ta đã dự định sẽ giống như người thuộc thế hệ sau nói chuyện với người thuộc thế hệ trước để hội đàm với Đặng Tiểu Bình. Với tư cách là một nhân vật lịch sử, công tội của Gorbachev sẽ có lớp người sau đánh giá, nhưng sứ mệnh lịch sử trọng đại mà chuyến đi Bắc Kinh của ông ta hoàn thành trong lịch sử quan hệ Trung-Xô nên được tô đậm một nét.

Cái gọi là mở ra tương lai là chỉ sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ sẽ xây dựng quan hệ quốc gia theo dạng nào, xác định rõ nội hàm cụ thể và những chuẩn tắc cần phải tuân theo trong quan hệ kiểu mới từ nay trở đi. Đồng chí Tiểu Bình đã tổng kết sâu sắc bài học lịch sử trong phong trào Cộng sản quốc tế, nhấn mạnh bất kể là liên minh hay đối đầu, đều đã không thành công, quan hệ Trung-Xô vẫn cần lấy năm nguyên tắc chung sống hoà bình làm cơ sở. Trong cuộc họp báo, Gorbachev biểu thị, ông ta và những người lãnh đạo Trung Quốc như Đặng Tiểu Bình…, đều cho rằng “gặp gỡ cấp cao Xô Trung, tiêu chí quan hệ hai nước bước vào một giai đoạn mới, quan hệ hai nước sẽ được thiết lập trên nguyên tắc phổ biến quan hệ qua lại giữa các nước với nhau cũng như trên cơ sở nguyên tắc chung sống hòa bình. Xuất phát điểm của chúng tôi là bình thường hoá quan hệ Xô Trung không nhằm vào nước thứ ba, không làm tổn hại lợi ích nước thứ ba, nó kết hợp một cách hữu cơ thành một thể với xu thế phát triển của thế giới ngày nay”.

Tuyên bố chung công bố khi gặp gỡ cấp cao kết thúc đã chính thức xác nhận người lãnh đạo cao nhất hai nước đã nhất trí xác định chuẩn tắc quan hệ hai nước. Như vậy là đã hình thành mối quan hệ, vừa không giống như loại liên minh của những năm 50 thế kỷ XX và càng không giống trạng thái đối đầu trong những năm 60 và 70 mà là một mối quan hệ bình thường, không phải là liên minh, không đối đầu, không nhằm vào nước thứ ba, láng giềng thân thiện hữu hảo. Sự phát triển lịch sử sau này cho thấy, kiểu quan hệ quốc gia hoàn toàn mới đó không những chỉ phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân hai nuớc mà còn có lợi cho việc bảo vệ hoà bình và ổn định trên thế giới.

Thông qua lần gặp gỡ cấp cao này, hai nước láng giềng lớn Trung-Xô đã kết thúc trạng thái không bình thường mấy chục năm nay, thiết lập lại quan hệ quốc gia bình thường hoá.

Bây giờ nhớ lại, lúc đó do nắm chắc thời cơ lịch sử, đã thực hiện bình thường hoá quan hệ Trung-Xô, ý nghĩa vô cùng trọng đại. Sau đó tình hình quốc tế biến đổi lớn, Đông Âu thay đổi nhanh chóng, Liên Xô giải thể, thế giới bước vào một thời kỳ phi thường rối ren thay đổi nhiều. Khuôn khổ bình thường hoá quan hệ Trung-Xô được xác lập năm đó đã trở thành cơ sở cho Trung-Nga nhanh chóng thiết lập quan hệ láng giềng thân thiện hữu hảo vượt khỏi hình thái ý thức, tiến tới phát triển thành quan hệ đối tác có tính xây dựng rồi tiến thẳng đến xác lập quan hệ đối tác hợp tác chiến lược bình đẳng tin cậy hướng về thế kỷ XXI. Nếu như lúc đó sai lầm bỏ lỡ thời cơ thì sự phát triển của quan hệ hai nước sau này có thể là một dạng khác.

Hôm ấy khi gặp gỡ cấp cao Trung-Xô để thực hiện bình thường hoá quan hệ hai nước đang tiến hành tại Đại lễ đường nhân dân, bên ngoài Đại lễ đường nhân dân đã xuất hiện rất nhiều tình hình không bình thường, rồi cuối cùng hình thành một cơn sóng gió chính trị.

Ngoại giao của Trung Quốc sẽ phải đối mặt với những thách thức và thử thách càng nghiêm trọng hơn.

 
© talawas 2026