trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
19.8.2003
André Glucksmann
Bin Laden, Dostoevsky và nguyên tắc thực tế
Liss Gehlen và Jens Heisterkamp phỏng vấn André Glucksmann
 

Châu Âu bị kẹt trong sự tự mãn và một ước vọng rất người là thỏa mãn trong quên lãng, nhà triết học hàng đầu người Pháp nói. Điều này giúp cho sự khủng bố mang tính hư vô chủ nghĩa và ý thức hệ cực đoan đại diện bởi al-Qaida và Saddam Hussein thành công. Không ai muốn chiến tranh – nhưng sự diệt chủng còn kinh khủng hơn chiến tranh.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Tại sao ông lại quay về với sáng tác của Dostoevsky để giải thích chủ nghĩa khủng bố của thế kỷ 20 và 21?



André Glucksmann: Trong Dostoevsky ở Manhattan tôi đặt ra một câu hỏi mang tính triết học: cái gì là “ý tưởng”, là hình thức đặc trưng của chủ nghĩa khủng bố hiện đại? Và câu trả lời của tôi là: chủ nghĩa hư vô.

Socrates đã hỏi: một người đàn bà đẹp, một lọ hoa đẹp, và một cái giường đẹp có điểm chung gì? Câu trả lời của ông: ý tưởng về cái đẹp. Câu hỏi của tôi là: những ý thức hệ tư tưởng cực đoan như chủ nghĩa cộng sản hay chủ nghĩa phát-xít của ngày hôm qua và Hồi giáo của hôm nay có điềm gì chung? Nói cho cùng, chúng phục vụ những lý tưởng bề ngoài có vẻ rất khác nhau – một chủng tộc siêu đẳng, nhân loại thống nhất dưới chủ nghĩa xã hội, cộng đồng những tín đồ Hồi giáo (Umma). Ngày mai, nó có thể là những ý tưởng hoàn toàn khác: một số ý tưởng về thần học, một số về khoa học, một số về khoa học, một số khác về chủng tộc. Nhưng tính chất chung là chủ nghĩa hư vô.

Điều chốt yếu là cái thái độ rằng: bất kỳ điều gì cũng được phép, đặc biệt khi áp dụng cho những người bình thường:. tTa có thể làm bất kỳ điều gì ta muốn, không đắn đo. Goering [1] đã diễn tả như thế này: ý thức của tôi là Adolf Hitler. Những người Bolshevik nói: con người được làm bằng thép. Và những người Hồi giáo tôi đã gặp ở Algeria nói rằng anh có quyền giết những đứa trẻ Hồi giáo để cứu vớt chúng.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Và điều này đã khiến ông quay lại với Dostoevsky?



André Glucksmann: Đó là thành tựu cao nhất của văn chương Nga, đặc biệt là nó đã bộc lộ cốt lõi của kinh nghiêm nhân loại trong đó “mọi thứ đều được phép”. Trong Quỷ ám của Dostoevsky có những kẻ vô thần và những tín đồ (nhân vật như Shatov là một ví dụ) với những cái nhìn rất khác nhau về tương lai. Nhưng họ cùng chia sẻ một thứ: cái quyền được giết, đốt, lật đổ, nhằm đạt tình trạng nguyên sơ.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Khi Dostoevsky nói về quỷ sứ, hay kẻ bị quỷ ám, ông dường như vẫn bị dẫn dắt bởi cái ý tưởng rằng cái ác là một thứ gì từ bên ngoài tóm bắt con người. Ví dụ, nhân vật chính Stavrogin thậm chí còn nói về ngoại hình của quỷ.



André Glucksmann: Thực vậy, cái hay của Stavrogin là ta không thực sự hiểu y. Ta không biết y tin vào Thượng Đế hay không. Cuối cùng, cái thực sự làm tôi ngạc nhiên là tìm thấy y có chút gì giống như Bin Laden; y có thể yếm thế, hay cuồng tín, không ai thực sự biết được.

Cái bản chất nội tại của chủ nghĩa khủng bố mang tính hư vô này là mọi thứ đều được phép, hoặc vì Thượng Đế tồn tại và tôi là đại diện của ngài, hoặc vì Thượng Đế không tồn tại và tôi thế chỗ ngài. Đó là điều gây ấn tượng mạnh mẽ với tôi về Dostoevsky: ông là một bí mật, một câu đố.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Nhìn từ bên ngoài, nhóm người âm mưu ở trung tâm của Quỷ ám dường như có cả một chương trình chặt chẽ và nhiều sức thu hút. Nhìn từ bên trong, tuy nhiên, tất cả chỉ còn là một sự quyến rũ của tàn phá. Và sự quyến rũ này phát triển cái động năng của chính nó, bùa chú tất cả mọi người. Sự tàn phá trở thành lý do chủ yếu của nhóm này, trong khi một số khác trong cuộc vẫn còn tin tưởng vào nội dung và thông điệp nó đưa ra.



André Glucksmann: Đúng, những kẻ hư vô chủ nghĩa có nhiều tầng lớp khác nhau. Có những kẻ hư vô chủ nghĩa đứng bên ngoài, chỉ đi theo và tin tưởng, và có những kẻ hư vô chủ nghĩa ở trung tâm của hoạt động, những kẻ theo đuổi cái logic của tàn phá. Dostoevsky đã chỉ ra điều này rất rõ, cũng như Turgenev, trong nhân vật Bazarov. Hoặc xét hình ảnh bác sĩ Mabuse của Fritz Lang. Những cá tính tàn phá này có một sự chặt chẽ chính là vì chúng không phải là những kẻ lý tưởng hoá. Sự chặt chẽ này nảy ra từ logic của tàn phá. Trong cái nghĩa của ngôn ngữ học nó là tự diễn, và vì vậy nó có tính tự chứng nhận.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Chắc chắn Dostoevsky phủ nhận chủ nghĩa hư vô, đến mức ông vẫn bảo vệ một giải pháp tôn giáo, một sự hồi sinh của niềm tin – một điểm ngày nay khó thực hiện?



André Glucksmann: Thực ra điều này rất đáng ngờ, và ta cần nghiên cứu về sáng tác của Dostoevsky nhiều hơn nữa. Tôi nghĩ rằng quí vị đã đúng về mặt ý thức hệ. Dostoevsky vốn bảo thủ, ông tin tưởng vào một nước Đại Nga, và ông cũng bài Do Thái. Nhưng trong tác phẩm văn chương – ngược lại với những tiểu luận, ông tinh tế và phức tạp hơn rất nhiều. Dostoevsky hoàn toàn chìm đắm trong sáng tác của ông. Tác phẩm văn chưong của ông khó đọc hơn, nhưng ít giáo điều hơn.

Như thế, Ttôn giáo chắc chắn không phải là “giải pháp” trong phần di sản này của ông. Thí dụ như Viên Đại Phán quan là một người mộ đạo nhưng đồng thời cũng là một tai họa. Và một người chịu ảnh hưởng của Dostoevsky rất nhiều, nhà thần học lớn Vladimir Soloviev, kết luận trong tác phẩm Đối thoại của ông viết năm 1900 là có một sự liên quan mạnh mẽ giữa Chính thống giáo, thuyết thần trí Đông phương và Công giáo, một mối liên quan gây nhiều khó chịu cho mọi phía.

“Cái chết vạn tuế!”: Vỏ tôn giáo, hạt nhân hư vô chủ nghĩa



Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Ta hãy quay về chủ nghĩa hư vô như ông đã mô tả nó. Nếu ông coi chủ nghĩa khủng bố Hồi giáo là chủ nghĩa hư vô như ông đã viết trong Dostoevsky ở Manhattan thì ông phải thừa nhận rằng Hồi giáo rất đặc biệt trong việc thể hiện mình dưới lớp áo tôn giáo, một sứ mệnh tâm linh.

André Glucksmann: Vâng, nhưng quí vị cũng có thể tìm thấy lòng nhiệt tâm truyền giáo thúc đẩy những kẻ hư vô chủ nghĩa nước Nga, những kẻ muốn một nước Đại Nga, hay trong một thời kỳ khác, cuộc Đại Cách Mạng. Có nhiều sứ mệnh; cái khó nắm bắt hơn nhiều là phương thức thực hành, cách hành động. Chính vì có cùng một cách hành động nên những người theo đuổi chủ nghĩa hư vô tôn giáo, chủ nghĩa hư vô duy vật biện chứng hoặc chủ nghĩa hư vô phát-xít đều giống nhau.

Tôn giáo chỉ là cái vỏ, là lời bào chữa và lý do. Điều cơ bản là thực hành. Giữa một kẻ ôm bom tự sát Hồi giáo và viên tướng dưới quyền Franco, kẻ đã hét lớn trước trường đại học Salamanca: “Cái chết muôn nămvạn tuế!” có một sự liên quan. Tôi muốn nắm bắt sự liên quan đó.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: “Cái chết vạn tuế!”?



André Glucksmann: Tại buổi lễ khánh thành trường Đại học Salamanca, một viên tướng Millán Astray đã hét lớn Viva la Morte. Miguel de Unamuno, người phụ trách buổi lễ, là một người bảo thủ và là người được bà vợ của Franco đỡ đầu, một nhà triết học cánh hữu. Ông đã khiển trách viên tướng này về câu phát biểu không được phép và không thể chấp nhận này, và thêm: “Vị tướng của tôi, ông là một người tàn tật không phải vì ông đã mất một mắt trong chiến tranh, mà là vì ông đã hô “”Cái chết muôn nămvạn tuế!”.

Ta nghe được cũng chính câu khẩu hiệu này từ những kẻ đánh bom cảm tử Hồi giáo.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Vậy thì ông nghĩ rằng trong hành trình của thế kỷ 20 và lúc này, đầu thế kỷ 21, cái chủ nghĩa hư vô tàn phá này đã hiện hình dưới nhiều chiêu bài khác nhau, nhưng vẫn luôn là một hằng số mang tính con người? Ông có tin rằng nhân loại mang trong bản chất của mình cái đặc điểm này, và con người thường xuyên phải phục tùng nó?



André Glucksmann: Có lẽ tôi phải đặt vấn đề ngược lại mới phải. Con người nhân bản, vì vậy, hắn ta có thể trở nên văn minh, cho dù hắn không biết đọc biết viết, vì hắn có thể làm chủ sự ngạo mạn của mình. Ở mọi nơi người ta đều coi sự ngạo mạn hung hãn này là nguy hiểm chết người. Trong những túp lều ở Amazon, thanh niên trẻ được dạy dỗ để chế ngự tiềm năng bạo lực quá mức này. Anh có thể đánh nhau, nhưng anh không thể đánh nhau với bất cứ phương tiện nào anh có, và anh không khởi sự đánh nhau với bất kỳ ai. Quan niệm này, paidera, cũng xuất hiện trong giáo dục của người Hy Lạp. Toàn bộ nền giáo dục Âu châu dựa trên nguyên tắc này.

Thực vậy, tất cả các nền văn minh đều có chung hai điều cấm kỵ cơ bản: cấm kỵ về “”tình dục hoàn toàn”, về loạn luân, tuy khác nhau trong từng trường hợp cụ thể, nhưng hữu hiện khắp nơi, và cấm kỵ về bạo lực. Anh không được phép đầu hàng sự cám dỗ của “”bạo lực tuyệt đối”. Anh phải làm chủ sự hung hãn đó bằng cách này hoặc cách khác. Trong mỗi nền văn minh ta có thể tìm thấy sự làm chủ hai xung lực tàn phá, tuyệt đối này. Và bản chất của tính hiện đại là những cấm kỵ cơ bản này đang biến mất dần.

Giấc ngủ của lý trí



Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Ta hãy quay lại lời mở đầu của ông về những giá trị thiết yếu của Âu Châu, rằng chúng luôn được thiết lập để chống lại cái ác. Hiểm họa hiện tại, chủ nghĩa Hồi giáo hiếu chiến, không đến từ Âu châu, và người dân Âu châu dường như có vấn đề trong việc nhận thức hiểm họa này là một hiểm họa cho những quyền lợi của họ. Có phải đó là lý do tại sao dường như rất khó khăn để tập trung được sự kháng cự cần thiết?



André Glucksmann: Nó không chỉ là chủ nghĩa Hồi giáo: nó là chủ nghĩa hư vô, trong sự hiển hiện thực tế của nó là tàn hủy nhân loại văn minh. Ta có thể thấy một lối hành xử tương tự trong trường hợp quân đội Nga san bằng Grozny, một thành phố có 400 000 người, và là thủ đô đầu tiên bị san phẳng kể từ khi Hitler tàn phá Warsaw vào năm 1944. Cái xung lực tàn phá này không có trong bản chất của Hồi giáo; nó là một phần bản chất của văn minh và nó có thể tàn phá bất kỳ nền văn minh nào.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Nhưng những sự kiện này không được nhận thức như là xảy ra ở trung tâm châu Âu, mà ở những nơi xa lạ.



André Glucksmann: Nó đã xảy ra ở trung Âu, với Milosevic và sự thanh chủng của y, đó cũng là một hành động hư vô chủ nghĩa.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Tuy nhiên, đã có một thời gian dài Đức và Pháp lẩn tránh mọi trách nhiệm trong những tình huống như thế. Họ đã cố trì hoãn càng lâu càng tốt. Và ngay cả giờ đây, dường như Âu châu chỉ muốn bảo vệ sự ổn định mà chúng ta đã đạt được trong năm mươi năm qua. Bất kỳ những gì xẩy ra ở ngoài biên giới, như Chechnya hay Trung Đông, thực sự không làm phiền chúng ta.



André Glucksmann: Đúng, chính như vậy, nhưng đây là một sai lầm. Đó chính là sự tự mãn, tội ác của sự tự mãn, điều đã một lần cho phép Hitler thành công. Sự tự mãn này đã làm chúng ta mất đi 50 triệu sinh mạng. Nó cũng hiệu dụng cho Stalin. “Thà đỏ còn hơn bỏ mạng!” Chủ nghĩa hòa bình là một dạng của tự mãn. Và sự tự mãn này còn tiếp tục với Milosevic, với chủ nghĩa khủng bố, với Saddam Hussein; người ta chỉ muốn ngủ thôi.

Không ở đâu điều này được dựng nên hay hơn là trong vở kịch Vườn anh đào của Chekhov, trong đó các vai chính sống chung trong một gia trang cổ, và không một ai lo lắng chút nào về những điều có thể xảy ra, ngay cả khi họ đã nghe tiếng cây đổ. (Tôi vừa đọc xong vở kịch khi người ta chiếu trên TV cảnh hai tòa nhà ở Manhattan bị sập). Tương tự, ngày nay người trí thức lập dị lưu ý đến Afghanistan, Chechnya, hay Kosovo chỉ gặp sự im lặng. Không ai muốn lắng nghe cả; họ quay lưng lại với người mang tin dữ.

Nhưng cuối cùng, nguyên tắc thực tế sẽ đuổi kịp chúng ta. Chúng ta tin tưởng rằng chúng ta có thể sống trong một thế giới chỉ có những cuộc chiến nhỏ ở ngoại vi, ở ngoại ô, “những xung đột cường độ thấp”, như những chiến lược gia chính trị thích gọi chúng. Khi Ahmed Shah Massoud, lãnh tụ người Afghanistan của Liên minh Phương Bắc và kẻ thù của Taliban, đến Paris bốn tháng trước khi bị ám sát vào ngày 9 tháng 9 năm 2001, chỉ có một giới nhỏ có lẽ vào khoảng năm hay sáu trí thức gặp mặt ông ta. Không bộ trưởng nào của chúng ta dành chút thời gian; chỉ có Nicole Fontain, chủ tịch Nghị viện Âu châu, đã đến dự.

Khi hai tòa nhà sập xuống sau ngày Massoud bị ám sát, tôi tự nghĩ, “Có lẽ bây giờ người ta sẽ hiểu được rằng những gì xảy ra với phụ nữ ở Afghanistan xa xôi cũng sẽ ảnh hưởng đến người dân New York. Nếu Massoud và quân đội của ông đến Kabul sớm hơn thì hai tòa nhà đã không bị phá hủy”.

Nhưng tôi đã đoán lầm nhu cầu ngủ của nhân loại. Và bây giờ chúng ta đang nói chuyện này chỉ xảy ra với người Mỹ, không với Âu châu. Nhưng sự cố đầu tiên đã xảy ra ở Âu Châu. Vào năm 1994, một chiếc máy bay đã bị cướp ở Bắc Phi và hạ cánh xuống Marseille. Những tên không tặc muốn làm nổ chiếc máy bay trên đầu Paris. Nhưng những tên GIA này (Groupe Islamiste Algérien – Nhóm Hồi giáo Algerie), chúng cũng có chút liên hệ với Bin Laden, không biết lái máy bay. Vì thế các phi công đã tìm cách lái chiếc máy bay đến Marseille. Về phần chúng, bọn không tặc rõ ràng đã học được kinh nghiệm là chúng phải tự lái được máy bay. Chúng đã học được bài học kinh nghiệm của chúng. Nhưng chúng ta, chúng ta không học được chút gì cả.

Nguyên tắc thực tế



Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Nhưng có nhiều phản kháng chống lại việc kết hợp ngăn chặn và việc sử dụng vũ lực, ngay cả ở những nơi cần thiết.



André Glucksmann: Vâng, dĩ nhiên. Điều này cũng dễ hiểu thôi. Nếu ai đó bị bệnh thì ta sẽ sợ bệnh này, ta cảm thấy tội nghiệp cho người bệnh nhưng cùng lúc ta tự bảo mình rằng bệnh này chỉ xảy ra cho hắn, không xảy ra cho ta.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Ông có phản ứng gì với tư duy của chính phủ Pháp về xung đột vùng Vịnh và thái độ “không”quyết liệt của họ trong việc dùng bạo lực loại bỏ Saddam Hussein?



André Glucksmann: Tôi là một thiểu số trong vấn đề này, và đây không phải là lần đầu tiên. Khi tôi phát biểu trong các nhóm cánh tả về Solzhenitsyn [2] tôi bị coi như một thứ ma quỷ. Việc tôi ủng hộ thuyền nhân được coi như đáng hổ thẹn. Và đến lúc chuyện Milosevic xảy ra vào năm 1991, chỉ có bốn người chúng tôi ở Pháp nói rằng chúng ta phải kết thúc Milosevic; và nếu có thể đạt được điều này bằng phương pháp hòa bình thì tốt, nếu không, phải dùng vũ lực. Nhưng họ đã chờ đợi thêm tám năm nữa mới hành động, điều này làm hao tổn 200 000 sinh mạng. Ban đầu anh là thiểu số, nhưng cuối cùng có một nguyên tắc thực tế.

Tôi đã thảo luận những vấn đề này với Joschka Fischer [3] , người tôi quen biết từ năm 1968. Chúng tôi trở thành bạn bè bởi vì khi tôi ủng hộ Solzhenitsyn, ông và Daniel Cohn-Bendit đồng ý với thái độ đó, và chỉ trích Nga. Mặc dù họ không tán thành sự phê phán chủ nghĩa Marx của tôi, ít ra họ cũng hiểu điều đó.

Trong cái thời kỳ hoà bình chủ nghĩa này, chúng tôi đã tranh luận nhiều trên Die Zeit [4] . Joschka Fischer đã không đồng ý với tôi trong một thời gian dài. Cuối cùng ông chịu thua rằng sau vụ Srebrenica [5] có thứ còn ghê tởm hơn chiến tranh, và đó là Auschwitz. Tôi không thể hiểu được tại sao bây giờ ông ta lại một lần nữa chuyển thành một người hòa bình chủ nghĩa trong trường hợp Saddam Hussein – một kẻ ghê tởm hơn, khát máu hơn và nguy hiểm hơn cả Milosevic, người kẻ đã đánh hơi ngạt dân chúng, một phần bằng hơi ngạt Đức.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Có lẽ Đức và Pháp đã phản đối chiến tranh mạnh như thế vì họ chia sẻ một lịch sử bị chiến tranh tàn phá. Ông không thể chấp nhận rằng đây cũng là một phần di sản chung của chủ nghĩa nhân đạo Âu châu hay sao? Sự thù ghét chiến tranh, xét cho cùng, là có thể hiểu được chăng?



André Glucksmann: Dĩ nhiên mọi thứ đều có thể hiểu được. Không ai muốn chiến tranh, cả tôi cũng vậy. Vấn đề là, có gì còn ghê tởm hơn chiến tranh không?

Tôi đã trả lời “có” trong nhiều năm. Một thứ còn ghê tởm hơn chiến tranh là sự diệt chủng – nghĩa là, sự tiêu diệt toàn bộ một dân tộc. Nhiều người đã nói vậy trước Auschwitz. Trong bi kịch Hy Lạp, nó đã được thể hiện bởi sự tàn phá thành Troy. Đây thực sự là chân trời của lịch sử phương Tây.

Vì vậy tôi không tin rằng nên nhìn sự từ chối tham gia cuộc chiến chống Saddam như một biểu hiện của chủ nghĩa nhân đạo, mà nó là một sự mù quáng, tồn tại không chỉ ở Âu châu, mà ở mọi nền văn minh. Tất cả chúng ta đều muốn sống hòa bình, quên lãng và hạnh phúc. Ước mong đó đã tồn tại ở thành Athens cổ đại, và ước mong đó không có gì sai, trừ một điều là nó không thực tế lắm.

Liss Gehlen/Jens Heisterkamp: Ông có nghĩ rằng Pháp sẽ bám giữ thái độ chống đối Mỹ không?



André Glucksmann: Sẽ còn lâu hơn ở Đức. Ở nước chúng tôi, sự kình địch với Mỹ mạnh hơn. Nhưng vào lúc này, người dân ngoài đường chỉ tự hỏi, làm sao chúng ta có thể đương đầu với Bush? Trong phương trình này không có Saddam Hussein, và đó là điều làm tôi bất bình. Bởi vấn đề thực sự ở đây là Saddam.

Bush là một thách thức cho của nền dân chủ Mỹ; Aznar là thách thức cho của nền dân chủ Tây Ban Nha. Tại sao có ít người phản đối ở Pháp hơn ở Tây Ban Nha, Anh hay Ý? Tại vì ở Ý người ta chống Berlusconi, ở Anh người ta chống Blair – và ở Pháp người ta không chống ai cả.

Nhưng câu hỏi quan trọng hơn hết vẫn còn đó: Saddam Hussein thì sao? Cho phép tôi được lên giọng đạo đức một chút: tôi sẽ không thể nhìn mình trong gương nếu như Saddam Hussein vẫn còn nắm quyền lực bởi vì tôi đã có lần tham gia biểu tình chống Bush, và vì thế mà nhân dân Iraq phải sống trong chế độ độc tàichuyên chế này hai mươi năm nữa.

André Glucksmann (1937): Triết gia và nhà văn Pháp. Với những tác phẩm như Le discours de la Guerre (1967) Les Maîtres Penseurs (1977), Cynisme et Passion (1981), La Force du Vertige (1983), La bêtise (1985)…ông nổi tiếng là một nhà tư tưởng không ẩn mình trong tháp ngà hàn lâm, mà tích cực dấn thân cho những lí tưởng xã hội mà ông theo đuổi.

© 2003 talawas


[1]Herman Goering (1893-1946), một trong những người lãnh đạo cao nhất của Đức Quốc Xã
[2]Nhà văn Nga được giải thưởng Nobel năm 1970. Trong thập kỷ 70 ông bị trục xuất khỏi Liên Xô vì chỉ trích chủ nghĩa Cộng sản.
[3]Bộ trư ởng ngoại giao Đức, thuộc Đảng Xanh, từng hoạt động trong phong trào thanh niên cánh tả
[4]Nhật báo lớn tại Đức, thiên về Đảng Xã hội Dân chủ (SPD)
[5]Srebrenica: vụ quân đội Serb (Nam Tư) tàn sát khoảng 8 000 người đàn ông Hồi giáo, tra tấn, cưỡng hiếp, và giết nhiều phụ nữ và trẻ em, xảy ra từ ngày 12 đến 18 tháng 7 năm 1995, ở Srebrenica.

 
© talawas 2026