(Tùy bút nhân đọc Người đọc – Der Vorleser của Bernhard Schlink, Lê Quang dịch, Nhà xuất bản Phụ Nữ và Viện Goethe Hà Nội ấn hành)
1.
“Bernhard Schlink sinh năm 1944 ở Bielefeld (Đức), giáo sư Luật ở Berlin và New York. Sau truyện trinh thám đầu tay được chuyển thể điện ảnh là một loạt truyện trinh thám được giải cao. Tiểu thuyết Người đọc ra đời năm 1995, chiếm ngay vị trí best-seller, được dịch ra gần 40 thứ tiếng và minh chứng đậm nét cho ngòi bút tầm cỡ thế giới. Người đọc có sức hấp dẫn của một ký sự pháp đình, nhưng linh hồn của tác phẩm là tính nhân văn cao cả, thể hiện trong cả quá khứ chiến tranh đen tối lẫn hiện tại rối rắm của lòng người”. Đó là “Lời giới thiệu” ở bìa bốn bản dịch tiếng Việt cuốn sách. Còn ở bìa ba, người ta thấy một lời dẫn dụ xúi giục khá giật gân nhưng chân thành của Tilman Klause in trên báo Tấm gương hàng ngày ở Berlin (Der Tagesspiegel, Berlin): “Bà ôm chặt một điều bí mật. Và bất chợt biến mất tăm tích. Nhiều năm sau anh gặp lại bà. Cuộc theo dò dấu vết gần như của một thám tử trước bối cảnh một mối tình dị biệt và quá khứ nặng nề. Đừng bỏ lỡ cuốn sách này, vì đây là hiện tượng hiếm hoi trong văn đàn Đức đương đại”.
Tôi cũng là một người đọc và tôi muốn đọc Bernhard Schlink theo cách riêng. Tôi đọc ông theo kiểu “bóc cùi hành”. Càng bóc ra nhiều lớp cùi hành, càng cay mắt. Càng thấy nhiều tầng ý nghĩa lại càng bị cuốn hút.
2.
Tiểu thuyết của ông đâu chỉ là một chuyện tình đặc biệt, bạo liệt và đớn đau âm thầm giữa Michael Berg, khi còn là một cậu bé 15 tuổi với Hanna Schmitz, một thiếu phụ đã ba mươi sáu. Chàng là kẻ hướng nội mẫn cảm nhưng luôn luôn bất lực trong ham muốn săn đuổi những ám ảnh bí mật của quá khứ mà nàng luôn cố tình che giấu. Rồi một hôm, nàng đã biết mất khỏi cuộc đời chàng như một nút thắt trong truyện trinh thám. Và nhiều năm sau, chàng gặp lại nàng trong một phiên tòa đại hình xét xử tội phạm chiến tranh. Điều kinh khủng là trong phiên tòa ấy, chàng có mặt như là một luật sư tập sự. Chàng thuộc về phía những người phán xét và buộc tội. Còn nàng là kẻ phạm tội. Nhưng kinh khủng hơn là đến tận lúc đó, hình như vào năm 1965, chàng mới biết: nàng sinh năm 1922 ở Hermannstadt, đã tình nguyện gia nhập quân SS từ mùa Thu năm 1943 và được điều động tới trại tập trung Auschwitz với tư cách một nữ quản giáo. Chỉ đến lúc đó, chàng mới biết người tình của mình là kẻ mù chữ, không biết đọc. Và cũng chính lúc đó, chàng mới hiểu vì sao ngày ấy nàng từ chối tự đọc truyện và bảo chàng: “Anh có giọng rất hay, cậu bé ạ, em thích nghe anh đọc hơn là tự mình đọc”. Hóa ra, trước đòi hỏi so sánh tự dạng bút tích của tòa án, mặc dù mù chữ và chưa hề biết viết nhưng nàng đã nói: “Các ông không cần triệu tập giám định viên. Tôi xin nhận là đã viết bản báo cáo”. Nàng không sợ bị bẽ mặt vì tội phạm bằng sự bẽ mặt khi bị người khác phát hiện mình là kẻ mù chữ. Chàng đọc thấy bao nhiêu tội ác của Hanna – một nữ quản tù trẻ đẹp có biệt danh “ngựa cái” và rồi lại xót xa mỗi khi nhớ lại câu hỏi hồn nhiên của Hanna Schmitz đối với viên quan tòa xử vụ án: “Ở địa vị tôi, ông sẽ làm gì?”. Mỗi lần tung ra câu hỏi đó, phải chăng là mỗi lần chính Hanna đang cố gắng tự đọc ra bản ngã của nàng? Có bao nhiêu người Đức cùng thời với nàng đã hơn một ngàn lần ném lên trời xanh câu cật vấn kia?
Kết quả là nàng lãnh án tù chung thân. Và rốt cuộc cũng không vì thế mà chàng dứt bỏ được khỏi quãng đời thê thảm của người tình. Chàng tiếp tục âm thầm đọc sách, ghi âm vào các băng casette để gửi vào trại giam cho nàng. Sự khắc khoải và nỗi đau giằng xé của chàng ở đoạn cuối cuộc tình kết thúc bởi nàng bất ngờ tự vẫn đúng vào thời điểm nàng mãn hạn tù – thời điểm tưởng chừng hai nguời sắp sửa đoàn tụ.
Điểm nhìn của người kể chuyện là điểm nhìn hồi cố của nhân vật tự sự ở ngôi nhân xưng thứ nhất. Nhân vật xưng tôi có tên là Michael Berg. Nhưng, trong Người đọc đâu chỉ có chuyện anh chàng Michael Berg là người đọc truyện cho cô Hanna Schmitz. Còn có những cô nữ tù nhân ốm yếu được quản giáo Hanna Schmitz chọn ra để đọc truyện đêm khuya cho mình nghe trước khi bị lùa vào trong lò thiêu của Đức Quốc xã. Michael Berg đã mất gần như cả cuộc đời để đọc ra chính bản thân mình. Và mãi cho tới khi đứng trước mộ của Hanna Schmitz, anh mới đọc ra hết cuộc đời của người tình. Còn Hanna Schmitz, sau khi hẹn Michael Berg tới đón vào ngày được mãn hạn tù chung thân, cô đã tự tử. Cô đã tự tử khi chính cô đã đọc ra được nỗi bẽ bàng, mặc cảm của một kẻ mù chữ – nỗi bẽ bàng ấy khiến cô không thể chịu đựng nổi. Cô không thể chịu đựng nổi cảnh tượng có ai đó, dù người ấy là kẻ cô yêu, thấu rõ bản lai diện mục của cô.
Thì ra Bernhard Schlink đã cố tình đưa chàng và nàng về những hồi tưởng sâu xa và đi qua gần như trọn vẹn cuộc đời để họ có thể tự đọc ra bản thân mình và đọc ra thân phận của nhau.
3.
Đâu chỉ có thế. Người đọc của Bernhard Schlink còn đọc được thấu đáo cả thế sự ngay trong những vùng tăm tối và rối loạn của lòng hối hận và sự hổ thẹn. Đâu chỉ có chuyện chàng Michael Berg quằn quại, bất ổn gần như suốt đời mới đọc ra thân phận của mình và của cô Hanna Schmitz. Bằng những suy ngẫm minh triết và sắc lạnh, Michael Berg còn đọc thấy mối xung đột đã và đang diễn ra giữa thế hệ của mình với quá khứ. Thỉnh thoảng, chàng nghĩ: “sự xung đột với quá khứ Nazi không phải lý do, mà là biểu hiện của mối xung khắc giữa các thế hệ, và người ta dễ nhận ra mối xung khắc đó là động lực của phong trào sinh viên. Những mong đợi của lớp cha mẹ mà thế hệ nào cũng phải vùng ra khỏi, chúng đơn giản đã bị hất bỏ, vì lớp cha mẹ trong Đế chế Thứ Ba hay chậm nhất là sau đó đã tỏ ra bất lực. Những người đã phạm tội ác Nazi, hoặc trơ mắt nhìn chúng phạm tội ác hoặc quay mặt đi, hoặc sau năm 1945 dung túng cho phép hay thậm chí chấp nhận bọn tội phạm chung sống với mình – làm sao để những người ấy dạy bảo con cái được? Nhưng mặt khác thì quá khứ Nazi cũng là một chủ đề cho những đứa con không thể hoặc không muốn trách cứ cha mẹ mình điều gì. Đối với họ, xung đột với quá khứ Nazi không phải là hiện hình của mối xung khắc thế hệ, mà chính là vấn đề. Tội lỗi tập thể dù có bản chất gì về đạo lý hay pháp lý chăng nữa -đối với thế hệ sinh viên chúng tôi đó là một thực tế đang được trải nghiệm”. Và bằng những trải nghiệm đau đớn, chàng sinh viên luật Michael Berg đã buốt lòng hổ thẹn khi đối diện với thực tại: “Không chỉ trong quan hệ với những gì ngày xưa xảy ra trong Đế chế thứ ba. Chuyện bia mộ người Do Thái bị bôi bẩn với hình chữ thập ngoặc, nhiều tên Nazi ngày xưa tiến thân ở Tòa án, cơ quan công quyền và trường Đại học, CHLB Đức không công nhận nhà nước Israel, di cư và kháng chiến ít được lưu truyền hơn là cuộc sống trong thích ứng – tất cả khiến chúng tôi phải hổ thẹn, kể cả khi chúng tôi được vạch mặt những kẻ có tội. Vạch mặt những kẻ có tội không làm người ta trốn được nỗi hổ thẹn, nhưng nó chế ngự được nỗi đau khi hổ thẹn, biến nỗi đau thụ động khi hổ thẹn thành năng lượng, hành động, vũ lực. Và cuộc xung đột với lớp cha mẹ có tội hàm chứa đầy năng lượng. Tôi không vạch mặt ai được. Với bố mẹ tôi đã đành là không, vì tôi chẳng có gì để buộc tội họ. Sự năng nổ khảo cứu trong thời kỳ theo lớp chuyên đề (về Trại tập trung-TD) khiến tôi buộc bố tôi phải hổ thẹn, nay đã biến mất trong tôi, giày vò tôi. Và những tội trạng gì mà những người trong xã hội xung quanh tôi mắc phải đều ít hơn so với hành động của Hanna. Thật ra tôi phải vạch mặt Hanna mới đúng. Nhưng hóa ra tôi tự vạch mặt mình. Tôi đã yêu Hanna. Không những yêu cô, tôi còn chọn cô. Tôi cố tự nhủ rằng khi chọn Hanna tôi không biết gì về những cô đã từng làm. Qua đó tôi cố cãi cho mình vô tội, vô tội như trẻ con yêu cha mẹ vậy. Nhưng tình yêu dành cho cha mẹ là tình yêu duy nhất mà người ta không phải chịu trách nhiệm. Và có khi người ta vẫn phải chịu trách nhiệm cho tình yêu dành cho cha mẹ. Hồi đó tôi ghen tị với các sinh viên khác khi họ đã tách ra khỏi được cha mẹ họ, như vậy là đã tách khỏi cả thế hệ của những thủ phạm, của những kẻ trơ mắt nhìn, quay mặt đi, dung túng và chấp nhận, qua đó, nếu như không chế ngự được hổ thẹn thì cũng chế ngự được nỗi đau trong hổ thẹn”.
Có thể nói tinh thần tự vấn bằng những đối thoại, đối chứng ngay trong dòng chảy vật vã của sự thật như những cuộc ú tim giữa cõi lòng mình của chàng đã làm cho Người đọc lung linh vẻ đẹp của những niềm u uẩn trí thức.
4.
Đặc trưng Đức trong tiểu thuyết Người đọc còn biểu hiện trong mối quan hệ tinh thần giữa ông bố triết gia và ông con luật sư tập sự. Sự tham vấn trí tuệ giữa Michael Berg và ông bố triết gia đã diễn ra trong một nỗ lực xét đoán, khảo cứu để đọc ra khuynh hướng trí lự của nhau làm cho sắc thái xung đột của hai thế hệ mang đậm chất Đức. Và dường như chàng đã không thể tìm câu giải đáp ở ngay người cha mà chàng vẫn âm thầm kính trọng. Quà tặng đáng giá nhất mà ông tặng chàng là một lời khuyên ngắn về vai trò của cá nhân, của tự do và phẩm giá. Theo ông, con người phải luôn luôn là chủ thể. Không được phép biến con người thành khách thể. Sự cắt nghĩa của ông là sự giải phẫu lạnh sắc của triết học khiến cho con người, dù đau lòng đến mấy, cũng biết cách mở cho nhau cánh cửa tới vô cùng bằng những cuộc đối thoại thẳng thẳn, gay gắt để tìm ra những quyết định độc sáng. Dù sao thì Michael Berg cũng đã có một ông bố minh triết khiến cho chàng chế ngự được nỗi đau đớn trong từng cơn hổ thẹn. Có lẽ chính điều đó khiến cho chàng trở thành một “người đọc” – một “người đọc” hướng nội sâu sắc, phân tích bản thân lạnh lùng và riết róng.
Có lúc chàng đã tự đọc ra mình và tự phán xét: “Nỗi đau khổ của tôi khi yêu Hanna xét về khía cạnh nào đó là số phận của thế hệ tôi, số phận Đức, số phận mà tôI khó trốn tránh hơn những người khác”. Và thiên tiểu thuyết dài ngót 180 trang kết thúc bằng hình ảnh chàng ra đứng trước ngôi mộ của nàng sau khi đã hoàn thành di chúc của người tình với một câu văn khô lạnh: “Lần đầu tiên và lần duy nhất tôi đứng trước mộ cô“. Câu văn ấy có nghĩa chàng đã đọc ra chính mình. Có nghĩa chàng đã đọc ra người tình của mình. Người tình của chàng vừa giống như người mẹ hạnh phúc lại vừa giống như quá khứ đớn đau. Câu văn ấy là lời vĩnh biệt với quá khứ.
Thực ra, Bernhard Schlink không chỉ có chủ ý dẫn dắt bạn đọc theo dõi một mối tình bạo liệt mà ông còn muốn đưa thân phận hai người tình thê thảm đi qua những gập ghềnh lịch sử khúc khuỷu để cả hai (phải / hoặc tự nguyện) đứng trước vành móng ngựa của phiên tòa lương tâm. Một phiên tòa thường xuyên giải quyết những xung đột tâm linh giữa thực tại và quá khứ Quốc xã. Một phiên tòa mà ở đó, con người hôm nay không ngừng tra vấn sự tử tế và sự bất lương của bản thân mình trong mối tương quan với kẻ khác, với thế sự đương đại cũng như với lịch sử.
5.
“Cô không chỉ đấu tranh trước Tòa, cô đã và vẫn luôn luôn đấu tranh , không để chứng minh năng lực của mình, mà để che giáu những bất lực của mình. Một cuộc đời mà những lúc vùng dậy là những cuộc rút lui hiên ngang; những chiến thắng là những thất bại che đậy…
Tôi ngồi xuống bên cô, và cô nắm tay tôi. Ngày xưa tôi đặc biệt yêu mùi cô. Mùi cô lúc nào mới: mới tắm, hay mới thay quần áo, hay mới toát mồ hôi, hay mới được yêu…Tôi hay đánh hơi trên cô như một con thú tọc mạch, bắt đầu từ cổ và vai là nơi tỏa mùi mới tắm, hít sâu giữa cặp vú có mồ hôi mới, trộn lẫn với hương vị kia ở dưới nách, ở ngang eo và bụng thì hương vị trầm nặng ấy gần như tinh khôi, giữa hai đùi thoảng thêm mùi quả chín làm tôi rạo rực, tôi cũng hít hà ống chân và bàn chân cô, đến đùi thì lạc mất hương vị kia...”
Hồi ức tình ái trong tiểu thuyết vừa có đoạn mang tính triết luận sâu sắc nhưng cũng có đoạn khêu gợi như thế, vậy mà tên sách lại lạnh, khô: Người đọc. Không phải là Người dưng. Cũng không phải Người tình. Cuốn tiểu thuyết dường như được tác giả đặt cho một cái tên rất bình thường, không gây sốc, không gây nhiều chú ý. Và cả cách trần thuật trong tiểu thuyết cũng rất giản dị, gần với phong cách ký sự. Nhưng sự giản dị, tiết chế tối đa ở cuốn sách là biểu hiện của một bút pháp bậc thầy. Phải chăng Người đọc đã kín đáo đề nghị mỗi con người chúng ta cần phải là một “người đọc” có sức thấu thị lớn? Nhân vật của Bernhard Schlink không chỉ là người đọc đọc sách cho người khác nghe. Họ cố đọc ra chân tướng bản thân mình và chân tướng của người khác, cho dù điều đó buộc họ phải trả giá đau đớn. Và qua đó, họ đọc ra được sứ mệnh của từng thế hệ, thậm chí chân tướng của cả một thời cuộc.
6.
Không ngờ tiểu thuyết Người đọc (Der Vorleser) lại có mặt tại Hà Nội sớm đến thế! Trong niềm vui khi được tái ngộ với Bernhard Schlink, tôi muốn được gửi lời cảm ơn đến dịch giả Lê Quang, Nhà xuất bản Phụ Nữ và Viện Goethe Hà Nội đã hợp tác để bản dịch tiểu thuyết này được giới thiệu với công chúng Việt Nam. Năm 1999, khi ở Berlin, tôi đã sững sờ, say sưa đọc ông qua bản tiếng Đức do Nhà xuất bản Diogenes (Zürich) ấn hành. Nay gặp lại ông qua bản dịch tiếng Việt của Lê Quang, tôi càng thấm thía cuốn sách hơn.
Dẫu lịch sử của mỗi dân tộc là khác nhau nhưng dân tộc nào cũng cần có những nhà văn như là những người đọc có thể đọc ra số phận từng thế hệ của mình. Những nhà văn có khả năng và sự can đảm như thế không nhiều. Bernhard Schlink đã can đảm “đọc” chính mình,“đọc” thế hệ của mình, thấu thị những vấn đề của nước Đức trong quá khứ lẫn hiện tại với cái nhìn nghiêm khắc nhưng thấu đáo. Có nghĩa là: trước khi trở thành một nhà văn nổi tiếng, Bernhard Schlink đã là một người đọc xuất sắc.
Hà Nội, tháng 10 năm 2006
© 2006 talawas