Đào Đức Tuấn
Ngôn ngữ nói và viết luôn được cập nhật cùng với đời sống xã hội. Quá trình này diễn ra liên tục nhờ việc sáng tạo và chuẩn hoá các khái niệm mới. Bài này bàn về việc chuẩn hoá trong tiếng Việt hiện nay, cảm hứng từ những tranh luận về ngôn ngữ trên talawas.
Hiểu một cách đơn giản ngôn ngữ là phương tiện để giao tiếp. Thực tế phát triển ngôn ngữ viết tạo thêm chức năng lưu trữ. Cái được trao đổi được lưu trữ chính là thông tin. Ngôn ngữ như tiếng Việt mà con người sử dụng là một trong các dạng ngôn ngữ cùng với ngôn ngữ cơ thể (dùng điệu bộ, nét mặt), ngôn ngữ hình ảnh (chỉ ra những hình tượng giải thích) tạo thành một tập ngôn ngữ trong giao tiếp. Ngôn ngữ viết thì không còn đặc điểm trên mà nó chỉ thuần tuý lưu trữ, do vậy không gian thể hiện của nó có phần hạn chế hơn so với ngôn ngữ nói. Tuy nhiên do đặc điểm lưu trữ lâu bền, chính xác, không mập mờ, ngôn ngữ viết được dùng trong hầu hết các công việc quan trọng của đời sống xã hội. Khi mô tả chi tiết một vấn đề hay cam kết với nhau người ta thường dùng ngôn ngữ viết. Mặc dù vậy ngôn ngữ nói và viết đều thuộc loại văn phạm cảm ngữ cảnh. Tức là một từ hay một câu được đưa ra khi xét đến ý nghĩa thông tin của nó, còn phải xem xét đến các câu và các từ đứng gần nó, hay khung cảnh mà nó đề cập. Tính chất này của ngôn ngữ làm cho nó kém chính xác. Đôi khi ta thấy một khái niệm có rất nhiều định nghĩa và tuỳ vào lĩnh vực mà có nghĩa thậm chí khác hẳn nhau. Để tránh nhầm lẫn người ta cố gắng hạn chế tính cảm ngữ cảnh của ngôn ngữ bằng cách chuẩn hoá nó. Chuẩn hoá bằng cách thống nhất cách dùng cách hiểu các khái niệm, nhất là thông qua định nghĩa.
Chuẩn hoá tạo ra một ngôn ngữ trong sáng dễ hiểu trong một cộng đồng rộng lớn, vì vậy nó đang là xu hướng. Người ta đang cố gắng chuẩn hoá mọi khái niệm trong mỗi ngôn ngữ và các ngôn ngữ lại được cố gắng chuẩn hoá theo một ngôn ngữ (hay vài ngôn ngữ) văn minh. Nhiều bài trên talawas lấy tiếng Anh hoặc tiếng Pháp làm chuẩn cho tiếng Việt. Cái logic trong tiếng Việt nếu bất lợi khi dịch, người ta cố gắng định nghĩa lại theo logic của tiếng Anh hoặc tiếng Pháp. Mỗi khái niệm khó hiểu đều được chua nghĩa bằng một từ nước ngoài, ý là viết tiếng Việt là thế nhưng phải hiểu theo khái niệm của người Tây. Quá trình chuẩn hoá này càng sớm thì càng đỡ công sức cho người dịch, làm cho việc học ngoại ngữ dễ dàng hơn và “tiến bộ hơn” có thể dùng máy tính dịch tự động. Việc hiểu khái niệm và khả năng định nghĩa khái niệm là hai việc khác nhau, nhưng dần được chuẩn hoá coi là một. Nếu anh không thể định nghĩa được một khái niệm tức là anh chẳng hiểu gì, và như vậy anh không nên dùng nó. Các khái niệm thuộc về ngành nào thì chuyên gia ngành đó cố gắng làm chủ việc định nghĩa và phản đối các cách dùng lạm dụng trong các ngành khác, gây hiểu lầm không cần thiết. Chuẩn hóa một khái niệm được coi là quá trình từ khi nó được định nghĩa đến khi nó được phổ biến trong toàn thể cộng đồng mà không còn ai dùng sai so với định nghĩa.
Song song với quá trình chuẩn hoá diễn ra trong giới khoa học và hành chính, trong thực tế xã hội ngôn ngữ vẫn bị phi chuẩn hoá. Đấy là con đường mỗi cộng đồng nhỏ tìm bản sắc riêng của mình trong cộng đồng lớn. Nhiều người luôn cố gắng coi tiếng Việt là đầy đủ và hoàn chỉnh, khi giải thích một khái niệm họ cố gắng dùng hoàn toàn bằng tiếng Việt. Những logic riêng của tiếng Việt càng nhiều càng đáng tự hào về nét văn hoá đậm bản sắc. Lớp trẻ không muốn dùng thứ ngôn ngữ quá khô cứng của thế hệ đi trước, luôn sáng tạo ra từ mới, hoặc ý nghĩa mới. Họ nghĩ thật thú vị nếu tụi trẻ nói chuyện với nhau (bằng tiếng Việt) mà mấy ông bà già chẳng hiểu gì. Phi chuẩn làm thuận lợi cho việc tạo ra những khái niệm mới những ý nghĩa mới mà giới nhà văn thường lợi dụng triệt để. Chẳng hạn khái niệm trước đây chỉ dành cho con người thì nay dùng cho cả một thể chế (Ví dụ: thủ dâm chính trị, xã hội hoá giáo dục). Dùng như vậy người ta coi là hay và mới.
Việc hình thành khái niệm và việc định nghĩa không bắt buộc cái nào có trước cái nào có sau. Trên thực tế ta thấy diễn ra cả hai xu hướng chuẩn hoá và phi chuẩn hoá. Tiếng Việt đã xuất hiện mấy nghìn năm cũng nhờ cả hai quá trình này mà có được như ngày hôm nay.
DA, 25.11.2004
© 2004 talawas