trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
30.1.2004
Giả Bình Ao
Bậc thềm của tôi và tôi trên bậc thềm
 

Trên giá sách của mình, tôi viết bốn chữ: “Cùng cực vật lý”, nghĩa là hỏi ra cho rõ ngọn nguồn mới thôi. Bởi vì tôi không biết, cho nên chỗ nào tôi cũng muốn biết. Cứ đêm đến, nằm trên giường, tôi thường có thói quen ngẫm nghĩ, ngẫm nghĩ về chuyện đời, ngẫm nghĩ về người khác, ngẫm nghĩ cả bản thân. Mình gần gũi mình quá dễ, nhưng mình ngẫm nghĩ mình khó ghê. Tôi không nói rõ được tôi là người như thế nào. Lúc đắc ý thì ngông nghênh phải biết, khi bi quan thì ỉu xìu vào cỡ nhất nhì, thường ưu tư một cách dửng dưng. Nhìn người gặp việc cứ hay hổ thẹn, quay lưng rồi lại nghĩ vẩn vơ. Tự mình cảm thấy có lúc quả thật tốt lắm, nhìn vạn vật bao la dưới gầm trời chỉ có mình là nhất; có lúc lẩn thẩn, tự ti, tự ruồng bỏ, ba ngày xấu hổ ru rú xó nhà không muốn đi đâu. Thậm chí nằm mơ thấy mình phạm tội: từng ăn cắp, từng giết người, từng lưu manh, nhưng tội phạm lại không triệt để, đi kèm theo đó là hối hận, giận mình. Tâm lý này cứ dằn vặt tôi mãi, ảnh hưởng đến tâm tư tình cảm của ngày hôm sau.

Tôi bảo, tôi là một người tốt, cũng là một kẻ xấu, một người vừa xấu vừa tốt. Hôm nay ngày mồng hai tháng hai âm lịch, sắp có tiếng sấm. Sau tiếng sấm sâu nở, tôi đã ba mươi mốt tuổi. Người giảng kinh bảo rằng: sau khi chết, con người có thể lên Thiên quốc. Nếu quả thực có một Thiên quốc như vậy, thì phải chăng một đời người, ngay từ khi chào đời đã bắt đầu bước lên chặng đường dài dằng dặc đó? Đường lên Thiên quốc là tia sáng mặt trời, vậy thì dốc lắm, cheo leo lắm. Mỗi năm một tuổi sẽ có một bậc thềm. Một vài vĩ nhân lại bảo: Làm một nhà văn, sau này đi tới Thiên quốc, thượng đế sẽ mời ăn quả ngọt. Ở Thiên quốc có cảnh đẹp thế nào không biết, chứ quả ngọt thì hấp dẫn đấy. Mười ba năm trước đây, sự cám dỗ này đã bám riết tâm linh tôi. Thế là từ thưở ấy, đối với tôi, bậc thềm của cuộc đời là bậc thềm của văn học, bậc thềm của văn học cũng là bậc thềm của đời tôi.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi mốt.

Tôi là một nông dân, mặc bộ quần áo Tôn Trung Sơn cũ kĩ của bố, vạt trùng quá đầu gối, trông rất buồn cười. Bởi tôi vụng mồm, không biết ăn nói, người lại lẻo khẻo, không mấy ai thích làm việc với mình. Tôi cứ phải lao động trong đám chị em phụ nữ. Nhưng một ngày họ được tám điểm, tôi chỉ được ba điểm. Sau nửa năm, tôi được tặng thêm nửa điểm. Tôi đi kiếm củi, đường dài ba mươi dặm, tôi chỉ gánh được hai mươi lăm kilôgam. Bị một lần lăn xuống dốc, những tưởng phen này tan xương nát thịt, may mà trên vách núi có ba cây gỗ hoa níu lại. Chỉ có ba cây gỗ hoa đơn độc đã cứu tôi sống giữa nhân gian. Một bà thím hàng xóm chê tôi chẳng bằng người, tôi chỉ người đàn bà đi xe đạp trên đường cái trước cổng, hỏi lại: Người ta là đàn bà đi được xe đạp, còn thím có đi được không?

Bạn bè cùng độ tuổi, anh nào cũng bắt đầu hỏi vợ. Tôi chưa có ai, mẹ tôi sốt ruột lắm, nhờ người manh mối khắp nơi. Tôi nóng tiết viết câu thơ của Lý Thái Bạch lên vách núi:

“Trời đã sinh ra ta tất sẽ có lúc dùng đến”.

Công xã xây một đập nước lớn, tôi đi làm, được ba hôm, không kéo nổi xe, cũng không giơ nổi búa tạ, nên bị quẳng ra rìa. Ít lâu sau, bắt chước Mao Toại, tôi tự nhận mình viết được bút lông, dán được khẩu hiệu. Thế là thành công lớn. Sau đó trở thành chủ biên, biên tập viên và phóng viên của tờ báo “Chiến đấu công trường”, làm luôn việc khắc chữ, in ronéo, phát hành và cả phát thanh, một mình kiêm bảy chức. Cuộc sống thanh bạch vất vả vô cùng. Trên công trường thỉnh thoảng có bữa ăn tươi, mỗi người ba miếng thịt. Tôi ăn một miếng, còn hai miếng lấy lá thầu dầu gói lại, cuốc bộ ban đêm mười dặm đường rừng, mang về dành phần mẹ.

Để trang báo chiến đấu sinh động, tôi đã học viết các thể chữ, học vẽ tranh, làm thơ. Có một bài thơ được khen hay, có người bảo gửi cho báo tỉnh, được đăng sẽ có tiền nhuận bút. Tôi xiêu lòng, chép sạch sẽ, gửi qua bưu điện. Nhưng không có tiền mua tem. Xin mẹ, mẹ không cho. Tôi bảo: Cho con vay tám xu, mười ngày sau, chắc chắn sẽ trả năm hào.

Gửi bản thảo đi rồi, bắt đầu từ ngày hôm sau tôi luôn để ý báo tỉnh. Một ngày qua đi, năm ngày qua đi, hễ thấy người đưa thư đển cổng trường, tôi lại chạy ra đón. Tôi lật xem tờ báo từ đầu chí cuối, tìm bài thơ của mình, nhưng không có. Cứ thế, hôm nay chờ báo ngày mai, ngày mai lại chờ báo ngày kia, ngày kìa… Nửa tháng mong ngóng, vẫn như đất ném ao bèo, chẳng hề có tin tức gì. Không nhịn nổi, tôi hỏi một anh sinh viên già, anh ấy cười bảo: Biên tập đã đem bản thảo của cậu chùi đít từ đời tám hoánh.

Tôi thất vọng, chẳng bao giờ còn dám nghĩ đến chuyện gửi bản thảo đi nữa. Nợ tiền của mẹ, mẹ đã quên, tôi cũng giả vờ quên tuột.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi hai.

Tháng giêng, một cơ may ngẫu nhiên, tôi được vào trường đại học Tây An. Từ rừng núi được ra Tây An, tôi ngáo ngơ, vừa nhìn thấy lầu chuông bế thế sơn son thiếp vàng, dường như sợ hết hồn. Đường phố rộng rãi thế, xe cộ cứ nườm nượp, tôi không dám tạt sang bên kia đường cái. Hỏi đường, chẳng ai thèm để ý. Sợi dây bện rơm buộc cái chăn in hoa cứ thõng xuống. Tôi đi theo chân tường, vừa xúc động, vừa sợ sệt. Lúc ngồi xe điện đã sơ ý để mất chiếc mũ lá. Vào cửa hàng, thấy xúc xích, không biết đó là cái gì, hỏi người phục vụ, bị cười cho một trận nên thân. Tôi không tìm ra nhà vệ sinh, mót đến tái mét mặt. Đánh liều đi vào ngôi nhà của một cơ quan, nhìn thấy hàng chữ “nhà xí nam” liền đi vào, nhưng lại thấy một dãy xếp đặt như bày tủ, vội lui ra; rồi thấy có người cũng đi vào, lát sau thít dây rút ra, tôi lại nghi nghi hoặc hoặc đi vào. Nước đến chân rồi, không nín được nữa, tôi liền giật cánh cửa tủ, mới phát hiện trong đó là cái bô vệ sinh.

Đến ở nhà trường, lần đầu tiên không ngủ giường lò, cảm thấy bâng khuâng; cứ nghe tiếng tàu hỏa xa vọng lại, nhớ mẹ quá, nước mắt rơi lã chã. Thầy giáo yêu cầu sinh viên mới ngồi viết một bài cảm tưởng vào trường, không hiểu sao, tôi bỗng dưng muốn làm một bài thơ, kết quả viết dài lắm. Nộp bài, ba hôm sau, tập san số đầu của trường ra mắt, trong đó rặt là thơ văn của thầy cô giáo; riêng bài của học sinh, chỉ có mỗi bài thơ của tôi. Tin không cánh mà bay, tôi trở thành nhân vật được bàn tán trong các bạn học. Tôi đi đường tuy vẫn cúi đầu, nhưng xương sống thì cứng lắm. Tôi thầm nhủ: Tây An có gì ghê gớm đâu! Cái trò làm thơ cũng chẳng khó lắm! Ước mơ làm nhà văn nhà thơ lại nhen nhóm, âm ỉ từ đống tro nguội lạnh. Đi trên đường phố lớn Tây An, người tỉnh thành phong độ thanh thoát, nheo mắt nhìn tôi, tôi cũng nheo mắt nhìn lại, lặng lẽ ngâm một bài dân ca của năm năm tám: “Trên trời không có ngọc hoàng, dưới đất không có long vương, hạ lệnh cho ba núi năm đèo mở đường, ta đã đến”.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi ba.

Gần như ngày nào tôi cũng làm thơ. Đêm đêm như con gà mái mới đẻ, tôi thấp thỏm không yên, nằm trên giường cấu tứ. Trời sáng thức dậy, vừa ngồi trên chăn nệm đã cầm bút ghi lại những câu hay bất chợt ập đến. Mỗi ngày đều có một hai bài thơ ra đời. Các bạn sinh viên đều gọi tôi là “nhà thơ nhỏ”.

Trên tập san nhà trường lại tiếp tục được đăng mấy bài, tôi có phần thỏa mãn, định xông ra cổng trường, tấn công vào thành phố Tây An. Có thời gian rảnh rỗi, tôi lại mò đến ban biên tập của một tòa báo và một tạp chí trong thành phố. Tôi không có tiền đi ô tô, thì tôi đã có hai chân. Tôi thường hay nhỡ cơm. Cổng lớn của ban biên tập, tôi coi thâm nghiêm như điện Diêm La. Đến đó, cũng đi đi lại lại khá lâu ở cổng, căng thẳng đến mức đổ mồ hôi tay. Trước mặt biên tập viên, người ta chưa bảo ngồi, tôi không dám ngồi. Mỗi câu nói của họ, tôi chỉ biết ghi nhớ trong lòng. Tôi quen hai cán bộ biên tập, nét mặt không chỉ đẹp, ăn nói cũng sống sượng, nhưng chân thành lắm. Mỗi lần xem qua bài vở của tôi, sau khi đập té tát tối tăm mặt mũi một chầu, bao giờ cũng khen khá hơn trước, bảo tôi viết nữa và còn cho mượn một ít sách về đọc. Tôi cảm ơn các anh ấy lắm, gửi tới tấp các bản thảo cho các anh, các anh lại tới tấp gửi trả bản thảo. Hơn sáu tháng qua đi, tôi viết nào tiểu thuyết, nào tản văn, nào thơ ca, nào truyện… có tới hàng chục vạn chữ, mà chả có chữ nào được in. Nhưng tôi vẫn cảm thấy vui vui, tin tưởng mình sẽ viết được một bài, tôi lại lặng lẽ ra nhà ăn ở ngoài trường, mua bốn lạng mì sợi, hoặc hai cái bánh bao và một bát canh trứng gà, ăn bồi dưỡng một bữa.

Tôi học hỏi ở mọi nơi, nhưng hễ có ai chỉ bảo cho một chữ về lĩnh vực văn học, là tôi nguyện ba đời báo ơn không quên. Một hôm, cùng một sinh viên cưỡi xe đạp tìm đến một nhà thơ nghe dạy bảo văn thơ. Hai đứa vừa đạp xe vừa thảo luận, đi qua ngã tư quên khuấy tránh cảnh sát giao thông, thế là bị giữ cả người lẫn xe, nghe một trận chửi, nào là nộp phạt mười lăm đồng, nào là tịch thu xe đạp. Hai anh em nước mắt đầm đìa. Mười lăm đồng đâu có dễ kiếm, xe đạp lại mượn của người ta. Đứng trên đất tuyết, ngửa mặt thở dài. Không biết làm thế nào, đi vào cửa hàng xin một tờ giấy gói đồ, mua một cái bút chì, lại mua thêm một con dao nhỏ bảy xu để gọt, gục mặt xuống đường, viết bản kiểm thảo, đổ hết tội lỗi lên đầu, đưa ra hàng đống những lời cầu xin tha thứ. Sau năm tiếng đồng hồ, cuối cùng đã động lòng thượng đế, xin lại được xe đạp. Thơ văn nào có được chỉ bảo, nhưng từ đấy đã biết thế nào là sự ghê gớm của “chuyên chính vô sản”. Cho mãi đến bây giờ, đạp xe đi trên phố, hễ gặp ngã tư, là hấp tấp nhảy xuống dắt xe từ xa.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi tư

Giữa lúc tôi hoàn toàn mất hết hy vọng, thì một sáng tác thật sự đầu tiên của tôi, một bài tản văn hai ngàn chữ được đăng trên “Nhật báo Tây An”. Hôm ấy là chủ nhật, tôi ôm mấy bộ quần áo rách đến một cửa hiệu nhỏ trong thành vá lại. Tiền vá đắt quá, cái lão mũi đỏ ấy làm tôi ấm ức mãi trong bụng. Đi qua tòa nhà bưu điện thành phố, ở đó có một quầy bán báo, tôi vô tình liếc mắt nhìn vào. Trên tờ báo kia, nổi bật một dòng chữ to: “Dấu chân sâu hoắm”. Tôi trợn tròn mắt, nhảy lại gần, quả nhiên nhìn thấy tên mình. Tôi hét lên một tiếng, những người xung quanh nhìn cả vào tôi; tự biết mình khác thường, mặt tôi nóng như hòn than, tôi vội chạy đi. Chạy đến một chỗ không xa lắm, chờ mọi người tản đi, tôi định mua ngay mười tờ, hai mươi tờ. Nhưng sờ túi, chỉ còn hai hào. Tôi cố làm thản nhiên, từ từ trở lại quầy bán báo, bảo: Cho mua mười tờ.

Những mười tờ cơ à?- Người bán báo đeo kính, mắt kính cứ loang loáng từng vòng từng vòng như đáy chai rượu gạo, nhìn tôi một lúc rồi tiếp – Học sinh phổ thông như cậu, mua làm gì mà nhiều thế? Gói bột ớt hả?

Tôi bí quá định bảo: Ai là học sinh phổ thông, bài văn trên báo này do tôi viết đấy!

Nhưng tôi xấu hổ không tiện nói ra. Người bán báo chỉ bán một tờ. Ông bảo không nên làm hỏng báo mới. Tôi đành mua một tờ.

Ngay trong đêm ấy, tôi đã viết thư cho bố, báo với Người tin mừng to lớn này. Tôi viết: “Con bắt đầu có dấu chân rồi, bố ạ”. Nhưng tôi không gửi tờ báo ấy cho bố, bởi vì tòa soạn chưa gửi báo biếu cho tôi, tôi phải giữ báo để mỗi buổi tối đọc lại một lần.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi lăm.

Tôi viết càng nhiều, càng không phải là học sinh ngoan. Cán bộ lớp nhắc nhở tôi nỗi nguy hại “chỉ chuyên không hồng”. Hết lần này đến lần khác tuyên bố trước lớp đảng viên ở lại, thế là tôi đứng dậy ra ngoài. Tôi chỉ là một đoàn viên, khi anh em đề cử tôi làm ứng cử viên phân đoàn trưởng, có người nhắc nhở người đề cử: Tại sao cậu lại đề cử hắn?

Lúc ấy tôi buồn lắm, hận mình không biết cách lãnh đạo để “tâm sự”, hận mình viết được thơ, văn, mà viết bài đại phê phán thì không thể vừa lòng người ta. Có một vị cán bộ bảo tôi đoán một câu đố: “Tối không ngủ, sáng không dậy, dậy không ăn, chuồn đến lớp”, bảo là để trị một người, hỏi tôi là ai. Tôi đáp: “Tôi đó”, nói xong, tôi chạy vào vườn hoa sau phòng đọc sách, sụt sịt lau nước mắt một cách oan uổng.

Tôi rất muốn uống rượu, nhưng không có tiền. Tập hút thuốc lá, chín xu một bao thuốc lá mác “Đàn cừu”, mỗi ngày qui định hút mấy điếu. Lúc ấy, tôi đang hợp tác với một bạn học viết một bài thơ dài trữ tình. Viết mệt quá, móc thuốc ra hút, liền bị một sinh viên sẵn tiền hút “Đại tiền môn” chê hút thuốc hạng bét, chỉ tổ hun sặc người ta.

Thơ đã viết thành công, gộp với thơ dài của người khác in thành sách. Tôi và người bạn hợp tác, mỗi đứa bỏ ra hai đồng năm hào vào thành chơi một ngày, chụp ảnh bốn tấc làm kỉ niệm, dạo chơi công viên một vòng, ăn một bữa cơm quán, lại mua một bao thuốc cao cấp, mời anh chàng chê chúng tôi hút thuốc “đểu” một điếu và nói một tiếng “cảm ơn”. Nhưng khi chúng tôi ra hiệu sách nhỏ mua mười cuốn sách của mình, cô bán hàng ăn mặc rất mốt cứ phớt lờ chúng tôi. Đó là một cô mặt phị, bôi đầy phấn trắng lên mặt, đôi lông mày cũng trắng. Chúng tôi gọi cô rối rít. Cô bảo: “Đó là thơ, xem có hiểu không? Xem xong, không được trả lại đâu đấy nhé!”. Trái tim nóng bỏng bị dội một gáo nước lạnh. Chúng tôi đáp: Lấy quyển đó!

Khi chúng tôi cầm sách đi ra cửa, cô gái ngạo mạn còn chê cười: Người loại gì mà cũng đòi mua sách thơ?

Tôi đáp: Hừ, sách này tôi viết đấy. Cứ chờ xem, biết đâu, sau này em chẳng viết thơ tình cho anh!

Tôi nói câu này ở chỗ ngoặt khi đã ra khỏi hiệu sách ba ngàn mét. Hai năm sau, biết là cô gái không nghe được câu nói này, biết là mình thô dại quá, định đi gặp cô nhận lỗi, song đến hai lần, chẳng lần nào gặp.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi sáu.

Một cái chăn cóc gặm, một cái đệm cá nhân, một tấm khăn trải giường, một tấm vải nhựa… đã đánh bạn với tôi suốt ba năm học đại học. Đêm đông rét căm căm, mượn áo ba đờ xuy của bạn đắp lên người; cứ đến ngày mưa tuyết, không mượn được áo khoác, đêm đêm đành phải nằm co ro. Đến bây giờ tôi vẫn nói đùa với mấy anh bạn: Hiện giờ vẫn lùn tịt, hoàn toàn là do ngày đó nằm ngủ co quắp, không duỗi thẳng chân. Mùa hè, mỗi phòng tập thể ngủ sáu người, thì năm người có màn, mỗi tôi không có, bao nhiêu muỗi dồn cả vào mình, may mà ngày ấy béo hơn bây giờ, có vô khối máu tươi nuôi muỗi. Chỉ có điều thời ấy còn chi viện Việt Nam, yêu cầu sinh viên hiến máu, tôi bị rút mất ba trăm cc, bù lại được hai mươi đồng bồi dưỡng, tôi tiếc không đi ăn uống, mà đem mua hết sách. Từ đó, cơ thể tôi suy sụp, cho đến bây giờ mặt thì đen sạm, dáng như ma đói.

Xong rồi, cứ coi như đã tốt nghiệp. Theo điều kiện, tôi phải trở về miền núi dạy học, nhưng các đồng chí ở nhà xuất bản tỉnh cứ khăng khăng xin tôi. Tôi rũ mình, trở thành một cán bộ biên tập, được phân công ở trong gian phòng bằng cái phễu rộng sáu mét vuông trong ngôi nhà năm tầng.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi bảy.

Tôi được tự do, có thể tha hồ hút thuốc lá “đểu”, có thể đọc sách viết bài thâu đêm không tắt đèn, có thể không buồn vì hết giấy viết, có thể không chạy vạy khắp nơi tìm giấy tờ rô ky dán phong bì, gửi bản thảo. Trong phòng bừa bộn, sách báo vứt lung tung, chẳng ai đến gõ cửa phòng tôi ở. Hễ tôi bước vào phòng là đi vào thế giới của sáng tác. Tôi không lo gì, chỉ lo cháy nhà. Có người bảo tôi đổi phòng, tôi chối đây đẩy. Bởi vì tôi không có đồng hồ đeo tay, nhưng từ cửa sổ này có thể nhìn thấy ngay chiếc đồng hố quả lắc to đùng của ngôi nhà trực ban, lại còn nhìn thấy mặt trời mọc trên thành phố. Người trong đơn vị chế giễu căn phòng sáu mét vuông này là cái ổ gà, nhưng tôi đã viết ba chữ “Lầu phượng hoàng” dán lên khung cửa.

Những ngày vui vẻ chẳng được bao lâu, tôi liền sa vào buồn khổ vô hạn. Mọi chuyện phức tạp ngòai xã hội, mọi điều bóng gió trong cơ quan, mọi sự rắc rối trong công tác, mọi nỗi cuốn níu trong tình yêu… đã khiến tôi nhận biết cái đơn thuần của đứa con miền núi, sự ấu trĩ của anh sinh viên mới ra trường. Tôi vừa đọc các tác phẩm có tiếng tăm ở trong và ngoài nước, vừa đọc các cuốn sách lớn của xã hội. Tôi bắt đầu phủ định những bài thơ gào khản giọng tôi, phủ định tài năng bịa chuyện mà tô luôn tự mình đắc ý xưa nay. Tôi phải viết về con người và sự việc quê hương mà tôi quen thuộc. Tôi phải tìm lối đi cho mình trong sáng tác. Khẩu hiệu nêu lên là: Đi ra khỏi Đồng Quan. Bản thảo lại từ bốn phương tám hướng dồn trả về căn phòng sáu mét vuông. Tôi bắt đầu có phần nản lòng, hận số phận mình, hận cả ban biên tập, lo sợ sau này chẳng làm nên chuyện gì, trái lại còn nhỡ nhàng tuổi trẻ hôm nay. Trong đêm, tôi thường hay ngồi ngây trước ngọn đèn cô quạnh. Nhưng rồi đã xảy ra chuyện thế này: Thức đến một giờ, thấy buồn ngủ quá, chỉ cần nói một câu là đi ngủ là ngủ được ngay. Nếu cố thức thêm lúc nữa, quá cơn buồn ngủ, thì lại tỉnh táo như sáo không sao nhắm mắt được. Thế là tôi liên tưởng: Sáng tác cũng như vậy sao? Tôi liền hứng lên, dán lên tường tất cả bản thảo bị trả lại, ngẩng lên, cúi xuống đều nhìn thấy nỗi sỉ nhục của bản thân. Thư trả bản thảo nhiều lắm, hầu như một nửa là tờ in dòng chữ “Trả bản thảo”, có biên tập viên chắc là do công việc nhiều quá, mà tờ in gửi trả bản thảo, ngay đến tên tôi cũng không kịp điền vào.

Trên trần nhà bê tông không có xà ngang, nếu không, tôi đã học Câu Tiễn buộc một sợi dây thừng treo một cái mật đắng.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi tám.

Sáng tác không có cách thức nhưng có quy luật nghệ thuật của nó, cứ coi như tôi đã mò mẫm ra một chút gì đó. Thì ra, cánh cửa lớn sáng tác, khi chưa đi vào, thì nó dày như một bức tường thành, một khi đã đi vào thì mỏng như tờ giấy. Tỷ lệ sử dụng bản thảo đã tăng dần. Tôi viết như điên, đầu tiên là An Huy, sau đó là Thượng Hải, rồi Bắc Kinh, rồi Quảng Châu…, những vùng đất rộng lớn ấy đến nay tôi vẫn chưa đặt chân tới, song những tạp chí lớn của vùng đất bao la ấy đã được những bản thảo của tôi vào ra mấy lần.

Truyện ngắn “Mãn Nguyệt Nhi” được giải thưởng ở Bắc Kinh. Trên đường đi Bắc Kinh, tôi xúc động không ngủ được, không ăn được. Trước khi đi, tôi viết liền bảy tám bức thư cho anh em bạn bè, rồi cầm theo cả, chờ hôm lĩnh thưởng, sẽ gửi đi từ Bắc Kinh. Nhưng khi đến Bắc Kinh, trong cuộc tọa đàm, các nhà văn già, nhà văn trẻ, ngồi chật ghế, bàn bạc về tác phẩm của họ, nhìn những khuôn mặt nghiêm trang của họ, tính khí hung hăng của tôi tiêu tan hết. Ôi, tôi có cái gì đáng tự kiêu đâu? Không đến Tây An, không biết thế giới bên ngoài to hay nhỏ. Không đến Bắc Kinh, không biết văn đàn Trung Quốc cao hay thấp. Bảy tám bức thư báo tin chiến thắng, tôi đã cho một mồi lửa.

Trong bảy ngày hoạt động trao giải thưởng, tôi không phát biểu gì. Tôi có gì đâu mà nói. Tôi bước đi một mình trên phố lớn Tràng An, trong đêm gió lạnh thối vù vù, tôi chỉ biết bước đi. Tôi nói thì thầm nhiều lắm, chỉ nói với tôi thôi, không định nói với bất cứ một người nào khác. Cho đến tận bây giờ, xin tha thứ cho, tôi vẫn không thể nói ra được những điều ấy.

Về đến nhà, tôi quăng giấy chứng nhận được giải cho vợ và bảo: “Em hãy cất nó dưới đáy hòm, đừng bao giờ để người ngoài trông thấy’.

*

Năm một ngàn chín trăm bảy mươi chín.

Năm nay, trên văn đàn xuất hiện nhiều lớp người mới,liên tục có những tác phẩm hay. Mừng cho người, xem lại mình, tôi lại phủ định các tác phẩm trước đây của mình, đó là những trò nông cạn, quả nghèo nàn quá! Tôi lao vào đọc sách, tận dụng mọi cơ hội đi vào thế giới tự nhiên rộng lớn, tu dưỡng để làm một nhà văn, rèn luyện hình thức nghệ thuật biểu đạt phù hợp với tư tưởng của mình. Tôi luôn thăm dò góc độ, luôn luôn thay đổi phương thức. Tôi đã xuất bản ba cuốn sách nhỏ, song không muốn nhắc tên sách đó với ai, không muốn đi gặp ai, không muốn để người ngoài biết mình là ai.

Từ mùa hè trở đi, tôi hay ốm luôn, cảm cúm dường như không dứt, tối nào cũng ngạt mũi.Tôi đã cảnh cáo mình: Không được dừng bút. Khi bị viêm trĩ, tôi quỳ xuống viết trên ghế, nằm sấp viết trên giường, khi vợ tôi ở cữ, tôi ngồi bên cạnh lò sưởi tã. Mỗi khi viết xong một bài, tôi cứ đọc toang toang, sung sướng như đấy là văn chương đầu tiên hay nhất thiên hạ. Nhưng được ba ngày, liền thở dài, coi bản thảo như phân rác, nhét vào ngăn kéo.

Mùa đông, vợ tôi được điều vào thành phố, tính nết tôi mỗi ngày một nóng nảy, hơi một tí là giận dữ, hai vợ chồng thường cãi nhau, lần nào cũng do tôi gây sự, lần nào tôi cũng chấm dứt bằng thất bại của mình. Tôi biết điều này hoàn toàn là do sự buồn phiền trong sáng tác của tôi bị ì ạch gây ra. Tôi hận đến chết cái thằng chồng chẳng làm nên công cán gì này, một gã đàn ông ốm yếu.

*

Năm một nghìn chín trăm tám mươi.

Một năm buồn tẻ, nặng nề, chẳng khác gì đống củi ẩm không bén lửa, chỉ khói um. Cuối cùng thì tôi cũng cho ra đời hàng loạt tác phẩm, bên ngoài khen hay, đã tăng lòng tin cho mình. So sánh một chút, tôi có phần nào nhạy bén, nhuần nhuyễn, hơn nữa đã quen với một cách đánh: Suy nghĩ cái gì thì viết một bài về cái ấy, đã viết được một bài, thì viết ra một loạt, viết xong một loạt thì sang lãnh địa mới. Các nhà phê bình đã chú ý tác phẩm của tôi, các bài phê bình nhiều hẳn lên, dường như tôi đã có chút ít tên tuổi.

Tôi lại nẩy sinh tư tưởng đắc ý, không chịu nổi sự vắng vẻ, không chịu nổi nỗi cô độc, ưa khen ngợi.

Có một chút tiếng tăm, có một chút tiền, cái gia đình bé nhỏ cũng rôm rả hẳn lên, hai cuốn sách nhỏ lại được biên tập xong, thật là:

Gió xuân thôi thúc vó ngựa giòn

Một ngày ngắm hết hoa Tràng An

*

Năm một ngàn chín trăm tám mươi mốt.

Cái gì tôi cũng muốn viết, tùy theo sở thích cá nhân. Tôi bắt đầu học viết truyện vừa, bắt đầu tấn công Tản Văn, hứng thú làm thơ cũng trỗi dậy. Lại cũng mê thư pháp, hội họa, kịch hát… lại cắm đấu cắm cổ làm việc không kể ngày đêm, lại ngông nghênh, dương dương tự đắc.

*

Năm một ngàn chín trăm tám mươi hai.

Lại đăng hàng loạt hết tác phẩm này đến tác phẩm khác. Tôi chờ đợi nó bùng nổ, chờ đợi lời khen của dư luận, xã hội. Nhưng điều trả lời tôi lại là những lời phê bình của các nhà bình luận. Phê bình nghiêm khắc ghê gớm.Sau đó, ngoài xã hội bàn tán ầm ĩ về tôi, nói tôi viết nhiều, bỏ tiền thuê ba bốn người chuyên môn cung cấp tình tiết; nói tôi sai lầm lớn, bị khai trừ. Thậm chí còn bảo tôi đã bị “hạ phóng”, đuổi khỏi thành phố. Tôi ù lì, lúng túng chẳng biết làm thế nào, chẳng biết đi lối nào, ở chỗ vắng người, tôi chỉ muốn khóc. Trong đêm sáng trăng, tôi ngồi ở cạnh đường sắt ở phía bắc thành phố, nghe tiếng xình xịch của tàu hỏa hết chuyến này đến chuyến khác, hơn nửa tháng trời, tôi không viết được chữ nào.Tôi phải suy nghĩ cẩn thận, một lần nữa giở xem tất cả các bài phê bình, ngẫm nghĩ từng bài. Dần dần tôi bình tĩnh lại, có thì sửa, không có thì răn mình. Tôi ghi trong nhật kí: Bình Ao ơi, nếu anh không có chí khí, thì chìm hẳn đi, ngã gí xuống. Nếu anh lấy văn học làm sự nghiệp cả cuộc đời, thì không cần phải đắc ý vì thành công một thời, cũng không cần phải nản chí vì thất bại khó khăn trong chốc lát. Búa sắp đập vỡ tan, chỉ có thể là tấm kính, còn gươm báu thì được tôi luyện.

Tôi đã tổng kết quá khứ của mình: Vốn sống còn nông, lý luận còn hổng, tu dưỡng nghệ thuật còn mỏng.

Tôi nhờ người vẽ bức tranh Bodhidharma, quyết tâm làm lại từ đầu, đi sâu vào cuộc sống, nghiên cứu đời sống, ra sức đọc sách, âm thầm sáng tác. Thế là tôi từ chối tham dự mọi cuộc họp danh nhân, tránh đọc tham luận báo cáo ở lớp giảng dạy văn học, không đến nhận giải thưởng ở các cuộc trao giải sáng tác của một số tòa báo và tạp chí.

*

Năm một ngàn chín trăm tám mươi ba.

Suy nghĩ vẫn đang tiến hành, sáng tác vẫn đang tiếp tục. Tác phẩm vẫn được trao giải, vẫn đang đua tiếng.

Các cấp lãnh đạo chỉ bảo rất thân thiết, bạn đọc đông đảo cổ vũ tôi nhiệt tình. Tôi rời ban biên tập, chuyên ngồi nhà sáng tác. Tôi đã có thời giờ, bình tĩnh đi vào sự nghiệp của mình. Tôi trở nên cởi mở một cách lạ lùng, có giải thưởng thì đi lĩnh, có phê bình, tôi thành khẩn tiếp thu; đáng cười, thì vỗ gối cả cười; đáng kiểm thảo, thì kiểm thảo đâu ra đấy, tôi bảo vợ: Bây giờ cả nhà phải bảo vệ trọng điểm là tôi.

Đi khỏi cửa mười một lần, thì ngoài việc phải đi dự mấy cuộc họp cần thiết, còn phần lớn đều xuống xã. Đương nhiên không thể bỗng chốc vỗ béo ngay, không thể lập tức có tác phẩm ra hồn.Tôi coi sáng tác của mình là thử nghiệm, có lẽ thử nghiệm này dài lắm, dài lắm, thậm chí cả đời. Nhưng tôi đang động viên mình, viết đi, tác phẩm hay đã có đâu, đang chờ cậu đấy. Tôi tin tưởng vững chắc, chỉ cần tôi trung thực với nghệ thuật, nghệ thuật tất sẽ có ngày gần gũi với tôi.

Ba mươi tuổi rồi, đã bước vào tuổi tự lập. Hôm sinh nhật, tôi mời anh em đến ăn mừng. Tôi nói: “Thưa các bạn, mời cạn chén về sự chín chắn dần dần của tôi”. Tôi uống say đầu tiên.

Bấm đốt ngón tay đã mười ba năm, mười ba cái bậc thềm tôi đã bò lên cực kỳ khó nhọc. Vợ tôi đã chuyển đến ở thành phố, lúc đầu tôi ở thôn Tĩnh Hư- ngoại ô phía bắc Tây An. Bây giờ tôi chuyển đến trong ngõ ngã tư Ngũ Vị của thành phố.Tôi cấu tứ một bức tranh: Tôi đang khệ nệ bê một hòn đá kéo lúa lên các thềm. Tôi không dám buông tay, hễ buông tay là hòn đá rơi xuống, tiếc rằng tôi vẽ kém quá, không vẽ nổi, tôi biết, các bậc thềm phía trước còn dài lắm, leo lên từng bậc còn cao lắm. Sức tôi yếu, thở hổn hển bở hơi tai, mắt nhìn thấy hàng đống người ngựa đang lăn kềnh bên cạnh. Tôi chỉ biết xoa đầu gối và đấm lưng, nhưng mắt vẫn nhìn phía trước. Tôi thầm nhủ: Phải lên tận Thiên quốc, phải ăn được quả ngọt. Lối thoát của tôi chỉ có thể là leo lên bậc thềm, chỉ leo lên từng bậc. Khoa Phụ (một nhân vật thần thoại) không ra được biển đã chết khát. Ngài chết bi tráng lắm. Có lẽ tôi cũng sẽ ngã giữa đường, xong dù có ngã tôi vẫn là con ma leo bậc thềm. Trong nhà mình, tôi thay khung gương mới. Trên đó tôi viết lời của vai chính trong bộ phim truyền hình Nhật Bản: “Nữ tướng bóng chuyền”, nói rằng: Mục tiêu của tôi – Đại hội thể thao Olympic.

 
© talawas 2026