Phạm Kỳ Đăng
Một trường phái, một lối cách diễn đạt mới xuất hiện ban đầu hay bị gièm pha bằng những danh hiệu trào phúng. Bức tranh mang tên “Ấn tượng” của Claude Monet nhạt nhòa mầu và hình khối trong con mắt người đương thời quen nhìn ra tấm ra món khiến họ cười ngặt ngẽo nhại danh ra một thứ chủ nghĩa ấn tượng. Với thời gian, danh hiệu do bức tranh tạo ra trở thành giá trị trường tồn. Dạo những năm ba mươi thế kỷ trước có lẽ người đọc cũng gọi chung những bài thơ lạ tai bằng khái niệm Thơ Mới với thái độ cũng không kém phần ỡm ờ khinh suất vậy.
Phong trào Thơ Mới ám ảnh nặng nề vì thực tế sự thách thức của nó cũng khá lớn. Với nỗ lực và năng lực bắt giọng, nhận diện phi thường, học giả đáng kính Hoài Thanh không hẳn đã với tới được đôi ba tác giả khi ông đưa ra những nhận xét hoặc rụt rè, không xác đáng hoặc hời hợt về họ.
Trong nhiều sắc thái biểu đạt, thơ được tuyên dương sau 1945 có khi còn cũ hơn Thơ Mới nữa. Người vợ miêu tả trong thơ thua bà vợ trong ca dao, kém bà Tú Xương ở vẻ tần tảo và đức thương chồng. Riêng thơ nói về người mẹ, kể từ bà bầm bà bủ, có một nội dung lạm phát quá lắm. Đọc hàng nghìn tấn giấy in thơ viết về bà mẹ ta có duy nhất một hình ảnh bà mẹ nghèo nón mê đội đầu, bần hàn, chắt chiu nhường nhịn, lủi thủi và đáng thương, v.v. Liệu một bà mẹ phải làm điếm nhổ răng bán đi để nuôi con không có nổi tình thương, hoặc một bà mẹ xinh đẹp quyền quý điểm trang thanh nhã thơm mùi nước hoa không thương con, không là bà mẹ tốt? Đã thế có người lại còn viết đi viết lại về sự khổ sở hy sinh của bà mẹ, thành thử đọc thơ họ tôi thấy bà cụ mỗi ngày một còng lưng thêm xuống trước anh con giai thi sĩ làm nên quan tước vinh quy về làng. Nghe đến biết rồi khổ lắm, đến nỗi trong lòng nảy sinh phản cảm thế này: theo kiểu viết đó anh ta thương yêu mẹ thì ít mà ngấm ngầm suy tôn mình thì nhiều.
Không riêng gì ta mà trong văn chương nhiều nước, người mẹ còn ẩn dụ ảnh hình đất nước. Xây dựng một hình ảnh chung về người mẹ mòn mỏi như vậy đã xảy ra hệ quả tất yếu: nói về đất nước ắt phải ôn nghèo gợi khổ. Xin thú thực tôi không thể chịu đựng mãi khúc thán ca đất nước lấm lem bùn đất, vì tổ quốc, tôi biết chắc, chẳng ít ỏi như vậy. Nếu đất nước được mô tả một cách nghèo nàn đáng thương như vậy, mà những đứa con của nó lại xưng xưng một tinh thần lạc quan tới mức tự đắc, vả hơn nữa chúng bám vào đất và nước như vậy để làm thơ thì trước sau cũng chỉ mọc ra những cây đa cây đề ở dạng bồn tài. Xin bậc trưởng lão nửa mùa hoặc học giả lăm le gậy hèo thử giở thơ của mình ra xem các anh viết về bà mẹ của mình, gì thì gì chăng nữa, có đúng là lam lũ lủi thủi như vậy không?
Cho rằng tả cảnh cũng là một cách nói về tổ quốc, những nhà thơ cùng dòng thành thực gắn bó với mảnh đất làng quê của mình như ông Trần Đăng Khoa, ông Ngô Văn Phú, mỗi người một vẻ, khác với bó bút kia, đều đã không nhìn lũy tre qua vai gầy của bà mẹ. Ta có thể gặp trong tập Góc sân và Khoảng trời chẳng hạn một đồng bằng Bắc bộ hiện lên nhiệm mầu vẻ sang trọng tốt tươi.
Bạn nhận thức được tự do lựa chọn, bạn có thể thấy đề tài người mẹ (cứ cho là một đề tài) chưa bao giờ cũ, chẳng bao giờ cạn. Thực ra Charles Baudelaire mang lại sinh khí mới cho thơ thế giới, hoặc Rainer Maria Rilke, Paul Celan thay đổi tinh thần thi ca Đức bởi những cách tân mấu chốt về thi liệu, mỹ cảm, cảm quan, cảm thức và ở nhiều phương diện khác. Đối chiếu bài bạn viết, tôi xin nêu hai khía cạnh cùng thảo luận:
Nếu bạn cảm thấy lưu vong trên đất mẹ thì có lẽ bạn mới động đến vỏ ngoài của kén, mới mở đến cánh ngoài của căn nhà, bởi lưu vong chính là sinh tồn nghệ sĩ (nhà văn nhà thơ đều làm nghệ thuật dụng ngôn). Người viết nên kiến thiết cõi lưu vong ngay chính trong tâm linh, bởi chỉ với trạng thái tồn tại đó, nhà thơ nhà văn may chăng mới tìm được ra mình, và, dù công việc khó gian lao như lênh đênh trên biển Sở sông Ngô, khám phá ra ít nhiều những giá trị thuộc về nguồn cội. Vài bậc đàn anh vừa thân mật vỗ vai gọi vậy, bạn liền đứng dậy khẳng khái tự nhận mình là nhà thơ trẻ, (ở địa vị bạn tôi cũng hãnh diện phản ứng không khác). Nhưng những phát hiện về đặc điểm (ít dùng cấp so sánh ngang, ví von vần vè hoa hòe hoa sói/ ít dùng số hóa/ ít dùng biện pháp nhân cách hóa/ ít dùng các thể thơ có sẵn: lục bát, song thất lục bát v.v.) theo tôi, chỉ hợp tình hợp lý, nếu nó là của riêng Phan Huyền Thư. Khi bạn giới thiệu những thu hoạch trên nhân danh cho “chúng tôi ” tức đại diện cho một tập thể sáng tác thì những cố gắng khác biệt này lại chưa thuyết phục lắm. Sáng tạo là việc riêng rẽ từng người. Khảo sát lịch sử nghệ thuật có thể thấy các phái nhóm lưu danh sử sách có chung một tuyên ngôn nghệ thuật luôn tụ hợp những cá tính rất mạnh mẽ chẳng ai giống ai trong sáng tác, và họ chỉ đi cùng nhau từng chặng, khi hợp khi tan.
Tôi có cảm tưởng hầu như tất cả mọi lối cách biểu đạt hầu như đã an bài hết trong trời đất, nên, tuy không ai tự trên trời rơi xuống, mỗi người trong quá trình thu nạp ảnh hưởng, lĩnh hội tri thức và tôi luyện chỉ còn cách viết được như mình. Và có được bản lĩnh như vậy, sao ta lại ngại so sánh. Quả câu thơ “Cát bay lên như những linh hồn” thiếu đi chính một linh hồn không phải là câu thơ hay của Vi Thùy Linh (vì cũng chẳng một tác giả nào viết đều tay từ đầu chí cuối). Đúng là so sánh ngang tựa thói quen phát sinh từ nền văn chương đơn thanh đồng điệu không chấp nhận những gì nổi chìm trên mặt bằng tạo ra, càng không thể nhìn nhận sự phát triển của cá nhân trong vòng tôi khép kín của nó. Tuy nhiên ở văn cảnh khác, so sánh ngang, số hóa, nhân cách hóa đều đứng được trong một câu văn của nhà tiểu thuyết Áo Robert Musil, khi ông nói rằng:” Quan hệ của (nhiều) thanh niên ngày nay với lý tưởng giống như người đàn bà õng ẹo nép sát vào người tình như bộ đồ tắm ướt nhèm dán vào thân thể”. Mà nếu có bổ sung thêm: tựa như (một số) cây bút dính díu vào chính thống, thì theo cảm thụ riêng tôi, câu văn lặp ba bốn tầng như đó cũng vẫn là câu văn hay không mấy khó hiểu diễn đạt một liên kết rời rạc có phần giả dối.