Trước hết, xin cám ơn tác giả Nguyễn Hưng Quốc (NHQ) với bài Cuộc đảo chánh trong một chữ đã cho tôi dịp để suy nghĩ thêm về chữ “cái” đơn giản này. Tác giả NHQ cho rằng với thời gian, trong tiếng Việt đã có một sự thay bậc đổi ngôi, truất phế ngôi vị của chữ “cái”, biến đổi nó từ một chữ có ý nghĩa quan trọng, to lớn thành nhỏ bé, mỉa mai. Ðọc bài này, tôi rất lấy làm thú vị. Tuy nhiên, tôi cảm thấy có những điểm cần bàn trong phần lý luận và thí dụ của bài viết như sau:
1. Có đến hai chứ không phải một chữ “cái”
Khi cho rằng một chữ đã bị “giáng cấp” với thời gian, tác giả phải chứng minh được rằng cũng cùng chữ đó, ở vị trí đó, khi xưa được dùng để chỉ một ý nghĩa nào đó, bây giờ lại được dùng với ý nghĩa khác chứ không thể đem so sánh hai chữ khác nhau được. Nhưng đó là việc tác giả đã làm trong bài Cuộc đảo chánh trong một chữ. Theo thiển ý của tôi, phải có ít nhất là hai chữ “cái” chứ không chỉ một chữ như NHQ cho thấy. Chữ “cái” trong “Bố Cái Ðại Vương”, trong đường cái, sông cái… có ý nghĩa và chức năng hoàn toàn khác với chữ “cái” trong cái bàn, cái ghế, cái đẹp, cái xấu… Trong trường hợp đầu, chữ “cái” được dùng như một danh từ hay một tính từ, đứng sau một danh từ để bổ nghĩa cho danh từ đó, có ý nghĩa là mẹ, là to, là quan trọng, hoặc là giống cái. Trong trường hợp sau, chữ “cái” được dùng như một loại từ hay một mạo từ, đứng trước một danh từ hay tính từ, có chức năng chỉ định, xác định một vật hay một việc, một điều trừu tượng nào đó. Chữ “cái” trong trường hợp sau (đi trước danh từ) không bao giờ có cái ý nghĩa to lớn, quan trọng như chữ “cái” ở trường hợp đầu.
Với vị trí, chức năng và ý nghĩa trong câu hoàn toàn khác nhau, hai chữ “cái” trong hai trường hợp trên là hai chữ hoàn toàn khác nhau, cho dù được viết giống nhau và đọc giống nhau. Giống ở phần xác với chứ không giống ở phần hồn, hay nói theo NHQ là trùng ngữ âm nhưng không trùng ngữ nghĩa.
Và như vậy thì không có chuyện xuống cấp hay truất phế gì cả ở đây, vì hai chữ “cái” nói trên vẫn có ý nghĩa riêng biệt và khác nhau từ trước đến giờ. Chữ “cái” của đường cái, sông cái của ngày xưa vẫn có ý nghĩa to lớn y như ngày nay chứ chẳng có gì khác. Ðây là đường cái của Nguyễn Huy Hổ (1783-1841) trong “Mai Ðình mộng ký”:
Ðều là đường cái người ta
Là cầu nơi đó ai qua mới từng
và đây là đường cái của Tố Hữu trong “Ta đi tới”:
Trên đường cái ung dung ta bước
Ðường ta rộng thênh thang tám thước
Cả hai con đường cái tuy cách nhau mấy trăm năm nhưng cũng chỉ có một nghĩa là con đường lớn.
Tương tự, nàng chuột cái trong “Trinh thử” của Hồ Huyền Quy vào cuối đời Trần và con chó cái của Cao Bá Quát vào thời Nguyễn trong câu “Nhà trống ba gian, một thầy một cô một chó cái” cũng chỉ là một chữ để chỉ về giới tính.
Sau cùng, với chữ “cái” trong “Bố Cái Ðại Vương” và chữ “cái” trong câu tục ngữ vẫn còn thông dụng ngày nay “Con dại cái mang”, ý nghĩa chỉ mẹ vẫn còn nguyên vẹn.
Tóm lại, với chữ “cái” trong chức năng tính từ dùng để chỉ mẹ, giống cái, to lớn, thì ý nghĩa xưa và nay gần như không có gì thay đổi. Chữ dùng, cách dùng vẫn giống, ý nghĩa cũng chẳng đổi thay. Chữ “cái” này, do đó, không hề bị truất phế, xuống cấp hay đảo chánh gì cả.
Với chữ “cái” trong trường hợp sau, dùng để chỉ định một vật hay một việc (chữ “cái” đứng trước danh từ với chức năng loại từ), cũng chẳng có gì thay đổi qua bao năm nay. Xem bản “Chỉ truyền” của Trịnh Kiểm về việc cải táng phần mộ của mẹ ông bằng chữ Nôm do chính tay Trịnh Kiểm viết khoảng năm 1539 và được học giả Hoàng Xuân Hãn chép lại, ta thấy có những câu sau đây:
Việc chính, dùng thì dùng cái gỗ vàng tâm. Ấy cái trạng cải táng, vậy tớ đã yên lòng nhậm sự cậy dùng. Dù làm việc, trước sau, ngươi phải nghĩ tiết thứ mà dụng hành…. (La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, “Gốc tích các chúa Trịnh”, Tập 2, tr. 661-664, Nhà Xuất Bản Giáo Dục, 1998).
Theo Hoàng Xuân Hãn bản văn có lời lẽ mộc mạc tự nhiên của một ông chúa xuất thân từ dân dã. Và có lẽ vì vậy mà ta mới được thấy những hai chữ “cái” xuất hiện liên tiếp. Một chữ rõ ràng là loại từ đứng trước một danh từ đồ vật (cái gỗ vàng tâm) và một chữ đứng trước một sự việc (cái trạng cải táng). Cả hai đều là chữ “cái” thuộc trường hợp sau, để chỉ định, chứ không phải tính từ như trường hợp đầu. Mặc dù đây là một áng văn khá cổ đầu thế kỷ XVI, cách đây gần 500 năm, hai chữ “cái”trên đây được dùng gần giống y như chữ “cái” mà ta dùng ngày hôm nay trong chức năng đó. Nếu cần, có thể ta cũng sẽ dùng “cái gỗ vàng tâm”, “cái việc cải táng” giống như ông Trịnh Kiểm vậy.
Ði ngược lại thời gian chút nữa, chữ “cái” trong “cái râu bạc” năm xưa của Nguyễn Trãi, chữ “cái” trong “cái mũi vô duyên” của Cao Bá Quát và chữ “cái” trong “cái răng cái tóc là góc con người”, một câu thành ngữ vẫn còn thông dụng của ngày hôm nay, vẫn chỉ là một.
Theo tôi nghĩ, nếu tác giả NHQ muốn chứng minh chữ “cái” bị “giáng cấp” với thời gian thì ông phải chứng minh rằng chính chữ “cái” dùng trong trường hợp đó mấy trăm năm trước có ý nghĩa khác với ý nghĩa hiện giờ. Thí dụ như chữ “cái” trong “sông cái”, “đường cái” để chỉ sự to lớn ngày xưa, bây giờ chỉ còn được dùng để chỉ cái gì nhỏ bé, tức là ông phải so sánh cái nghĩa của một chữ duy nhất trong hai thời gian khác nhau. Còn như ông đã làm là so sánh hai chữ khác nhau với hai ý nghĩa, chức năng khác nhau, thì ở thời gian nào chúng cũng khác nhau.
Hình như ông NHQ cho rằng chữ “cái” đứng sau danh từ một lúc nào đó đã được chuyển lên trước danh từ nguyên là một chữ. Nhưng ông không cho biết khi nào, và có bằng chứng gì để chứng minh rằng chữ này có nguồn gốc từ chữ kia, hoặc chữ này có trước chữ kia.
Tóm lại, theo thiển ý của tôi, chữ “cái” đứng trước và chữ “cái” đứng sau danh từ là hai chữ khác nhau. Do đó, chúng ta không thể so sánh chúng được, và càng không thể nói rằng xưa”cái” là chính, là lớn, nay “cái” là phụ là nhỏ” được.
2. Tác dụng của chữ “cái” khi đứng trước danh từ và tính từ
Bây giờ, xin đi đến hai trường hợp về chữ “cái” đứng ở trước danh từ và tính từ mà theo ông NHQ thì một có tác dụng “giáng cấp” và một “thăng cấp”. Trường hợp “giáng cấp” được trình bày như sau:
Một hậu quả khác của cuộc đảo chính trong ý nghĩa của từ “cái” là sự xuất hiện của từ “cái” như một từ chỉ xuất với ý nghĩa cảm thán hay chê trách, xỉa xói, bới móc, kiểu “cái thằng cha nọ” hay “cái con mẹ kia”. Có thể nói, từ tư cách danh từ chuyển sang tư cách loại từ, “cái” là một kẻ bị truất phế; từ tư cách loại từ chuyển sang tư cách một từ chỉ xuất, “cái” trở thành một thứ vũ khí để truất phế một người hay một sự vật nào đó. Nói “Nhà thơ mà anh gặp sáng nay…” khác hẳn với cách nói “Cái ông nhà thơ mà anh gặp sáng nay…” Khác, chủ yếu ở tình cảm của người nói: ở cách trước, có chút gì như tôn kính; ở cách sau, có chút gì như rẻ rúng. Các nhà thơ đã sớm biết tận dụng giá trị biểu cảm mới mẻ này. Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du dùng đến bảy lần chữ “cái” với ý nghĩa than oán, chẳng hạn trong câu:
Rằng: hồng nhan tự thuở xưa
Cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu?
hay:
Chém cha cái số hoa đào
Gỡ ra, rồi lại buộc vào như chơi.
Để ý đến tính chất cảm thán ấy của chữ “cái”, chúng ta dễ nắm bắt tâm trạng uất hận, đau đớn, day dứt, dằn vặt của Hồ Xuân Hương trong hai câu thơ nổi tiếng này:
Canh khuya văng vẳng trống canh dồn
Trơ cái hồng nhan với nước non.
“Hồng nhan” là một từ đẹp, nhưng khi đi liền sau chữ “cái”, nó lại biến thành một sự bẽ bàng. Nhất là khi “cái hồng nhan” ấy lại cứ trơ ra giữa trời đất.
Còn trường hợp “lên cấp”, theo NHQ:
May mắn là chữ “cái” không bị đẩy đến tận cùng sự trầm luân. Có lẽ, vào khoảng cuối thế kỷ XIX hay đầu thế kỷ XX, khi tiếp xúc nhiều với văn hoá Tây phương, một phần do nhu cầu dịch thuật, một phần do nhu cầu tự diễn đạt, người Việt Nam đã phải tìm cách tạo ra những từ mới để chỉ những khái niệm trừu tượng. Biện pháp tạo từ chủ yếu là dùng từ tố “cái” cộng với một tính từ hay danh từ nào đó, ví dụ: cái tài, cái tình, cái thiện, cái ác, cái đẹp, cái xấu, cái cao cả, v.v… Nhưng tại sao người ta lại nghĩ đến việc dùng chữ “cái”? Trước, trong những kết hợp tương tự, cha ông chúng ta vốn dùng chữ “chữ”, kiểu như Nguyễn Du viết, trong Truyện Kiều: “Chữ tài, chữ mệnh khéo là ghét nhau”, hay Nguyễn Công Trứ viết, trong một bài hát nói, “Chữ tình là chữ chi chi”. Khi chuyển từ chữ “chữ” qua chữ “cái”, hình như người ta chỉ giữ lại mấy từ cũ, chủ yếu là những từ liên quan đến các phạm trù đạo đức ngày xưa: “chữ trinh”, chữ “trung”, “chữ hiếu” và thỉnh thoảng, “chữ hoà”.
Theo thiển ý, thật khó mà phân biệt hai trường hợp, nếu không muốn nói rằng xét theo chức năng của chữ, cả hai đều giống nhau. Cả hai đều có tác dụng xác định, chỉ định một khái niệm hơi mơ hồ, không rõ nét, làm cho nó rõ hơn, mạnh hơn một chút. Với một danh từ đứng sau, nó làm cho danh từ đó rõ thêm, nó chỉ định rõ ràng: cái ông đó, cái bà đó. Với một tính từ đứng sau, nó làm cho tính từ đó nặng ký thêm: cái đẹp, cái xấu…. chứ không có khả năng làm thay đổi ý nghĩa của chữ đi sau nó.
Trước hết, cần thấy rằng việc để chữ “cái” trước một sự việc, một khái niệm trừu tượng đã được ông cha ta dùng từ xa xưa, chứ không phải đợi đến khi học hỏi của Tây phương mới biết dùng đến nó. Ðiển hình là Trịnh Kiểm với “cái trạng cải táng” đã nói ở trên, hay Nguyễn Công Trứ với:
Chém cha cái khó, chém cha cái khó
Khôn khéo mấy ai, xấu xa một nó
(Hàn nho phong vị phú)
Tang bồng hồ thỉ nam nhi trái
Cái công danh là cái nợ nần
(Nợ nam nhi)
Hay với Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều:
Cánh buồm bể hoạn mênh mang
Cái phong ba khéo cợt phường lợi danh
(Cung oán ngâm khúc)
Với Nguyễn Khuyến:
Ai xui con cuốc gọi vào hè
Cái nóng nung người nóng nóng ghê
Và chữ “cái” không hề hay không thể có tác dụng “truất phế” hay làm hạ giá trị của chữ đi sau nó. Hãy xét đến ba thí dụ của NHQ về tác dụng “truất phế” trên: “cái số hoa đào”, “cái điều bạc mệnh”, “cái hồng nhan”. Bỏ ba chữ “cái” đi trước những từ này, ta thấy rằng tự chúng đã là những từ thuộc loại… negative: số hoa đào, điều bạc mệnh, hồng nhan. Hồng nhan bạc mệnh, hồng nhan đa truân, những từ đó tự chúng đã có ý nghĩa không tốt, không hay, chứ chẳng phải vì chữ “cái” đi trước mà chúng biến thành không tốt. Hồng nhan với nghĩa đen có thể là một từ đẹp, nhưng với sự thông dụng về ý nghĩa của từ này, nhất là xuyên qua những tác phẩm của các nhà Nho khi xưa như Nguyễn Du, nó đã trở thành một từ không tốt từ lâu!
Và nếu đọc kỹ, thì ta thấy ngay rằng trong các thí dụ của NHQ, cái cảm giác chê trách, mỉa mai, cảm thán, đã có ngay từ trong những câu thơ trích dẫn, từ những chữ khác trong câu. Thí dụ, cái điều bạc mệnh theo tác giả thì “có chừa ai đâu”. Cái số hoa đào thì tác giả đòi “chém cha”. Cái hồng nhan thì lại bị “trơ” ra với nước non. Với những chữ tạo cảm giác mạnh như vậy (có chừa, chém cha, trơ), cộng thêm với cái ý nghĩa không tốt sẵn có ở chính chúng, những từ đi sau chữ “cái” trong các câu trên đã tự khoác lên mình cái áo rách bươm, chứ không phải chữ “cái” đã làm cho chúng từ tốt đẹp trở thành xấu xa như ông NHQ nghĩ.
Hãy xem vài thí dụ sau đây để thấy cảm giác của người đọc và xem chữ “cái” có hay không có tác dụng “truất phế”:
Cái thuở ban đầu lưu luyến ấy
Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên
(Thế Lữ)
Mây trắng ngang trời bay vẩn vơ
Ðời anh lưu lạc tự bao giờ
Ði đi… đi mãi nơi vô định
Tìm cái phi thường cái ước mơ
(Hàn Mặc Tử)
Người ta hơn tớ cái phong lưu
Tớ cũng hơn ai cái sự nghèo
(Tản Ðà)
Những “cái” ở trên, “cái thuở ban đầu”, “cái phi thường”, “cái ước mơ”, “cái phong lưu” cho ta cảm giác thế nào? Có khinh khi, rẻ rúng như “cái điều bạc mệnh”, “cái số hoa đào”, “cái hồng nhan” chăng? Hay là cảm giác êm ái, cao vời, đẹp đẽ? Ðó chẳng phải vì chữ “cái” chi cả . Ðó chỉ là vì từ những chữ đi sau chữ “cái”, từ những chữ khác trong câu mà ta có được những cảm giác đó.
Vậy, xin đừng đổ tội cho chữ “cái”. Ai dại mà “cái” phải mang?
© 2003 talawas