Đỗ Kh.
Cách đây 10 năm rồi, thế hệ “xác hoa tàn rơi trên báng súng”i ở trong nước, nghĩa là thế hệ của thời kỳ chiến tranh lần thứ nhì (Thanh Thảo, Trọng Tạo, Hoàng Hưng…) đã hô hào Thơ Việt Nam đến phiên đổi gác.
Nhưng thơ, nhất là Thơ Việt Nam, có lẽ là ù lì hơn các chiến sĩ nên khẩu lệnh này, nên cho đến giờ cái gọi là “Thơ trẻ” vẫn chưa thấy thi hành, như theo thói của nhà binh (“ở đâu khó, đó có… nhà thơ”).
Tình trạng hết ngập ngừng lại đến ngọ nguậy này hẳn không phải hoàn toàn là lỗi ở những người cầm bút cũ và mới. Thỉnh thoảng, như mới đây (bài của Phan Huyền Thư trên Tia Sáng số 3.2002), những người làm “thơ trẻ” thôi thậm thụt hay thẹn thùng mà than thở nghe thấy thành tiếng. “Ðến giờ là bao giờ?” nóng nảy.
Ở hải ngoại, nếu như theo các điều kiện khách quan thì khác hẳn. Ðiều kiện sáng tác, tiếp cận với các văn hóa lạ, điều kiện tìm hiểu và học tập đều thuận lợi hơn ở trong nước dù có đổi mới và mở cửa. Vậy, không có gì lạ khi “thơ trẻ” hiện hữu ở bên ngoài một cách dũng cảm và gần như là lấn át thi đàn. Thơ trẻ ở hải ngoại, phải nghĩ ngay đến Nguyên Sa, Du Tử Lê và Nguyễn Tất Nhiên (tuy trong ba người này thì hai đã về với mây trời trôi, Du Tử Lê vẫn sống và sáng tác hùng sáng tác mạnh, mỗi năm tổ chức một đại nhạc hội). Ðó là mới chỉ nói đến dòng thơ trữ tình, nhi nhô nổi loạn có Thanh Tâm Tuyền, trầm tư một chốn có Tô Thùy Yên! Nói tưởng là đùa nhưng vào những diễn đàn trên mạng của thanh thiếu niên Việt ở nước ngoài, đọc trao đổi, đọc “chat” của họ, rõ ràng là cuộc cách mạng của thơ tiền chiến đã bị bỏ qua, không còn lác đác thấy nai vàng ngơ ngác nữa mà đầy rẫy mô đen hiện đại áo nàng vàng, cổ cao ngóng và môi ngải ngực trầm tạ ơn em. Cho đến khi / những ống khói tàu / trên Phá Tam Giang / chiều mệt lả.
Thi ca do người viết “sinh” ra, nhưng “thành” là ở độc giả. Nó chỉ hiện hữu nơi người đọc (có nơi cũng cho rằng nó chỉ hiện hữu nơi… người ngâm!) Không có ai đọc thì thi ca cũng chỉ là con cóc không có công chúa nào hôn, nó ngồi đó và nhảy ra nhảy vô. Thơ có trẻ là ở người đọc chứ không ở người viết. Ba mươi năm như là một dấu ngoặc, trong quần chúng trẻ ở hải ngoại ngày hôm nay là thơ của thập niên 60, thập niên 70, có ganh tức đến cách nào thì đây vẫn là điều không thể chối cãi.
Ngôn ngữ Việt ở cộng đồng hải ngoại không phải là một vật thông dụng nữa mà vì hoàn cảnh của lưu vong trở thành một vật tế lễ, của gia bảo, hay nếu không linh
thiêng thì cũng là một album hình kỉ niệm. Lâu lâu giở ra chỉ cho các con xem, đây là bố mặc quân phục, đây là mẹ mặc áo dài đi học, còn đây là “Thơ trẻ”. Trong những tập hình này, hay trong một buổi ra mắt sách (“RMS”, theo ký hiệu dùng trên Internet) ngày hôm nay ở một ngoại ô Paris chẳng hạn, mẫu táo bạo nhất là mẫu áo dài hở cổ Trần Lệ Xuân ở trên người những thiếu phụ đã sắp sửa hưu non. Ðối với thế hệ các con của họ, nếu nói về phần Việt Nam, thì đây là mẫu “trẻ” nhất của bà già chịu chơi.
Người Québec ở Canada hiện nay còn dùng những từ tiếng Pháp của thế kỉ 17, bảo tồn tiếng Pháp của họ một cách kỹ lưỡng đến nỗi người Pháp ở trong nước nghe cũng thấy khó hiểu. Thơ Pháp “trẻ” của họ là ông La Fontaine hay ông Ronsard và kinh nghiệm đi trước này của họ cho ta thấy Nhã Ca: 300 năm nữa sẽ không có ai ở Bolsa khóc những “cơn đau đẻ thường xuyên” của bà vì nó sẽ trẻ mãi không già.
Như Ai-cập để lại cho văn minh nhân loại được xác ướp, tôi tiên đoán Little Saigon sẽ để lại cho thi ca Việt Nam nền thơ trẻ của 20 năm Việt Nam Cộng hòa. Nếu không có cộng đồng ở nước ngoài gìn giữ và nâng niu, hẳn nó đã biến mất. Nhưng nó vẫn sống, nhờ lau chùi vào những dịp hằng năm và vì vậy, mới len lỏi được trở về trong nước, lất phất trong cái Thơ trẻ ngày hôm nay ở Hà Nội, thành phố Hồ chí Minh. Trong lãnh vực bên cạnh Thơ là lãnh vực ca nhạc thì đã quá rõ, “Cô bé tóc đuôi gà” không phải chỉ là cháu của cái cô đeo giải yếm đàoii mà còn là con của cô Bắc kỳ nho nhỏ nào đó đã mịt mờ di tản Americaiii.
Như vậy thì cũng may là đã qua được một thế hệ, trọn một luân hồi. Thơ trẻ ở Việt Nam rồi sẽ đi lên được với những Ðan Trường mới, chỉ tội “Thơ trẻ” ở hải ngoại lỡ bị đóng khung nhang khói, trên bàn thờ không cục cựa được. Mà có đi thì biết đi đâu, như đã nói, thơ chỉ hiện hữu ở người đọc và nếu không có hoàng tử mở hội thì cô bé lọ lem chỉ có ở nhà mà giặt quần lót cho bà mẹ ghẻ. Ðó là phận của những người gọi là “viết ở nước ngoài sau 1975”, chỉ có “RMS” ((Ra Mắt Sách) mà chưa hề được đi dạ vũ.
Vũ Thành An khi ra đến nước ngoài, thấy 20 năm qua mọi người vẫn lải nhải ca từ cũ của 10 bài không tên, là một người nhanh thích ứng, ông nhận xét ngay là quần chúng này đang rủ nhau lục đục ngũ, lục tuần. Ông bèn làm lại ca từ mới và như vậy “Ðêm vỗ về nuôi nấng/Ðêm trao ngọt ngào hương phấn”iv không còn hợp hoàn cảnh, hợp thời nên trở thành “50 còn ngơ ngác”, tôi xin mượn để làm tựa.
1“Phiên Gác Ðêm Xuân”, Nguyễn văn Ðông
ii ở ngoài nước có bản nhại, “Hôm nay em vô nhà thương/Hoa cỏ còn mờ hơi sương/Bị đụng xe em táng đầu vô gương/Xe của em nát như là tương/Nhưng em vẫn khỏe như thường/Không đi làm nhưng vẫn được ăn lương…” Ðây là trường hợp hài hước có chủ ý nhưng còn biết bao trường hợp nghiêm trang mà nhai lại, chẳng riêng gì Nguyễn Nhược Pháp, và hài hước hoàn toàn vô tình.
iii Cao Ðông Khánh
iv “Buông lơi giòng tóc mở…”, Không tên số 8.