trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
13.10.2007
Tương Lai
Đôi điều suy ngẫm nhân bàn về chuyện “thương hiệu Việt Nam”
 

I. Điểm tựa lịch sử

Đi tìm “thương hiệu Việt Nam” phải chăng là đi tìm hình ảnh nổi bật về đất nước mình, để giới thiệu cho thế giới biết và hiểu mình, rồi thích và đến với mình. Vậy thì, một câu hỏi bật ra: thế giới đã biết gì về mình chưa? “Thương hiệu” để dân dụ chuyện mua và bán thì có thể chưa. Nhưng, hình ảnh Việt Nam thì nhiều người trên thế giới đã từng biết, thậm chí không chỉ biết, mà còn khâm phục và ngưỡng mộ. Đã có một thời, những tấm lòng bè bạn đã chân thành gọi Việt Nam là “lương tâm của thời đại”. Đây không chỉ là trạng huống thăng hoa của cảm xúc, mà là sự phát hiện ra và tự củng cố cho chính họ một giá trị mà thời đại của chủ nghĩa thực dân mới và chiến tranh lạnh đã xóa nhòa.

Hình như giờ đây ai đó có tâm lý e ngại không muốn nhắc đến hình ảnh đầy biểu cảm ấy vì thấy “ngường ngượng” thế nào! Cũng chẳng hiểu vì sao laị “ngượng”? Hay là “ngượng” vì chúng ta đã để mất cái từng là một “thương hiệu” vô giá, [nếu buộc phải chạy theo thời thượng để phải dùng thuật ngữ này ở đây]. “Thương hiệu” đó không phải do chúng ta đi tìm, nhưng là do thế giới tìm hộ và tặng cho ta. Mà họ “làm hộ” điều ấy, vì họ hiểu được xương máu của dân tộc ta đã đổ ra để đấu tranh bảo vệ một chân lý mang tính vĩnh cửu của con người, của mọi đất nước, của mọi dân tộc: mỗi dân tộc đều có quyền được sống trên đất nước của mình, và cần phải đánh trả những thế lực ngoại xâm bất kể chúng đến từ đâu để bảo vệ tổ quốc mình, thực hiện “những quyền không ai có thể xâm phạm được” do “tạo hóa” ban cho họ! Việt Nam chúng ta đã từng được thế giới biết đến như một dân tộc biết “đem đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy chí nhân mà thay cường bạo”, dám “lấy ít địch nhiều, lấy yếu chống mạnh” để vì thế mà đánh tan mọi thế lực ngoại xâm. Mà là thế lực ngoại xâm đáng sợ, luôn lớn mạnh gấp nhiều lần, có khả năng nuốt chửng một đất nước đất không rộng, người không đông. Là đế quốc Nguyên Mông từng khuynh loát thế giới ở thế kỷ XIII, vó ngựa xâm lược của chúng đã xéo nát và làm bằng địa nhiều vũng lãnh thổ quốc gia từ Á sang Âu. Là thế lực đế quốc của thế kỷ XX hiện đại vốn chưa hề nếm mùi thất bại.

Đó là lịch sử, không hề là một huyễn tưởng. Một sự thật hai năm rõ mười, không chỉ diễn ra đột xuất, ngẫu nhiên một lần, mà chí ít cũng là bốn lần ở các thế kỷ XII, XV, XVII và XX. Đấy là chưa nói đến dân tộc ấy đã từng bị nhấn chìm trong đêm dài trung cổ của ách Bắc thuộc tàn bạo cố sức đồng hóa để tiêu diệt tận gốc ý chí đề kháng, song dân tộc ấy vẫn vùng dậy đòi quyền độc lập và tự chủ với cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng. Không ngạo mạn một cách vô lối, song phải dám nói rằng, không phải dân tộc nào trên trái đất cũng có một lịch sử như thế để cho thế giới biết đến.

Khi mà bom đạn trút xuống đất nước này gấp bao lần bom đạn được sử dụng trong thế chiến thứ nhất và thứ hai mà vẫn không khuất phục được một dân tộc đang nằm trong thế kẹt địa-chính trị giữa thế kỷ XX, thì danh hiệu “lương tâm thời đại” mà những người có lương tri trên thế giới tặng cho Việt Nam là có lý do. Họ muốn thức dậy lương tâm, lương tri của loài người, để không lẫn lộn những giá trị có ý nghĩa phổ quát toàn nhân loại, không lẫn lộn giữa chính nghĩa và phi nghĩa, lẫn lộn giữa cuộc chiến tranh chống ngoại xâm để cứu nước và giữ nước, với cuộc chiến tranh xâm lược mà “Hội chứng Việt Nam” vẫn còn chi phối đời sống của một siêu cường lại muốn khuynh loát thế giới.

Đôi khi, người ngoài cuộc lại có con mắt tinh đời, nhìn ra điều mà chính chúng ta có khi chưa thấy ra hoặc thấy chưa thật rõ. Một học giả Pháp trong một hội thảo khoa học tại Hà Nội năm 1991 về “Truyền thống và Hiện đại” đưa ra nhận xét: “Lịch sử cổ xưa và hiện đại cho thấy khả nằng kỳ lạ của đất nước này trong việc tìm ra những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”. “Những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải”, những “khả nằng kỳ lạ” ấy không hề là sản phẩm của sự ngẫu hứng cầu may. Mà là kết quả của cả bề dày tích lũy và tạo dựng trong cả chiều dài lịch sử. Chính bề dày đó đã hun đúc nên “vùng đất có sức sống mãnh liệt nhất” mà nhà ngoại giao Mỹ cảm nhận và nói lên trong dịp diễn ra APEC Hà Nội 2006. Điều này có ngọn nguồn hợp quy luật của nó. Nhà sử học người Anh, Arnold Toynbee, được xem là nhà sử học lớn nhất của thế kỷ XX, đã từng chỉ ra: “thành công của con người thường là kết quả sự chống trả đối với thách thức. Thiên nhiên phải đến với con người như một khó khăn cần phải vượt qua nếu con người chọi lại thách thức thì sự chống trả của nó tạo những nền tảng cho nền văn minh của họ”. Phải chăng đất nước này là một minh chứng cho luận điểm đó? Những nhận xét của người Pháp ấy, người Mỹ ấy, người Anh ấy… đâu phải là vu vơ có tính ngẫu nhiên mang dáng dâp những cảm tính nhất thời.

Đối chiếu với lịch sử, từ những gợi ý của những người ngoài cuộc, chúng ta hiểu hơn về mình, hiểu về ông cha mình. Từ đó mà thấu hiểu cái sức mạnh văn hóa Việt Nam, dòng máu đỏ lưu chảy mãnh liệt trong huyết quản người Việt chúng ta. Để làm gì?

Để dám tự hào và biết tự hào về dân tộc mình khi mà lòng tự hào ấy hình như phần nào bị chìm đi trước những bề bộn, ngổn ngang những quảng cáo bắt mắt và đầy kích động của một thương trường rộn rã và hấp dẫn, trong đó thật có giả có, đang tác động dữ dội đến đời sống xã hội ta, đặc biệt là tác động đến lớp trẻ. Một lớp trẻ giàu sức sống, tiềp thu nhanh những thành tựu của nền văn minh hiện đại thế kỷ XXI nhưng trong họ, không ít người quên lịch sử. Không phải chỉ là chuyện những điểm thi lịch sử thê thảm vừa qua và nguy cơ “ban C” bị ế, có khi cần “xóa sổ”. Cần phải thấy ra ở đấy những hệ lụy đau đớn của cả một thời đoạn không ngắn của nhận thức rất thiếu chính xác về khoa học xã hội. Trong đó có chuyện đồng nhất chính trị với khoa học xã hội đã dẫn đến không ít những cách thiếu sòng phẳng và minh bạch với lịch sử. Cái giá phải trả cho chuyện này rất đắt, trong đó điểm thi lịch sử chỉ là một biểu hiện dễ thấy. Còn có nhiều cái khó thấy hơn nhiều cần phải dũng cảm vạch ra và phân tích thấu đáo mới tìm ra được giải pháp. Bởi lẽ, trên con đường vạn dặm của sự nghiệp chấn hưng văn hóa, phát triển đất nước trong bối cảnh thế giới đầy biến động với những bất ngờ không đoán trước đựơc, lịch sử dân tộc là một điểm tựa vững chắc cho những bước chân tìm tòi, khám phá.

Bởi lẽ, “lịch sử là một thành phần mà thiếu nó thì không một ý thức dân tộc nào đứng vững được. Và nếu không có ý thức đó thì sẽ không thể có nền văn hóa độc đáo, không thể có nền văn minh thật sự” (Fernand Braudel). Lịch sử dân tộc đã hun đúc nên lòng tự hào dân tộc, đó là nguồn sức mạnh để con người Việt Nam đến với thế giới. Trong hành trang hội nhập, chúng ta có thể vẫn đang thiếu rất nhiều thứ, nhưng có một thứ không thể thiếu mà có khi nhiều người chưa thấy, hoặc thấy chưa đủ, chưa rõ, chính là điều vừa nói. Dòng sông cuộc sống đang miệt mài tuôn chảy không theo trình tự tuyến tính mà luôn nảy sinh những nhân tố bất ngờ, hình thành những tương tác mới, tạo ra những hợp trội không dự báo trước được. Trong dòng chảy miệt mài ấy, những kinh nghiệm có sẵn, những phương pháp truyền thống đã không còn đủ cho hành trình của dân tộc trên con đường phát triển và hội nhập, song cái mang tính vĩnh cửu, cần được bổ sung và làm phong phú thêm chứ không hề cũ và không gì thay thế được, cái làm nên sức cuộn chảy bất tận của dòng sông cuộc sống, đó là bản lĩnh của dân tộc. Phải chăng, đi tìm “thương hiệu Việt Nam” cũng phải tìm từ sức cuộn chảy bất tận ấy?

Gợi lại lịch sử không phải để đắm chìm đắm vào quá khứ, mượn hào quang của quá khứ để đắp đổi cho những yếu kém của hiện tại, mà là để cho ánh phản chiếu của lịch sử soi tỏ những bước đi hôm nay. Nghĩ rằng đã từng giành thắng lợi trên chiến trường xưa, thì cũng chắc chắn thành công trên thương trường của thời đại toàn cầu hóa hôm nay là một ngộ nhận. Nhưng không thấy cái bản lĩnh được rèn luyện thử thách trong máu lửa của một dân tộc từng được khẳng định nay phải tìm cách phát huy, nâng cao để thích nghi với những thách đố mới, lại là sự dại dột của một tầm nhìn thiển cận, tự đánh mất mình.

II. Đã từng có những giải pháp Việt Nam

Đi tìm thương hiệu Việt Nam phải chăng là một trong những cách tìm giải pháp phát triển đất nước có hiệu quả nhất trong bối cảnh mới của thế giới, một giải pháp cho Việt Nam. Ai đó nói rất đúng, một giải pháp cho Việt Nam phải là một giải pháp Việt Nam, chỉ của Việt Nam, nếu không thế thì không phải là giải pháp. Giải pháp Việt Nam phải thể hiện được sự thông tuệ của con người Việt Nam trong việc phát huy truyền thống dân tộc, bản sắc văn hóa và tinh hoa của thời đại được vận dụng một cách có hiệu quả và sáng tạo vào điều kiện Việt Nam.

Đó là điều kiện thiên nhiên miền nhiệt đới gió mùa nhìn thẳng ra Biển Đông, đó là điều kiện của một bán đảo nằm giữa ngả ba giao lưu quốc tế nối liền Ấn Độ Dương với Thái Bình Dương đòi hỏi và rèn luyện cho con người Việt Nam bản lĩnh “có cứng mới đứng được đầu gió”. Mà là gió đại dương, vừa hiền hòa vừa hung dữ từ biển tràn đến hòa cùng với cái gió “lục địa” không mấy dễ chịu của một vùng lãnh thổ nằm trong thế kẹt điạ-chính trị, khiến cho đứa trẻ còn nằm trong nôi đã phải nghe tiếng vó ngựa ngoại xâm. Cái thề kẹt ấy buộc cậu bé làng Gióng phải lớn vụt lên để kịp đánh giặc cứu làng, cứu nước. Xét đến cùng, đó chính là bản lĩnh văn hóa, mà nếu không có nó, sẽ không thể có non sông đất nước liền một dải của ngày hôm nay từ mũi Lũng Cú Hà Giang “tứ bê sóng núi”, đến tít tắp miền đất Mũi, nơi “ngón chân cái của tổ quốc chưa khô bùn vạn dặm”.

Bản lĩnh của một dân tộc “vốn xưng văn hiến đã lâu” in đậm trên hành xử của dân tộc ấy trong suốt chiều dài tồn tại và phát triển của đất nước này. Phải bằng cái chiều sâu và sức nặng văn hóa đó mà đến với thế giới. Liệu có phải cái bản lĩnh văn hóa của truyền thống dân tộc ấy chính là cái “lôgô” nổi bật của “thương hiệu Việt Nam” khi đất nước dấn bước vào tiến trình hội nhập? Bản lĩnh văn hóa ấy không hề trừu tượng, mà nó thấm đẫm trong đời sống Việt Nam. Những tâm hồn Việt Nam không lai căng mất gốc đều có thể cảm nhận được.

Thì đây kia, những “lốt chân ngựa Thánh Gióng” vẫn còn nguyên trên cánh đồng vùng Quế Võ, Bắc Ninh. Mà đâu chỉ có lốt chân ngựa Thành Gióng. Vẫn sừng sững 99 ngọn đồi, cộng thêm một để chẵn trăm, nơi vùng đất thiêng Đền Hùng Phú Thọ. Ở đấy, lời răn dạy, nhắn nhủ của ông cha đã được tạc vào thế núi. Đó là hình ảnh một ngọn đồi, tương truyền là con voi bị chặt đầu vì tội lìa đàn, đổi hướng. “Voi phản bội” phải đứng tách khỏi hẳn với 99 ngọn đồi, tương truyền là những “voi chung thủy”. Lời cảnh báo thật là dữ dội. Trên từng ngọn núi, khúc sông, trong những ngôi đến cổ, dưới những ngôi chùa làng, những mái tranh nghèo đều ấp ủ những lời nhắn gửi của cha ông được ký thác vào trong những tranh tượng thờ, những bia ký, những hoành phi, câu đối, những đường nét chạm trổ hoa văn.

Đấy chính là văn hóa, là chiều sâu văn hóa mà âm mưu thâm hiểm, độc địa nhằm tiêu diệt văn hóa không thể thực hiện, cho dù “phàm An Nam có tất thảy các sách vở gì, kể cả các câu lý dân gian, các sách dạy trẻ, và tất cả các bia mà xứ ấy dựng lên, thì một mảnh, một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại” theo chịếu chỉ của Minh Thành tổ gửi cho viên tướng viễn chinh Chu Năng ngày 16 tháng 5 năm 1407! Truyền thuyết “Thánh Gióng” chính là khát vọng sống của một dân tộc không chịu khuất phục, quyết chống trả lại sức ép thường trực từ bên ngoài. Khát vọng ấy hun đúc nên bản lĩnh văn hóa Việt Nam. Tạo dựng nên nền văn hóa của mình, con người Việt Nam lại tựa vào chính sức mạnh văn hóa ấy mà đi tới. “Con người nhìn ngắm bản thân mình trong sản phẩm do mình tạo ra”, ý tưởng đó của C. Mác giúp ta nhận thức về chiều sâu và sức nặng của văn hóa Việt Nam, hành trang đáng kể nhất và quyết định nhất của con ngừoi Việt Nam trên con đường hội nhập. Để mất văn hóa cũng có nghĩa là mất tất cả, cho dù có được về kinh tế, thì rồi sự phát triển ấy cũng chẳng bền.

Vậy thì ta đang và nên lựa chọn cái gì? Lựa chọn “thương hiệu” hay lựa chọn giải pháp phát triển? Con thuyền đất nước đã vượt qua quãng nước lợ pha vị mặn ở đầu cửa sông, khởi đầu một vòng lượn ngoạn mục ở khúc quanh của dòng chảy hướng ra biển với sự kiện Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO. Nhân bàn về sự kiện gia nhập WTO như một bước ngoặt lớn của lịch sử, giáo sư sử học Phan Huy Lê cho rằng, “đây là thời cơ lớn cho chúng ta, nói là phục hưng cũng đúng. Nhưng sự phục hưng này diễn ra trong bối cảnh toàn cầu hóa sẽ rộng hơn phục hưng của nước Ý trước đây”. Chính vì thế ông đã phân tích về ý nghĩa của “sự kiện WTO” như là một cột mốc của “sự thay đổi cá tính dân tộc”. Cá tính lại là vấn đề văn hóa, là sự chọn lựa văn hóa. Vì thế, nhà văn Nguyên Ngọc lưu ý rằng: “trước hết không phải là chuyện kinh tế mà là chuyện văn hóa, một chuyển động về văn hóa và tư tưởng, có khi sâu sắc nhất xưa nay, một thay đổi trong tâm lý dân tộc, tâm lý “sợ biển”!

Bao đời đứng trước biển, mà sao cái “tâm thế lục địa” vẫn lấn át “cảm hứng đại dương”. Đã đành dựa vào sự cấu tạo hình thể của thế liên hoàn núi sông để mở nước là một sự ràng buộc khách quan của lịch sử. Song ra đến mép nước của Thái Bình Dương mà vẫn không có được cái can trường xông pha sóng nước, không có được những đội thương thuyền vượt đại dương thì quả là “có vấn đề”!

Càng ngẫm nghĩ càng thấy vấn đề ấy lớn thật, khi mà con thuyền đất nước đã đang giương buồm thời đại, đón gió đại dương, vượt lên sóng cả, hướng tới một chân trời đang mở rộng. Có chuyện chi đây trong tâm thức của người Việt Nam chúng ta? Tại sao đã dám khẳng định “có cứng mới đứng đầu gió”, và cũng đã mấy nghìn năm “đứng đầu gió” như vậy, nhưng lại bị cái khung tư duy “ao nhà” thít chặt đầu óc, không dám mở cửa, không dám vươn xa sợ “say sóng”, đành tự nhốt mình trong bảo thủ và ươn hèn, “ta về ta tắm ao ta, dù trong dù đục ao nhà đã quen”. Cái “đã quen” này đã dìm chết mọi khát vọng, dập tắt mọi tìm tòi sáng tạo, bỏ lỡ bao thời cơ để đưa đất nước bứt lên. Khi thời cơ đến thì không dám táo bạo nắm lấy bởi thái độ dùng dằng kiểu “quân tử Tầu”, “đi thì cũng dở, ở không xong”, nên đành lựa một cách thế nửa vời “bước đi một bước, giây giây lại dừng” trong tiến trình đổ mới nơi này, nơi khác, để rồi phải đứng vào vị trí áp chót trong cuộc chạy đua khu vực và toàn câu hôm nay. Thế mà ngẫm nghĩ kỹ, đâu có phải chỉ bây giờ ta mới biết vươn ra biển. Ông cha ta đã từng có những lựa chọn chiến lược tầm cỡ, từng có những “giải pháp Việt Nam”, có vậy mới có non sông liền một dải hôm nay.

Hãy chỉ nói đến hai chọn lựa cực kỳ thông minh, đẩy tới những bước ngoặt trong lịch sử dân tộc. Sự chọn lựa lần thứ nhất là ở cuối thiên niên kỷ thứ nhât, đầu thiên niên kỷ thứ hai, ngẫm nghĩ kỹ, đấy chính là một giải pháp Việt Nam, giải pháp cho Việt Nam lúc ấy. Đấy là lúc mà ông cha ta dám từ bỏ cái gốc văn hóa Đông Nam Á, tuy uyển chuyển và mềm dẻo, song phân tán, không đủ mạnh để chống trả sự bành trướng của thế lực Hán hóa. Vì thế, phải dám tiếp nhận nền “văn hóa Hán hóa” đó, nhằm tạo ra một nhà nước mạnh khả dĩ có thể chống chọi lại với họa xâm lược đến từ một nước khổng lồ của chính nền văn hóa Hán đó!

Sự lựa chọn thứ hai: chọn lựa Nam tiến, khởi đầu từ Nguyễn Hoàng vào giữa thiên niên kỷ sau, một giải pháp Việt Nam tuyệt vời, mà nếu không có nó, sẽ không có Việt Nam ngày nay. Đó là chọn lựa “phi Hán hóa”, trở về cái “gốc Nam” của mình, phát huy sáng tạo gợi ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”, xuôi về phương Nam mở nước. Đây là cách vừa cứng theo lối Hán, vừa mềm theo lối Việt, nhằm tạo nên một sức mạnh uyển chuyển rất độc đáo và hiệu quả, một lực gia tốc phát triển kỳ lạ. Lùi xa “cương vực” về phía Nam, từ đèo Hải Vân đến Hà Tiên, hình thành một quốc gia lớn mạnh nhờ thoát ra khỏi cái xiềng “nông vi bản”, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, phát triển nghề buôn, chú ý đến ngoại thương.

Năm 1618, giáo sĩ Bori đã nhận xét “Hải cảng đẹp nhất (Đàng Trong), nơi mà thương nhân ngoại quốc thường lui tới buôn bán là hải cảng thuộc tỉnh Cacciam (Quảng Nam)… thành phố đó (Hội An) lớn lắm, đến nổi người ta có thể nói có hai th trấn: một của ngừoi Trung Quốc, một của người Nhật Bản”. Giáo sĩ Bandinoti kể lại: “Chúa tiếp đãi chúng tôi rất niềm nở… Sở dĩ chúa ban cho các đặc ân như vậy hình như là vì chúa mong cho người Bồ Đào Nha luôn luôn qua lại buôn bán để cả nước và chúa đều có lợi”. Trong sách Phủ biên tạp lục, Lê Quý Đôn ghi lại nhận xét của một lái buôn Trung Quốc: “Xứ Quảng Nam thì đủ trăm thứ hóa vật, không có nơi nào sánh kịp… đến hàng trăm chiếc thuyền lớn chuyên chở một lúc cũng không hết”. Đó là thành quả của giải pháp chiến lược: mở nước về phía nam.

Là giải pháp chiến lược thể hiện một quyết tâm chính trị, một bản lĩnh văn hóa. Bởi vì, theo giáo sư Cao Huy Thuần, giáo sư đại học Pháp, nguyên Giám đốc Trung tâm nghiên cứu về Cộng đồng Âu châu tại Đại học Picardi, thì “Học gì ở người xưa trong vị thế giữa đất và biển? Mãi mãi lệ thuộc vào “vùng ảnh hưởng” của đất? Hay nhắm biển, Nam tiến để mở rộng tư do? Nam tiến là gì, nếu không phải là dời xa vùng ảnh hưởng? Nếu không phải là kéo dài lục địa để tiến về phía biển, tiến sâu vào châu Á hải đảo. “Vạn đại dung thân” là gì, nếu không phải là thấy chiến lược bừng sáng trong đầu về một chân trời mới mở rộng ra trước mắt, không phải cho một đời Nguyễn Hoàng, mà cho ngàn ngàn đời một dân tộc thường xuyên đi tìm lối thoát khỏi một vị thế địa dư trứng nằm dưới đá?

Cái đầu óc mới đó về chiến lược trường kỳ, chính là cái ngày hôm nay chúng ta phải tiếp thu. Bờ cõi đã giải quyết xong, dân cư đã ổn định… Phải có một dãy Hoành Sơn trong cái đầu để luôn luôn nhắc nhủ rằng hãy bắt chước cách Nguyễn Hoàng lưu luyến nhà Lê để lưu luyến thành khẩn như vậy với ‘vùng ảnh hưởng’ đã cắt đứt rong đầu. Lưu luyến trong khôn khéo ngoại giao, cắt đứt trong tư tưởng”. Và ông kết luận “Nam tiến, chính là phải dẹp bỏ cái thế bị động thường xuyên để quan hệ ưu tiên không đưa đến thừong xuyên nhượng bộ. Không có cách nào tránh khỏi nhượng bộ nếu ta không chủ động đi trước…Nam tiến ngày nay là Nam tiến trong đầu óc. Trong tư duy.[1]

Học bài học của ông cha, hiểu ra được rằng, bất kỳ tình huống nào, thậm chí có khi tưởng như bế tắc, song nếu có một bản lĩnh dám nghĩ và dám hành động, thì vẫn tìm ra được lôi thoát, đúng hơn, tìm ra giải pháp. Đó là bài học về lựa chọn cách phát triển, tìm ra con đường phát triển của Việt Nam, giải pháp Việt Nam:

Đó là giải pháp của Khúc Hạo thực hiện một cuộc cải cách về nhiều mặt nhằm xây dựng một quốc gia độc lập, tự chủ, thoát dần ảnh hưởng và sự khống chế của các thế lực thống trị phương Bắc, “chính sự cốt chuộng khoan dung giản dị”. Đó là giải pháp Lý Thường Kiệt mà Việt điện u linh tập ghi: “ngồi yên đợi giặc không bằng đem quân ra trước để chặn mũi nhọn của giặc”, từ trận tập kích Ung Châu kết thúc sau 42 ngày bẻ gãy ý chí xâm lược, đẩy kẻ thù vào thế bị động cho đến chiến thắng Như Nguyệt hai năm sau, năm 1077, đè bẹp hoàn toàn ý chí xâm lược ấy, Lý Thường Kiệt đưa ra đề nghị giảng hòa. “Văn bia chùa Linh Xứng” của sư Pháp Bảo đời Lý đã chép: “dùng biện sĩ bàn hòa, không nhọc tướng tá, khỏi tốn xương máu mà bảo toàn được tôn miếu”. Cách “vừa đánh vừa đàm” ấy đã đưa đến bản “Tuyên ngôn Độc lập” lần thứ nhất vào thế kỷ XI với bài thơ “thần” “Nam quốc Sơn hà”.

Đó cũng là giải pháp Trần Hưng Đạo và các vua Trần với hào khí Đông A ngút trời nhưng lại ba lần bỏ ngỏ Thăng Long nhằm tránh đương đầu với thế mạnh của địch, để tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, uyển chuyển và linh hoạt, tập trung lực lượng chọn đúng những mũi tiến công chiến lược để cuối cùng ba lần năm 1258, năm1285,năm 1288 đánh tan những đạo quân xâm lược của một đế chế từng kiểm soát một vùng lãnh thổ rộng lớn trải dài từ bờ Thái Bình Dương đến bên kia Hắc Hải chưa hề có trong lịch sử thế giới. Với đòn tiến công chiến lược trên sông Bạch Đằng của Trần Hưng Đạo ngày 9 tháng 3 năm 1288 để kết thúc cuộc kháng chiến chống giặc Nguyên-Mông dường như lặp lại trận quyết chiến chiến lược trên sông Như Nguyệt của Lý Thường Kiệt mùa xuân 1077 đập tan quân xâm lược nhà Tống. Cùng một ý chí và bản lĩnh, song sự vận dụng và cách triển khai thì công và thủ đều có những nét uyển chuyển rất khác nhau tùy theo điều kiện cụ thể của thế và lực. Chính đó là sự hình thành một cách sáng tạo giải pháp Việt Nam. Nếu kể đến giải pháp Việt Nam thời Lê Lợi, Nguyễn Trãi, thời Quang Trung Nguyễn Huệ cho đến giải pháp Việt Nam trong các cuộc chiến tranh giữ nước, chống lại mọi thế lực ngoại xâm trong thế kỷ XX của thời đại Hồ Chí Minh sẽ càng thấy nổi rõ lên điều đó.

Hãy chỉ nói riêng một cách ứng xử làm sao vừa thực hiện được tính độc lập và sáng tạo trong quyết tâm chính trị giải phóng hoàn toàn đất nước, thống nhất tổ quốc lại vừa dàn xếp được những bất đồng, tranh thủ sự ủng hộ to lớn của các nước anh em, tuy vẫn có những toan tính không hoàn toàn trùng khớp với mục tiêu của dân tộc đang đổ máu vì mục tiêu đó. Không có một đường lối chính trị vừa kiên định vừa mềm dẻo uyển chuyển ngay với các nước anh em đang là chỗ dựa trong chiến đấu của mình, không thể có được sự kết thúc trọn vẹn sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất tổ quốc. Đó chính là một biểu hiện sinh động của một giải pháp Việt Nam tuyệt vời trong thế kỷ XX.

Những “giải pháp Việt Nam” ấy có gợi lên những mối suy tư nào cho việc tìm kiếm “thương hiệu Việt Nam” trong một chặng đường mới chưa có bản đồ hay không?

III. Thương hiệu Việt Nam

Chính giữa thủ đô Bangkok của Thái Lan, tại giao lộ Prachanukhun ở quận Chatuchak có trương một tấm biển như biển quảng cáo rất lớn với dòng chữ “Hôm qua, Việt Nam bắt đầu chập chững… Hôm nay, họ sẽ vượt lên chúng ta. Đừng đợi đến cái ngày ấy. Chung lòng hợp sức xây dựng nước Thái”. Họ quảng cáo “thương hiệu Việt Nam” hộ cho ta chăng? Điều ấy có thể nằm ngoài chủ ý của người trương biển để cảnh tỉnh người Thái, họ muốn giục giã những công dân của họ nâng cao ý chí phấn đấu vì hình ảnh của đất nước họ. Vậy mà thu nhập theo đầu người của ta năm 1986 kém Thái Lan 997 USD và năm 2006 kém 2140 USD! Cho đến nay, cũng là nước thu hút mạnh FDI, nhưng đừng quên rằng, theo quan sát xếp hạng thì công nghệ tại một xí nghiệp của Thái Lan là công nghệ loại hai, trong lúc với xí nghiệp của ta là công nghệ loại ba, loại bốn! Trên các sạp hàng hoa quả ở chợ, thanh long, xoài, nhãn, ổi, dưa hấu… của Thái Lan bày bán nhan nhãn và được nhiều người chọn mua vì chất lượng khá vượt trội của chúng. Nghe đâu, họ biết cách lai tạo, cấy ghép và vận dụng khoa học và công nghệ hiện đại vào trong sản xuất và chế biến để tạo ra sức cạnh tranh và giá trị của mặt hàng xuất khẩu. Ấy thế mà họ đã phải báo động cho sự tụt hậu của nước họ khi họ lo về Việt Nam đang trỗi dậy, mặc dù kinh tế của Việt nam vẫn chưa vượt ra khỏi nhóm ASEAN 4 (Việt Nam, Lào, Campuchia, Mianma). Vậy thì có cái lý chi đây?

Trước hết, chúng ta phải học sự nhạy cảm của những người đã có những kinh nghiệm thành công về kinh tế, họ không ngủ yên trên những thành công của họ, không gậm nhấm quá khứ để ru ngủ một hiện tại buồn của sự tụt hậu kinh tế. Và rồi, “Có những đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi đã nghe về các bạn qua lịch sử, văn hóa lâu đời, những cuộc chiến ranh oanh liệt, và đặc biệt, là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh”, nhận xét ấy của “huyền thoại marketing thế giới” Philip Kotler là một trong những cái lý ấy chăng?

Tự lên dây cót cho mình bằng những ánh hào quang đã qua để không cảm nhận đủ cái nhục của nghèo nàn và lạc hậu trong thân phận những nước độc lập, có chủ quyền nhưng vì sự nghèo và lạc hậu đó mà không thể có tiếng nói có trọng lượng và bình đẳng được người ta lắng nghe trên trường quốc tế là một điều đáng trách. Vì sao mà năm y tá người Bulgari và một bác sĩ người Palestin được cứu thoát khỏi nhà tù với án tử hình ở Lybie nhờ sự dư luận mạnh mẽ của thế giới và sự vào cuộc của những cường quốc, rồi sự kiện giải thoát con tin Hàn quốc khỏi lực lượng Taliban làm khuấy động trái tim của thế giới, trong khi 9 ngư dân của ta bị giết trên Biển Đông mà vì lẽ gì thế giới không lên tiếng, để hiện tượng ấy lại tái diễn vào tháng 7.2007 chẳng phải là điều đáng suy nghĩ sao?

Song cũng đáng trách không kém khi, vì vị thế chạy áp chót trong cuộc đua tranh toàn cầu về phát triển, trước hết là kinh tế mà tự đánh mất mình, đánh mất luôn những cái mà mình đã tạo dựng được trong ánh mắt của bè bạn trên thế giới, mà đáng ra, phải từ cái thế mạnh đó mà tự tin đi tới. Có nghe theo lời khuyên để Việt Nam trở thành “bếp ăn của thế giới” mà Philip Kotler gợi ra hay không, thì e cũng chớ quá nhẹ dạ thiếu cân nhắc. Song lời cảnh báo của ông, một trong bốn cây đại thụ về kinh nghiệm và kiến thức về quản trị kinh doanh của thế giới hiện đại, thì rất cần phải lưu ý: “nguy hiểm và dễ gây ‘đột tử’ nhất là quan niệm của các doanh nghiệp thích tung ra cái mới cho dù chưa phải là cái tốt nhất… Vấn đề là phải chiếm thị phần trong trái tim khách hàng”. Theo ông, cần có chính sách tiếp thị ở tầm quốc gia, huy động được những mặt mạnh nhất của “thương hiệu Việt Nam” trong cuộc “xanh hóa đại dương” chứ không phải là “nhuộm đỏ” đại dương”. Nghĩa là không phải là cuộc cạnh tranh ai thắng ai một mất một còn, mà là cùng thắng. Điều này phù hợp với lý thuyết phát triển hiện đại.

Phát triển luôn luôn là tự phát triển trong tiến trình tiến hóa tạo nên những thuộc tính hợp trội, được thực hiện bằng các cơ chế thích nghi qua sự tương tác của hệ thống, không chỉ biểu hiện bằng cạnh tranh sinh tồn và chọn lọc tự nhiên, mà còn bằng hợp tác và cùng phát triển. Xã hội của con người là một hệ thích nghi cực kỳ phức tạp, trong đó, các thành phần khác nhau, những yếu tố đối lập, tùy theo sức hút của mục tiêu chung đều có lợi cho tất cả, thì không nhất thiết phải đối đầu theo kiểu tư duy “ai thắng ai”, dẫn đến một kết cục phải thanh toán lẫn nhau để giành quyền thắng, mà thông qua những tương tác có tính hợp trội còn có thể tìm được khả năng cùng thắng.

Vậy thì huy động mặt mạnh nhất của “thương hiệu Việt Nam” là mặt mạnh nào? Để định vị cho “thương hiệu Việt Nam” trong cuộc cạnh tranh mới trên thương trường của thời đại toàn cầu hóa đương nhiên đòi hỏi một lộ trình có bài bản từ cấp hoạch định chiến lược quốc gia, cả bộ máy Nhà nước và hệ thống chính trị cho đến các doanh nghiệp, từng doanh nhân, đến tận người sản xuất làm ra hạt gạo, con cá. Cần nhớ rằng, sát cạnh ta, Trung Quốc đang trở thành “công xưởng của thế giới” được xem như là sự kiện kinh tế quan trọng nhất trên thế giới kể từ cuộc cách mạng công nghiệp khởi đầu từ cuối thế kỷ XVII. Có tới 70% đến 80% “know how” công nghệ thuộc loại hiện đại nhất mà Trung Quốc đang sở hữu như công nghệ vũ trụ, tin học, hạt nhân… đều do những trí thức Trung Quốc sống ở nước ngoài đem về hoặc họ trở về làm trong nước. Ngay như Campuchia, tăng trưởng GDP bình quân trong ba năm qua là cao hơn ta: 11,4% và chỉ số lạm phát là 4,7% năm 2006 theo IMF. Vậy mà chỉ lùi đến hết thập kỷ trước, nền kinh tế nước này chỉ tăng khoảng 5% và lạm phát hai con số. Gợi lên những số liệu này chỉ để nói rằng, không tự nghiêm khắc, thực sự cầu thị, thì lộ trình nói trên khó mà thực hiện được.

Thế nhưng, lực khởi động và điểm xuất phát của “chính sách tiếp thị ở tầm quốc gia” ấy là gì, nếu không phải là phục hồi lại hình ảnh của Việt Nam vốn đã từng gây ấn tượng mạnh mẽ trong nhân dân thế giới. và nhiều nhà lãnh đạo, những nhân sĩ trí thức có tên tuổi của thế giới từng biết đến Việt Nam, đến với Việt Nam. Liệu đấy có phải là mặt mạnh nhất của Việt Nam đã từng tác động đến lương tâm, lương tri của thế giới, cái đó bị phôi pha dần vì sự tụt hậu về kinh tế của Việt Nam trong khi các nước cùng một điều kiện ở bước xuất phát như ta, thậm chí kém ta năm 1975, đã bứt lên trở thành một nước công nghiệp.

Để làm được điều đó, phải dám có một thái độ phản tỉnh, thực sự cầu thị trong việc “khai dân trí, chấn dân khí” làm hậu thuẫn cho ý chí dám nhìn thẳng vào sự thật và nói đúng sự thật theo tinh thần của Đại hội VI, nhờ đó mà khởi động được sự nghiệp Đổi mới. Dám nhìn thẳng vào sự thật để phân tích một cách khách quan, với thái độ trung thực và thẳng thắn những nguyên nhân dẫn đến yếu kém, khiến nước ta từ đỉnh cao chiến thắng trở thành nước chậm phát triển. Như thế có nghĩa là, “phục hồi lại hình ảnh Việt Nam trong lòng nhân dân thế giới” không phải để tìm liều thuốc an thần từ hào quang của quá khứ, “mượn y phục của người xưa để hiện ra trên sân khấu mới của lịch sử” như C. Mác đã từng phê phán, mà là lấy lại dũng khí trong bản lĩnh Việt Nam truyền thống để tiếp thêm nghị lực cho cuộc chiến đấu mới không kém phần cam go hôm nay.

Có những công việc gần giống nhau, song không thể đồng nhất việc tiếp thị và quảng bá thương hiệu của một công ty, một sản phẩm với việc xây dựng “thương hiệu Việt Nam” nhằm làm bừng sáng hình ảnh của Việt Nam trước thế giới.

Chẳng hạn như, để quảng bá thương hiệu, tiếp thị sản phẩm người ta có thể vay mượn dưới hình thức nhượng quyền những cái đã trở thành “thương hiệu” nổi tiếng theo kiểu “vịt Donald”, “chuột Mickey”, người nhện Spiderman, người máy Transformer hoặc huyền thoại James Bond, nhân vật Harry Potter… Mọi cách làm ấy đều nhằm thu được nhiều lợi nhuận, và thương hiệu cũng là tiền. Tạo ra “thương hiệu Việt Nam” cho các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường trong nước và thế giới đương nhiên cũng không ngoài mục đích đó. Song, bản thân “hình ảnh Việt Nam” được thể hiện như một “thương hiệu Việt Nam” thì không thể chỉ hoàn toàn vì tiền. “Thương hiệu” đó trước hết phải là lương tâm và phẩm giá, là danh dự và bản lĩnh Việt Nam trước thế giới. Điều này lớn hơn nhiều. Chính ở đây nổi lên vấn đề “giải pháp Việt Nam” đã trình bày ở trên.

Đã là giải pháp Việt Nam thì phải là sự tiếp thu một cách chọn lọc và sáng tạo những thành tựu, bài học và kinh nghiệm thành bại của thế giới để căn cứ vào hiện thực của Việt Nam mà biết vận dụng thích hợp, thể hiện được truyền thông dân tộc, bản lĩnh văn hóa và cốt cách Việt Nam. Chẳng hạn, để công nghiệp hóa và hiện đại hóa phù hợp với đời sống Việt Nam thì không đánh đổi nông thôn xanh tươi và hài hòa với thiên nhiên, nơi ấp ủ nền văn hóa truyền thống dân tộc, để có những ngôi nhà bê tông vô hồn đang kệch cỡm mọc lên, phô ra cái thị hiếu hạ cấp, đổi lấy những dòng sông đen ô nhiễm và cạn kiệt nguồn nước tươi mát bao đời tắm tưới, thanh lọc tâm hồn Việt Nam, nuôi dưỡng và bồi đắp bản sắc văn hóa dân tộc. Trong thế kỷ được mệnh danh là thế kỷ của bộ não, một “giải pháp Việt Nam” là biết tranh thủ lợi thế của người đi sau để tìm ra phương thuốc chữa trị cho căn bệnh hiểm nghèo: phát triển đi liền với hủy hoại môi trừơng, bỏ mặc nông thôn và nông dân tăm tối và lạc hậu để có đô thị và công nghiệp hiện đại. Cái “hiện đại” đó là không công bằng, đựơm mùi hoang dã của thời tích lũy tư bản sơ khai.

Một thương hiệu Việt Nam có sức hấp dẫn chính phải là một giải pháp Việt Nam nhằm giải quyết thật tốt vấn đề nông thôn hài hòa với công nghiệp hóa, đô thị hóa , hiện đại hóa của một đất nước nhiệt đới với màu xanh bất tận từ mặt đất đến bầu trời. Một đất nước thân thiện với môi trường trong kiến trúc và quy hoạch hòa mình vào thiên nhiên chứ không đối nghịch và tàn phá cảnh quan thiên nhiên! Thương hiệu Việt Nam phải là nơi quảng bá những sản phẩm Việt Nam được làm ra với hàm lượng trí tuệ nhiều hơn, hàm lượng công nghệ cao hơn, chất lượng tốt hơn để có giá trị gia tăng mạnh hơn chứ không thể chỉ là sản phẩm gia công với lợi thế giá rẻ của công lao động, hoặc là sản phẩm thô chưa chế biến vừa khai thác làm cho tài nguyên đất nước cạn kiệt.

Tạo ra thương hiệu đó khó lắm nhưng lại là cái cần bàn.

Charles Handy, người được xem là nhà triết lý về kinh doanh nổi tiếng nhất nước Anh, tác phẩm của ông đã bán được trên một triệu bản khắp thế giới có nhận xét rất thú vị: “Chủ nghĩa cộng sản có một lý tưởng, đó là công bằng và phồn vinh cho tất cả mọi người, nhưng chủ nghĩa cộng sản đã không có một cơ chế thích hợp để thực hiện lý tưởng ấy. Trong khi đó, chủ nghĩa tư bản là một cơ chế, nhưng hình như nó lại thiếu một lý tưởng…Trong trái tim của chủ nghĩa tư bản có căn bệnh ung thư. Đó là thiếu một lý tưởng để khuấy động trái tim. Tất cả là vì cái gì và cho ai?”.

Vì cái gì và cho ai, câu hỏi ấy cũng cần đặt ra trong việc xây dựng một hình ảnh Việt Nam trong một thế giới mới của hội nhập và toàn cầu hóa, cho việc xây dựng và quảng bá một “thương hiệu Việt Nam” gắn liền với một giải pháp Việt Nam như trong lịch sử ông cha ta đã từng chọn lựa, để nâng cao lên trong tầm tư duy mới với thời đại khai thác tối đa sức mạnh của bộ não.

Giải pháp Việt Nam từng là đòi hỏi của lịch sử và đã có những bài học lịch sử, đó là vấn đề đặt ra cho cả dân tộc ta trên chặng đường mới. Phải tạo ra một cơ chế, cái mà chúng ta đang thiếu, để hình thành những giải pháp Việt Nam như ông cha ta đã “cho thấy khả nằng kỳ lạ của đất nước này” từng làm nên những kỳ tích lịch sử, nhằm tìm ra “những giải pháp độc đáo cho những vấn đề gặp phải” trong sự nghiệp phát triển đất nước với bối cảnh mới hôm nay.


[1]Cao Huy Thuần. Thế giới quanh ta, NXB Đà Nẵng. 2006, tr. 355, 356

 
© talawas 2026