trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
1.10.2007
Đinh Khải Văn
Thuật bình, nghiên cứu “về sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy ngày 13-9”
 

“Sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy ngày 13-9 [1971]” đến nay đã 35 năm, nhưng do bản thân sự kiện này vốn rất phức tạp lại bị sự che giấu xuyên tạc của nhà đương cục sau khi sự việc xảy ra, nên chân tướng của sự kiện đến hôm nay vẫn mỗi người nói một cách. Năm 2005, giáo sư Hàn Cương ở Trường đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khi bàn đến những điểm nóng, điểm khó trong lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc đã cảm khái nói: “nghiên cứu lịch sử “đại cách mạng văn hóa" vấn đề phức tạp nhất, tranh luận nhiều nhất cũng khó khăn nhất là “sự kiện 13-9”. Vì sao “sự kiện 13-9” lại xuất hiện tình trạng đó? Hàn Cương cho rằng nguyên nhân là do hồ sơ lưu trữ của “sự kiện 13-9” được phát lộ cực ít [1] . Mặc dù như vậy vẫn có một số nhà nghiên cứu và người đương sự đã phát biểu một số bài viết và thành quả nghiên cứu có liên quan. Bài viết này giới thiệu những nghiên cứu của trong, ngoài nước xoay quanh “sự kiện 13-9”.

“Sự kiện Lâm Bưu” theo nghĩa rộng có thể truy ngược lên đến một đoạn thời gian sớm hơn, như Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa 9 họp ở Lư Sơn tháng 8/1970; còn “sự kiện Lâm Bưu” theo nghĩa hẹp là chỉ “sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy” phát sinh vào đêm ngày 12 và sáng ngày 13/9/1971. Bài viết này chủ yếu bàn đến “sự kiện Lâm Bưu” theo nghĩa hẹp vì vậy vẫn gọi nó là “sự kiện 13-9”.

Nghiên cứu “sự kiện 13-9” không thể không truy ngược tới nguồn gốc xung đột giữa Mao Trạch Đông và Lâm Bưu về chính trị, tức là phải bàn từ những tranh chấp khi khởi thảo báo cáo chính trị của đại hội 9, “mệnh lệnh số 1” của Lâm Bưu và hội nghị Lư Sơn tháng 8/1970. Trong bài viết “Mấy vấn đề nóng, vấn đề khó trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc”, Hàn Cương đã giới thiệu tương đối tỉ mỉ việc nghiên cứu mấy vấn đề trên. Thế nhưng khi bàn đến việc nghiên cứu “sự kiện 13-9”, những bàn luận, trình bầy của Hàn Cương ngược lại không nhiều, sơ sơ mấy dòng, chỉ đơn giản nói đến mấy điểm: liệu có phải là Lâm Bưu tự nguyện chạy trốn sang Liên Xô không; trước khi Lâm Bưu bỏ trốn, Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đã đối phó như thế nào, cũng như vì sao máy bay của Lâm Bưu lại bị rơi. Hàn Cương thừa nhận, những điều ông phân tích chỉ là mấy vấn đề có tranh luận trong nghiên cứu liên quan đến “sự kiện 13-9”, hơn nữa còn chưa triển khai nội dung cụ thể quan điểm của mỗi người. Trên thực tế, những vấn đề thảo luận và tranh luận không chỉ có như vậy. Xem ra Hàn Cương hiểu tương đối các động thái nghiên cứu có liên quan, nhưng đối với những điểm có tranh chấp của những vấn đề then chốt, ông đã muốn nói lại thôi, cố ý lảng tránh, cũng có thể có sự che giấu những điều khó nói, chỉ có thể điểm ra rồi thôi.

Hàn Cương cho rằng, trong cuốn sách Xem xét lại bản án Lâm Bưu do tác giả bài viết này [Đinh Khải Văn] chủ biên xuất bản năm 2004 “đã thu tập được những bài viết của các nhà nghiên cứu trong, ngoài nước, là một tác phẩm học thuật tập trung nhất trong mấy năm gần đây nghiên cứu về “’sự kiện 13-9’ được các nhà nghiên cứu chú ý” [2] . So sánh càng thấy Bàng Tiên Tri, chuyên gia về lịch sử đảng lâu năm của Ban Nghiên cứu văn kiện Trung ương đảng là vô cùng cứng nhắc. Tác giả bài viết này cho rằng vấn đề then chốt trong “sự kiện 13-9” là các tội danh mà Đảng Cộng sản Trung Quốc định cho Lâm Bưu: cướp đảng đoạt quyền, âm mưu đảo chính, lập Trung ương khác, phản đảng phản quốc. Vì thế những giới thiệu và thuật bình dưới đây đều triển khai xoay quanh các vấn đề đó.

I. Quan hệ giữa chuyến tuần tra miền Nam của Mao Trạch Đông và sự bỏ chạy của Lâm Bưu

Chuyến tuần tra miền Nam vào trung tuần tháng 8/1971 của Mao Trạch Đông có liên hệ trực tiếp tới sự bỏ chạy của Lâm Bưu, có thể nói, chuyến tuần tra miền Nam của Mao là nhân, sự bỏ chạy của Lâm Bưu là quả, không có chuyến tuần tra miền Nam của Mao sẽ không gây ra “sự kiện 13-9” kinh thiên động địa. Vậy thì, vì sao Mao Trạch Đông lại đi tuần tra miền Nam? Cách nói của giới sử học chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc là, Mao Trạch Đông quan sát được những giấu vết không bình thường của tập đoàn Lâm Bưu, nên đã tuần tra miền Nam để đánh động, vạch trần bọn Lâm Bưu. Vu Nam, giáo sư trường đảng Trung ương nói: “sau hội nghị Trung ương lần thứ 2 khóa 9 năm 1970, theo đà tiển triển của phong trào Phê Lâm chỉnh phong (nguyên văn viết như thế, nhưng phải là Phê Trần [3] chỉnh phong – tác giả chú), Mao Trạch Đông đọc được bản kiểm thảo và tài liệu tố cáo của một số người, cảm thấy có sự đột kích bất ngờ, hoạt động bí mật của bọn Lâm Bưu là có tổ chức, có cương lĩnh. Ông lo lắng những người nắm vững quân quyền này có thể làm một số sự kiện bất ngờ, cảm thấy phải áp dụng một số biện pháp dự phòng.” [4] Nói cách khác, Lâm Bưu làm âm mưu quỷ kế trước, Mao Trạch Đông tuần tra miền Nam vạch trần, phê phán sau. Đây cũng là cách nhìn nhất quán trong nhiều năm nay của giới sử học trong đảng, rất ít người nghi ngờ chất vấn.

Năm 1996, giáo sư Vương Niên Nhất, nhà nghiên cứu lịch sử cách mạng văn hóa nổi tiếng của Đại học Quốc phòng Trung Quốc khi tham gia “Hội nghị tháo luận 30 năm cách mạng văn hóa” do Viện Nghiên cứu Trung Quốc đương đại tổ chức đã đề xuất cách nhìn bất đồng. Ông nói: “khi ở Bắc Kinh, Mao không nói với Lâm Bưu, cũng không bàn với Trung ương, nhưng lại đi các nơi nói muốn gạt Lâm Bưu. Diện người biết rất rộng, thế tất phải truyền đến tai Lâm Bưu. Lâm Bưu sẽ có cảm tưởng như thế nào? Vào thời gian đó, ở chỗ đó, ông ta cảm thấy không có đường ra, thế là bí quá hóa liều, xét từ ý nghĩa nào đó thấy “sự kiện 13-9” là do bức bách mà ra, thậm chí có thể nói do Mao Trạch Đông chế tạo ra”. [5] Trong cuốn sách “Chu Ân Lai lúc cuối đời” tiên sinh Cao Văn Khiêm cũng có cùng quan điểm. Cao Văn Khiêm chỉ ra rằng, chính là chuyên tuần tra miền Nam của Mao đã đẩy Lâm Bưu vào bước đường cùng.” [6] Tác giả bài viết này cũng cho rằng chuyến tuần tra miền Nam của Mao tháng 8/1971, giống hệt với chuyến đi thị sát, ở ẩn tại miền Nam của ông ta vào đêm trước của “cách mạng văn hóa” vạch kế hoạch đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ, giống như phiên bản đánh đổ Lưu 6 năm trước. Năm 1971, trong chuyến tuần tra miền Nam, khi tiếp các người lãnh đạo quân đội các tỉnh, thành phố, Mao đã đao to búa lớn đưa những mâu thuẫn tại hội nghị Lư Sơn hơn một năm trước lên thành mức “cuộc đấu tranh của hai Bộ Tư lệnh”. Mao rêu rao, “có người muốn vội làm Chủ tịch nước”, “lập chủ tịch nuớc” là cương lĩnh chính trị phản đảng. Còn “thiên tài luận” là cương lĩnh lý luận phản đảng. Trên thực tế Mao Trạch Đông đã đặt Lâm Bưu vào mặt đối lập với mình, muốn đặt Lâm Bưu vào chỗ chết mà khoái chí, hơn nữa giọng điệu phê phán Lâm Bưu còn cao hơn mức độ đánh đổ Lưu Thiếu Kỳ trước đó. Cái mà Mao Trạch Đông nói là “Lâm Bưu muốn làm Chủ tịch nước” ở đây, chẳng qua là Mao đã định tội sẵn cho Lâm Bưu. [7]

Một bạn trên mạng lấy tên là “Thiên Thu” khi bàn đến quan hệ Mao, Lâm đã cho rằng: “ông ta [Lâm Bưu] liệu có giống nhà âm mưu, nhà dã tâm không? Sau hội nghị Lư Sơn về cơ bản chỉ ngồi một mình ở nhà chống cự tiêu cực, chủ động duy nhất là muốn tìm Mao Trạch Đông tâm sự loại bỏ hiểu nhầm. Còn Mao Trạch Đông thì sao? Vừa trộn cát, vừa dùng sỏi đá, vừa đào chân tường, hăng hái bao nhiêu! Có ý kiến với Lâm Bưu mà không trực tiếp nói, đi riêng miền Nam xâu chuỗi, sau lưng lẩm bẩm nói hết lời xấu xa về Lâm Bưu. Đường đường là một Chủ tịch mà lại chơi trò đó, khiến người ta lạnh chân răng. Ở đây, ai quang minh chính đại, ai làm âm mưu quỷ kế? Ai muốn đoàn kết, ai muốn chia rẽ? Còn chưa rõ hay sao?” [8] Rõ ràng, Mao Trạch Đông là người gây sự trong toàn bộ sự kiện này, còn Lâm Bưu thì ở vào địa vị bị động đối phó. Vì vậy, bất kể là Lâm Bưu chủ động bỏ chạy hay là Lâm Bưu bị động bỏ chạy, trên thực tế ông ta đã bị Mao Trạch Đông bức cho phải chạy, từ đó mà ấp ủ thành “sự kiện 13-9” chấn động trong, ngoài nước.

II. Lâm Bưu có “âm mưu đảo chính” hay không?

“Cướp đảng đoạt quyền” và “âm mưu đảo chính” là hai mặt của một thể. Mục đích của “âm mưu đảo chính” là để “cướp đảng đoạt quyền”. Giới lịch sử đảng trong nước lâu nay luôn tuân theo tội danh mà trong các bài nói khi đi tuần tra miền Nam, Mao Trạch Đông đã áp đặt cho Lâm Bưu: cướp đảng đoạt quyền. Sau “sự kiện 13-9” đã nhận định tội danh của Lâm Bưu là “âm mưu đảo chính”. Năm 1976 sau khi “đập tan lũ bốn người” Đảng Cộng sản Trung Quốc cũng vẫn không thay đổi tội danh đó của Lâm Bưu. “Nghị quyết về một số vấn đề lịch sử từ ngày thành lập nước đến nay” do Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc thông qua năm 1981 đã chỉ ra: “từ năm 1970 đến năm 1971, đã phát sinh sự kiện Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu âm mưu cướp quyền lãnh đạo tối cao, sách động đảo chính vũ trang phản cách mạng.” Năm 1980 đến 1981, khi xét xử vụ án Tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu, Giang Thanh, nhà đương cục đã dùng thủ đoạn pháp luật xác nhận tội trạng này. Cho đến hôm nay, giới lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc đối với nhận định chính thức đó hầu như không có tranh chấp, hầu như mọi người một lời lặp đi lặp lại quan điểm này.

Một số nhà nghiên cứu trong, ngoài nước trước việc đó đã đề xuất cách nhìn bất đồng, trong đó quan điểm của tiên sinh Trần Hiểu Ninh là có tính đại biểu nhất. Trong bài viết “Chứng minh tội danh Lâm Bưu tham dự âm mưu mưu sát Mao Trạch Đông là giả”, Trần Hiểu Ninh đã tập trung phân tích những thiếu sót, sai lầm trong những tài liệu mà đến nay phía quan phương đã công bố và sử dụng, chỉ ra những chứng cớ vạch tội đó “không đáng tin, không xác định”, đặc biệt là phía quan phương không đưa ra được một bằng chứng thực nào chứng tỏ Lâm Bưu tham gia chỉ đạo đảo chính, định tội của quan phương toàn dựa vào khẩu cung của kẻ phạm tội cá biệt, hơn nữa những cái gọi là hành động và lời ăn tiếng nói liên quan đến vụ án của Lâm Bưu hoàn toàn là do người khác nhắc lại, chứ không phải là lời Lâm Bưu tự nói ra. Do đó Trần tiên sinh chỉ ra: “Những chứng cớ do nhà đương cục đưa ra đó đều không thể khiến người ta tin phục, đối với những chứng cớ đó mà nói, hoặc là bản thân nó là sai lầm rõ rệt; hoặc là, chỉ đơn thuần dựa vào những chứng cớ đó thì không thể nào có được kết luận “tính xác định”, “vô cùng chính xác không nghi ngờ”. Từ đó, ông tiến tới đề xuất mấy chứng cớ lớn rằng Lâm Bưu chưa hề tham gia “đảo chính” mưu sát Mao Trạch Đông: như việc Lâm Lập Quả và Diệp Quần [9] ngày 8 tháng 9, lừa gạt Lâm Bưu để Lâm Lập Quả về thủ đô; mấy viên đại tướng thực sự nắm chắc quân đội như Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác. [10] không hề biết gì về cái gọi là “đảo chính”, vì sao Lâm Bưu lại làm việc khác thường không nghe, không hỏi gì đến cái gọi là “đảo chính”, không trao bất kỳ chỉ thị nào cho cái gọi là “hạm đội nhỏ” của Lâm Lập Quả v.v…Tất cả những điều đó thuyết minh, về căn bản Lâm Bưu không dính dáng gì với cái gọi là “âm mưu đảo chính”. [11]

Trong hai bài viết “Phân tích thêm mấy vấn đề trong sự kiện Lâm Bưu” và “Phân tích thêm-thứ 2, mấy vấn đề trong sự kiện Lâm Bưu”, người viết bài này đã nghiên cứu thảo luận cái gọi là Lâm Bưu liên quan đến việc “đảo chính”. Người viết này cho rằng, trong lịch sử Lâm Bưu đã đi theo Mao Trạch Đông mấy chục năm, mặc dù có tranh luận với Mao Trạch Đông trong một số vấn đề, nhưng đều là nhân việc bàn việc, bản thân Lâm Bưu không có vấn đề làm âm mưu. Trong thời kỳ đầu của “cách mạng văn hóa” Lâm Bưu đã ủng hộ Mao Trạch Đông. Mao, Lâm trở thành một thể, Lâm Bưu không có khả năng công khai phản Mao, hơn nữa Lâm Bưu cũng biết rất rõ con người Mao Trạch Đông, cho nên sau Hội nghị Lư Sơn Lâm Bưu đã dứt khoát buông tay không để ý đến chính sự nữa. Chính là do không nắm được ”thóp” của Lâm Bưu, nên trong những bài nói trong chuyến tuần tra miền Nam, Mao Trạch Đông mới đưa cái gọi là “lập Chủ tịch nước” lên thành vấn đề đao to búa lớn, Lâm Bưu muốn “chống đảng cướp quyền”. Đây cũng là một cuộc biểu diễn lớn chính trị mà Mao muốn thực hiện để kết tội người ta. [12]

III. Vấn đề tính chân thực của “lệnh viết tay ngày 8-9” của Lâm Bưu.

Giới lịch sử đảng trong nước khi bàn đến Lâm Bưu âm mưu đảo chính, hay dùng nhất là dẫn ra “lệnh viết tay ngày 8-9” do Lâm Bưu tự tay viết. Cách nói chính thức là, sau khi biết được nội dung bài nói của Mao Trach Đông trong chuyến tuần tra miền Nam, để tăng nhanh kế hoạch đảo chính phản cách mạng, ngày 08/9, Lâm Bưu đã ra lệnh viết tay cho Lâm Lập Quả, toàn văn là: “Mong hãy làm theo mệnh lệnh do đồng chí Lập Quả, Vũ Trì truyền đạt. Lâm Bưu ngày 8 tháng 9.” Dựa vào cách nói này, Vu Nam đã viết: “Lâm Lập Quả, Diệp Quần, Lâm Bưu hiểu được những phê bình gay gắt mà rõ ràng của Mao Trạch Đông đối với bọn họ, nên bị chấn động cực lớn, đồng thời cũng gây cho bọn họ nỗi kinh khủng và bất an cực độ. Ngày 7 tháng 9, Lâm Lập Quả đã ra lệnh “chuẩn bị chiến đấu cấp một” cho “hạm đội liên hợp” của hắn. Ngày hôm sau, Lâm Bưu ra lệnh viết tay đảo chính vũ trang.” [13]

Mảnh giấy “lệnh viết tay” mơ hồ không rõ lâu nay luôn bị người ta nghi ngờ: nó có phải do Lâm Bưu viết không? Làm theo mệnh lệnh nào do Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì truyền đạt?

Trần Hiểu Ninh, Trần Tiểu Nhã, Thư Vân đã phân tích nghiên cứu rất sâu sắc bản lệnh viết tay đó, mà mỗi người đều có chỗ độc đáo của riêng mình, đáng được các nhà nghiên cứu nghiêm túc suy ngẫm. Trong bài viết “Chứng minh tội danh Lâm Bưu mưu sát Mao Trạch Đông là giả” Trần Hiểu Ninh đã phân tích tỉ mỉ mệnh lệnh viết tay này. Ông chỉ ra, mặc dù sự tồn tại của “mệnh lệnh viết tay” có khả năng là Lâm Bưu “phát động lệnh đảo chính vũ trang” thế nhưng” đồng thời cũng tồn tại khả năng mệnh lệnh viết tay đó là Lâm Lập Quả dựa vào những cái cớ thứ yếu nào đó lấy được từ chỗ Lâm Bưu lừa gạt đặt ra.” [14]

Trong cuốn sách “Trung Quốc ngang ngược”, Trần Tiểu Nhã đã chú trọng phân tích lại mệnh lệnh viết tay này. Bà cho rằng: “xem xét khẩu khí ‘mệnh lệnh viết tay’ thấy người viết không phái là quyền uy tối cao mà giống như truyền đạt thư viết tay của một người có ‘địa vị thấp’. Mà điều sâu xa huyền diệu là ở mâu thuẫn trong việc dùng hai từ “mong” và “mệnh lệnh”. Đã là “mệnh lệnh” thì chỉ có tuyệt đối chấp hành. Người ra lệnh tự biết mình có quyền uy đó, người tiếp nhận cũng tuyệt đối công nhận ‘quan hệ chủ, thuộc’ đó. Vì thế chữ ‘mong’ sử dụng ở đây không phù hợp với thân phận quyền uy tuyệt đối. Cũng giống như vậy, một trạng thái khác mà chúng ta thường gặp là người ra lệnh có trạng thái tâm lý khiêm tốn, sự việc cũng không quá khẩn cấp, trong lòng không có ý thức ‘mệnh lệnh’ vì thế ông ta đã sử dụng loại khẩu ngữ’mong’ để làm dịu đi ‘kiểu câu sai khiến’, nhưng vào lúc đó ông ta đã chọn lọc từ ngữ một cách tương ứng, coi nội dung cần phải bố trí thành ‘lời’ của mình, ‘sự giao đãi’ của mình, ‘sự dặn dò’ của mình chứ không sử dụng từ ‘mệnh lệnh’ nữa. Chỉ có người ở vào giữa vị thế vừa không phải là quyền uy tuyệt đối, lại không phải là người nhận lệnh mới có thể đồng thời có một mặt cảm thụ được ‘quyền uy’ của ‘mệnh lệnh’, một mặt lại tồn tại ‘sự chờ mong’ đối với người nhận lệnh. Đó là đặc điểm của ‘cáo mượn oai hùm’ ”. [15]

Giáo sư Vương Niên Nhất, chuyên gia nghiên cứu lịch sử cách mạng văn hóa nổi tiếng trong nước trong “Lời giới thiệu” cuốn sách nói trên của bà Trần Tiểu Nhã đã rất tôn sùng việc nghiên cứu của Trần nữ sĩ. Vương Niên Nhất nói: “đối với việc nghiên cứu thấu đáo chữ ‘mong’ của bà, không thể không khiến người ta phải thốt lên ‘tuyệt diệu’! Ở Trung Quốc đại khái những học sinh đã học qua lớp hai tiểu học đều có thể hiểu được hàm nghĩa của con chữ đó, nhưng trên vấn đề sự kiện Lâm Bưu, hơn ba mươi năm nay người ta đã nhìn mà không thấy hàm nghĩa của chữ đó. Cái ‘điểm mù’ này rốt cuộc đã được tạo ra như thế nào? Rốt cuộc là mù quáng về chính trị? Bị bưng bít về tâm trí? Hay là do người ta đã cam chịu sinh hoạt một cách vô ý thức trong sự phản ánh vô tình, trong trạng thái mê muội đó? Điều này không thể không khiến người ta phải suy ngẫm sâu sắc…” [16]

Trong bài “Nhìn lại năm 1971: thăm dò lại bí mật của “công trình 571”. [17] Thư Vân đã chỉ ra, trên thực tế đã tồn tại hai bản “mệnh lệnh viết tay” khác nhau, một bản viết ngang, một bản viết dọc, Lâm Lập Quả và Chu Vũ Trì mỗi người chấp hành một bản. Thư Vân chỉ ra: “sau cách mạng văn hóa, Lâm Bưu hầu như rất ít khi cầm bút, khi phê duyệt văn kiện thường do thư ký viết thay, nên làm sao có thể viết hai bản “mệnh lệnh viết tay”? Mà nếu có là “mệnh lệnh viết tay” của Lâm Bưu, cũng không có khả năng viết hai bản. Dù có viết hai bản cũng sẽ hủy một bản, không có khả năng để Lâm Lập Quả cầm cả hai bản đi. Trên “mệnh lệnh viết tay” viết tên hai người và với việc có hai bản mệnh lệnh viết tay khác nhau, thì sẽ có lợi cho ai? Không nói cũng rõ, một “mệnh lệnh viết tay” không đủ, bởi vì Lâm Lập Quả và Chu Vũ Trì phải hoạt động tách rời nhau, cần thiết mỗi người có một bản để làm ‘thánh chỉ’ thế là sáng tạo ra thêm một bản. Thế thì giống hệt nhau chẳng tốt hơn ư? Cũng có thể là do bận, không nghĩ đến nhiều chi tiết như vậy? Cũng có thể là viết một bản ‘ngang’ trước, không giống lắm, lại bắt chước viết một bản dọc. Bắt chước cũng chẳng dễ đâu vì vậy ‘ngang’, ‘dọc’đều không chú ý đến hủy bỏ. Lâm Lập Quả không hề nghĩ là do đó mà bị lộ chân tướng.” Nguyên Phó tham mưu trưởng không quân Hồ Bình đã trực tiếp chỉ ra “mệnh lệnh viết tay” này là giả, giương ngọn cờ Lâm Bưu.” [18] những phân tích tỉ mỉ đó về căn bản đã đề xuất nghi ngờ, chất vấn đối với những định luận chính thức.

IV. Liệu Lâm Bưu có định “chạy xuống miền Nam – Quảng Châu lập Trung ương khác không?

Đối với vấn đề này, giới lịch sử đảng trong nước trăm miệng một lời nhất trí cho rằng âm mưu đảo chính của Lâm Bưu không thành, thế là dự tính “chạy trốn đến miền nam-Quảng Châu, lập Trung ương khác” để ngang vai ngang vế với Mao Trạch Đông. Bản tuyên án của Tòa án đặc biệt tối cao nói: “sau khi kế hoạch mưu sát của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu thất bại, Lâm Bưu đã chuẩn bị mang theo bọn Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô Pháp Hiến, Lý Tác Bằng, Khưu Hội Tác v.v.. chạy đến miền Nam-Quảng Châu nơi lúc đó hắn ta chuẩn bị làm căn cứ địa đảo chính, ý đồ lập chính phủ riêng, chia rẽ quốc gia.” [19] Thế nhưng có chứng cớ gì có thể chứng thực Lâm Bưu đúng là có ý đồ chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu để lập Trung ương khác?

Trong bài viết “Khảo chứng và giải thích tội danh Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu, lập Trung ương khác”, Tào Nhữ Tín, chuyên gia nghiên cứu về lịch sử cách mạng văn hóa đã có sự khảo chứng tỉ mỉ về việc này. Ông chỉ ra rằng cái gọi là: đi xuống miền Nam-Quảng Châu chỉ là những lời tự nói của Chu Vũ Trì và Vương Phi, thân tín của Lâm Lập Quả, không có chứng cớ chứng thực đó là ý đồ của bản thân Lâm Lập Quả; sau này khi xét xử “hai vụ án”, căn cứ vào kết quả xét xử tại tòa đối với Giang Đằng Giao, Hồ Bình, “không chỉ thuyết minh Hồ Bình nghe thấy cái gọi là việc Lâm Bưu muốn đi Quảng Châu là do Lâm Lập Quả, Chu Vũ Trì nói với anh ta, hơn nữa cả hai người Hồ, Giang đều chứng thực Ngô Pháp Hiến ngay đến việc điều động máy bay cũng không biết, thì nói gì đến chuyện “chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu lập Trung ương khác.” Từ Nhữ Tín chỉ ra: “chạy trốn xuống miền nam-Quảng Châu, lập Trung ương khác là quyết định lâm thời mà các thành viên hạt nhân của “hạm đội nhỏ” vô cùng vội vã chưa kịp hành động đã chết non. Xem xét từ những tài liệu công khai hiện nay thấy “hạm đội nhỏ” giương ngọn cờ Lâm Bưu, nhưng không có chứng cớ đầy đủ chứng tỏ Lâm Bưu (cũng như Diệp Quần) đã biết trước kế hoạch của hạm đội nhỏ, càng không nói tới việc đồng ý kế hoạch của bọn chúng. Theo nguyên tắc cúa luật pháp học hiện đại “nghi ngờ tội từ không” và “điểm nghi ngờ lợi ích qui cho bị cáo” thì cái gọi là chỉ trích và tố cáo “Lâm Bưu lại mang theo bọn Hoàng Vĩnh Thắng, Ngô pháp Hiến, Lý Tác Bắng, Khưu Hội tác v.v.. chạy xuống miền Nam-Quảng Châu lập Trung ương khác” là không thể đứng vững. Hơn nữa lại không có chứng cớ nào cho thấy rõ Hoàng, Ngô, Lý, Khưu cũng như người lãnh đạo Quân khu Quảng Châu, không quân Quân khu Quảng Châu biết được “kế hoạch ‘chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu, lập Trung ương’ khác.” [20]

Lâm Bưu muốn đến Quảng Châu “lập Trung ương khác” vậy thì ở Quân khu Quảng Châu có người biết không? Có sự phối hợp của bất kỳ đối tượng nào không? Theo những tài liệu mà người viết bài này đọc được, Quân khu Quảng Châu không ai biết cái gọi là “lập Trung ương khác” của Lâm Bưu, nói gì đến chuyện phối hợp. Những người ở Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm vai trò chính trong cuộc điều tra từ Mao Trạch Đông, “lũ bốn người”, sau này chuyển đổi thành Đặng Tiểu Bình, Bành Chân đều là những kẻ thù một mất một còn với tập đoàn Lâm Bưu, một lòng muốn tội danh đó là thực. Thế nhưng sau khi thẩm tra nhiều năm vẫn không tìm thấy bất kỳ chứng cớ nào, cuối cùng đã ngang nhiên lấy cớ “có lẽ có” [21] để định tội. Cũng vì tội danh này mà một loạt lớn cán bộ Quân khu Quảng Châu bị liên quan, gặp vận hung bất ngờ, thế nhưng bọn họ đã kiên quyết phủ nhận những lợi buộc tội không đúng sự thực đó.

Trì Trạch Hậu, người nghiên cứu lịch sử cách mạng văn hóa trong cuốn “Ghi chép về việc Bốc Chiếm Á lên, xuống ’thuyền giặc’“ [22] và Thư Vân trong bài “Quân khu Quảng Châu không biết việc Lâm Bưu muốn lập Trung ương khác” [23] đều chỉ ra, sau “sự kiện 13-9” bọn Trương Xuân Kiều đã từng buộc Bốc Chiếm Á, Phó chính uỷ Quân khu Quảng Châu kiêm chính uỷ quân khu tỉnh Hồ Nam phải làm chứng giả, buộc Bốc Chiếm Á phải thừa nhận vào lúc 0 giờ ngày 12/9/1971, từ Trường Sa đã nhận được thông tri của Lâm Bưu chạy trốn xuống miền nam-Quảng Châu. Do Bốc Chiếm Á cung cấp chứng cớ giả, tội danh “Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu lập Trung ương khác” mới bị xác nhận. Vì việc này, Bốc Chiếm Á lập được công lớn, được cử làm Phó chính uỷ Quân khu Lan Châu. Tháng 12/1982, trong thông tri về tình hình phúc tra Bốc Chiếm Á, Uỷ ban kỷ luật Trung ương cho rằng, trong thời gian công tác tại Hồ Nam, Bốc Chiếm Á có sai lầm, nhưng không tham dự hoạt động âm mưu (bởi vì về căn bản bản không có âm mưu đó), quyết định thủ tiêu văn kiện Trung ương số 12, do trung ương công bố (1973). Mặc dù Đảng Cộng sản Trung Quốc phủ định vấn đề Bốc Chiếm Á đã lên “thuyền giặc” Lâm Bưu, nhưng việc Bốc Chiếm Á làm chứng giả không vì thế mà được hủy bỏ, tội danh “Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu lập Trung ương khác” vẫn ngang nhiên được định luận! Sự thực là cưỡng bức Bốc Chiếm Á làm chứng cớ giả không chỉ có một mình Trương Xuân Kiều, mà những người thao túng đằng sau bức màn, chính là Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai, Diệp Kiếm Anh v.v., Trương Xuân Kiều chẳng qua chỉ là tên ác ôn đứng trước khán đài mà thôi.

Nhằm thẳng vào cái gọi là việc “Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam-Quảng Châu lập Trung ương khác”, Đinh Thịnh, nguyên Tư lệnh Quân khu Quảng Châu trong hồi ký của mình đã viết: “ngày hôm nay, tôi có trách nhiệm nói, lúc đó tôi là một trong mấy người phụ trách chủ yếu Quân khu Quảng Châu, tôi là Tư lệnh, Lưu Hưng Nguyên là Chính uỷ (thứ nhất), Khổng Thạch Tuyền, Nhiệm Tư Trung, bọn họ đều là Chính uỷ, Phó chính uỷ, còn có người khác, nhưng tất cả mọi người đều không biết. Tuyệt đối không biết! Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam, ông ta nghĩ như thế nào, tôi cũng không biết, đều không biết gì cả.” “Tôi chịu trách nhiệm với Trung ương, chịu trách nhiệm với nhân dân cả nước! Những người lãnh đạo Quân Khu Quảng Châu không biết Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam. Các người làm những phong trào lớn nhiều như vậy, lật hòm lục tủ, năm [19]74, năm [19]77, năm [19]78 năm [19]79, làm ghê gớm như vậy, các người có tìm được chứng cớ nào không? Chẳng có chứng cớ nào cả. Đông người như vậy, có ai biết là không có không? Lãnh đạo không biết, có người nói họ biết, sau này họ lại phản cung, họ nói họ không biết, họ bị buộc thế. Thế thì làm sao chúng tôi không biết?” “Hôm nay tôi trịnh trọng tuyên bố: không biết! Tôi không biết! Lưu Hưng Nguyên không biết! Khổng Thạch Tuyền, Nhiệm Tư Trung không biết! Các đồng chí lãnh đạo Quân khu không biết! Thư ký của tôi, Chủ nhiệm văn phòng, Cục tác chiến, Bộ tư lệnh, Cục chính trị đều không biết! Không có người nào biết. Bởi vì không có sự việc đó họ đi đâu mà biết được! Không có đâu!” [24] Những lời nói này của tướng Đinh Thịnh tràn đầy sức mạnh! Nghe tiếng chẳng bằng thấy người.

V. Lý Văn Phổ có làm chứng giả không?

Giới chính thức Đảng Cộng sản Trung Quốc nhận định Lâm Bưu chủ động chạy trốn sang Liên Xô là do lời làm chứng của Lý Văn Phổ, trưởng phòng cảnh vệ của Lâm Bưu. Sau sự kiện “13-9” nửa năm, Lý Văn Phổ mới chứng thực với Tổ chuyên án, trên đường ngồi ô tô tới sân bay Bắc Đới Hà, Lâm Bưu đã hỏi Lâm Lập Quả ”cách Irkut [25] bao xa”, tổ chuyên án căn cứ vào đó nhận định là Lâm Bưu chủ động “làm phản chạy trốn sang Liên Xô”. Các loại sách báo xuất bản sau này đều dựa theo chứng cớ này. Những khai báo đó của Lý Văn Phổ có chân thực không?

Người nghi ngờ những lời làm chứng của Lý Văn Phổ sớm nhất là Trương Ninh. Trong cuốn tự truyện “Kiếp bụi trần”, [tạm dịch] Trương Ninh đã chỉ ra, Lý Văn Phổ đưa ra ba điều để khai báo (nhằm bảo mật cho mình, không khai trừ đảng tịch, quân tịch, người nhà không bị kỳ thị về chính trị) đã bịa đặt ra những lời nói trên của Lâm Bưu. [26] Nhưng Tiêu Tư Khoa, nhà nghiên cứu trong nước đã nói cả quyết, khai báo của Lý Văn Phổ đáng tin, nếu người nào nghi ngờ là người đó có ác ý.

Trong bài “Cũng bàn về sự kiện Lâm Bưu” người viết bài này chỉ ra, dưới sức ép chính trị có khả năng Lý Văn Phổ làm chứng giả. Nếu Lý Văn Phổ phát giác cả nhà Lâm Bưu chuẩn bị chạy trốn sang Liên Xô mà chủ động nhảy khỏi ô tô phản đối, điều này cho thấy rõ anh ta giác ngộ rất cao, thế nhưng vì sao thời kỳ đầu thẩm tra đã không báo cáo kịp thời với Trung ương, lập công lấy thưởng mà phải đợi rất nhiều ngày sau, cho đến khi nhà đương cục bắt giam, thẩm tra mới ra mặt làm chứng? Nếu không phải là do sức ép chính trị thì là do nguyên nhân hợp lý nào? [27] Trong bài viết “Nghi ngờ sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy” Trần Hiểu Ninh đã chỉ ra lô gíc lời làm chứng của Lý Văn Phổ không hợp tình, lý. Ví dụ như, lấy sự hiểu biết của Lâm Bưu đối với việc đề phòng chiến tranh với Liên xô, không có khả năng ông ta không biết Irkut ở đâu, hỏi câu đó chẳng phải là làm bộc lộ ý đồ chạy trốn làm phản ư? Trần cho rằng Lý Văn Phổ vạch trần càng chậm càng có khả năng “nghi ngờ do có nhu cầu mà mớm cung.” [28] Trong cuốn sách “Chu Ân Lai lúc cuối đời” Cao Văn Khiêm vạch ra: “dưới sức ép chính trị, sau này Lý đã đổi lời khai, lảng tránh tình hình giữa đường Lâm Bưu đã từng hạ lệnh dừng xe, mà nói việc đó thành sau khi nghe Lâm Bưu hỏi “cách Irkut bao xa”, anh ta đã yêu cầu dừng xe, nhằm đổi lấy việc được xử lý khoan hồng bảo lưu đảng tịch, quân tịch của anh ta và người nhà không bị liên lụy.” [29]

Ngoài ra, vết thương trên cánh tay Lý Văn Phổ là do Lâm Lập Quả bắn hay anh ta tự thương? Cho đến nay phía chính quyền vẫn kiên trì cách nói ban đầu, tức sở dĩ Lý Văn Phổ bị thương là do Lâm Lập Quả làm; nhưng trong bài viết “Máy bay số 256 bốc cháy ở trên trời trước sau đó mới buộc phải hạ cánh”, Vương Niên Nhất và Trần Thiệu đã nói, “khi đó những nhân viên liên quan có mặt tại hiện trường bao gồm cả thư ký văn phòng của Lâm Bưu và một người trong trung đoàn cảnh vệ Trung ương sau khi xem vết thương và quần áo của Lý Văn Phổ, kiểm tra hiện trường và ô tô đều cho rằng là tự thương.” [30] Người viết bài này vào tháng 8/05 đã từng trưng cầu ý kiến tiên sinh Trương Thanh Lâm về việc này, Trương Thanh Lâm vốn là bác sĩ ngoại khoa của một bệnh viện thuộc Quân khu Quảng Châu, sau này trở thành chồng chưa cưới của Lâm Lập Hằng, con gái Lâm Bưu. Trương tiên sinh nói cho người viết bài này biết sau khi sự việc xẩy ra, để nhìn rõ vết thương, Trương Thanh Lâm đã cởi cuộn băng trên cánh tay Lý Văn Phổ ra, kiểm tra lại vết thương và băng bó lại, phát hiện thấy vết đạn trên cánh tay Lý Văn Phổ là từ trong xuyên ra ngoài từ dưới chếch lên trên. Áo sơ mi của Lý Văn Phổ còn có vết đen của thuốc nổ, đó là điển hình của vết thương bị bắn ở cự ly gần. Lúc đó Trương Thanh Lâm đã hỏi Lý Văn Phổ có phải tự thương hay không, Lý trả lời một cách hàm hồ là súng cướp cò. Rất dễ thấy là việc Lý Văn Phổ tự thương là vô cùng rõ ràng, nhưng sau này, chính quyền không dám tìm tòi điều tra tiếp. Điều này từ một mặt khác, đã chứng minh một sự thực là Lý Văn Phổ đã làm chứng giả.

(Còn tiếp 1 kì)

Bản tiếng Việt © 2007 talawas


[1]Hàn Cương, “Một số vấn đề nóng, khó trong nghiên cứu lịch sử Đảng Cộng sản Trung Quốc”, đăng trên Vãng sự số 9 (tháng 2/05) và số 16 (tháng 6/05).
[2]Hàn Cương, bđd.
[3]Tức phê phán Trần Bá Đạt, lúc đó là Uỷ viên thường vụ Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. (ND)
[4]Vu Nam, “Khảo sát một số vấn đề lịch sử của sự kiện Lâm Bưu”, xem Ghi chép thực về sự tiêu diệt của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu do Hùng Hoa Nguyên, An Kiến Thiết biên soạn, NXB Văn hiến Trung ương, bản tháng 6/1995, tr. 175.
[5]Vương Niên Nhất, “Nhận thức lại tập đoàn Lâm Bưu” xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu do Đinh Khải Văn chủ biên (quyển thượng) NXB Minh Kính, bản tháng 7/04, tr. 11.
[6]Cao Văn Khiêm, Chu Ân Lai lúc cuối đời, NXB Minh Kính bản tháng 4 năm 2003, tr. 345.
[7]Đinh Khải Văn, “Chuyến tuần tra miền Nam của Mao và âm mưu đánh đổ Lâm Bưu”, xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu do Đinh Khải Văn chủ biên (quyển thượng tr. 254-266).
[8]Thiên Thu, “Lắng nghe tiếng nói của lịch sử – Thiên Thu bình sự kiện Lâm Bưu”, xem tạp chí điện tử Hoa Hạ văn trích (số tăng thêm của Bảo tàng cách mạng văn hoá) số 461, ngày 18 tháng 10/05.
[9]Con trai và vợ Lâm Bưu (ND)
[10]Hoàng Vĩnh Thắng lúc đó là và Tổng Tham mưu trưởng, Ngô Pháp Hiến là Tư lệnh không Quân, Lý Tác Bằng là Chính uỷ Hải quân, Khưu Hội Tác là Chính uỷ Tổng cục Hậu cần. Cả 4 người đều là Ủy viên Bộ Chính trị (ND).
[11]Trần Hiểu Ninh, “Chứng cớ giả về tội danh Lâm Bưu tham dự mưu sát Mao Trạch Đông”, xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu do Đinh Khải Văn chủ biên (quyển thượng) tr. 267-329).
[12]Đinh Khải Văn, “Phân tích thêm mấy vấn đề trong sự kiện Lâm Bưu”, “Phân tích thêm – thứ 2, mấy vấn đề trong sự kiện Lâm Bưu” xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu tr. 267-329.
[13]Vu Nam, sđd, tr. 180
[14]Vu Nam, sđd, tr 267-329.
[15]Trần Tiểu Nhã, Ngang bướng Trung Quốc – vụ án công và hành vi, phân tích tâm lý Mao Trạch Đông (quyển hạ) NXB Minh Kính, tháng 7/05, tr. 416.
[16]Vương Niên Nhất, “Vui mừng đọc Trung Quốc ngang bướng, lời nói đầu Trung Quốc ngang bướng, bản thứ hai.
[17]571, phát âm theo tiếng phổ thông Trung Quốc gần như là cách nói tắt của mấy chữ “khởi nghĩa vũ trang” (ND).
[18]Thư Vân, “Quay đầu lại nhìn 1971”; thăm dò lại bí mật của “công trình 571”, Văn học thời đại, 2004.
[19]“Bản tuyên án của toà án nhân dân tối cao đặc biệt nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” xem Ghi chép thực về sự diệt vong của tập đoàn phản cách mạng Lâm Bưu do Hùng Hoa Nguyên, An Kiến Thiết biên soạn, NXB văn hiến Trung ương bản tháng 6/1995, tr. 223.
[20]Dư Nhữ Tín, Khảo cứu chú thích tội danh Lâm Bưu chạy trốn xuống miền Nam – Quảng Châu, lập Trung ương khác” đăng trên Hoa Hạ văn trích số tăng thêm của Bảo tàng cách mạngvăn hoá) số 478, ngày 18/01/06.
[21]mạc tu hữu 莫須有”. Giai thoại kể rằng, Nguyên soái Hàn Thế Trung đã chất vấn Tần Cối: xử tội Nhạc Phi, thế bằng chứng đâu? Tần Cối trả lời: Không có, nhưng cũng không cần có. 3 chữ "không cần có" (mạc tu hữu 莫須有) từ đó gắn liền với tên Nhạc Phi và đi vào tiếng Trung để chỉ những lời buộc tội ngụy tạo (BT).
[22]Trì Trạch Hậu, “Ghi chép về việc Bốc Chiếm Á lên xuống thuyền giặc” đăng trên Hoa Hạ văn trích (số tăng thêm của Bảo tàng cách mạng văn hoá) số 477, ngày 17/01/06.
[23]Thư Vân, “Quân khu Quảng Châu không biết Lâm Bưu lập Trung ương khác” đăng trên Hoa Hạ văn trích (số tăng thêm của Bảo tàng cách mạng văn hoá) số 469 ngày 06/12/05.
[24]Đinh Thịnh kể, Kim Quang chỉnh lý “Hồi ký của Đinh Thịnh” đăng trên Hoa Hạ văn trích (số tăng thêm của Bảo tàng cách mạng văn hoá) số 478, ngày 18/01/06.
[25]Irkutsk, thành phố Trung-nam nước Nga (BT)
[26]Trương Ninh, Kiếp bụi trần, NXB Minh Kính, bản tháng 6/1997, tr. 319-320.
[27]Đinh Khải Văn, “Cũng bàn ‘sự kiện 13-9’ của Lâm Bưu”, xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu (quyển thượng) tr. 209.
[28]Trần Hiểu Ninh, “Nghi ngờ sự kiện Lâm Bưu bỏ chạy” xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu (quyển thượng) tr. 357-365.
[29]Cao Văn Khiêm, sđd. tr. 347.
[30]Vương Niên Nhất, Trần Thiệu, “Máy bay số 256 bốc cháy ở trên không trước rồi buộc phải hạ cánh sau” xem Thẩm tra lại vụ án Lâm Bưu (quyển thượng) tr. 480.

 
© talawas 2026