Nguyễn Hữu Cát
1. Văn chương – Trò chơi hay công việc?
Ghém hai chữ “văn chương” vào tai, vào mắt, vào miệng, vào đầu mới thấy, cái sự văn chương quả có nhiều phiền toái. Đã nghĩ rằng do điều kiện không cho phép, việc viết lách chỉ xem như một thú chơi, lúc nào rảnh rỗi thì làm, còn phải tập trung vào những việc thiết thực hơn, chả nên ham hố quá, không khéo làm khổ mình, làm khổ cả những người khác. Thế mà không hiểu sao, từ lúc nảy ra ý định viết cái gì đó để giải toả tấc lòng mình thử xem thế nào, mặc dù vẫn chỉ xem là trò chơi, không ngờ đâm ra say sưa mê mẩn. Say sưa mê mẩn đến nỗi có khi quên cả ăn cả ngủ, quên cả chuyện “cơm áo” đang cào xước cả tâm trí, đến nỗi mấy ngày cuối tuần có việc gì đó phải đi ra ngoài cũng quên luôn không nhớ mình định đi ra ngoài để làm gì, chỉ nhớ khi ở ngoài về lại ngay lập tức bị cuốn vào cái trò chơi kỳ quái đó. Mình đâm ra lẩn thẩn rồi chăng, hay mình đang dần dần hoá thân vào nó, cảm thấy nó y như chuyện của mình, mình đã biến thành trò chơi của chính mình, và mình đang làm cái việc hết sức nghiêm túc là biến cái trò chơi khá là “dớ dẩn” này thành cái không phải trò chơi?
Đúng là việc mình làm không phải trò chơi. Không phải trò chơi nhưng vẫn là trò chơi bởi mình không cảm thấy mình đang làm việc. Không cảm thấy mình đang làm việc mà vẫn say sưa làm việc thì khác nào đang đánh một ván bài. Đánh một ván bài mà không có đối thủ nào trước mặt tức là mình không ham hố thắng thua. Không ham hố thắng thua tức là mình đang học cách đánh “song lục” của Kim Thánh Thán. Học cách đánh “song lục” của Kim Thánh Thán thì tốt nhất hãy ngồi mà tưởng tượng ra như vậy. Tưởng tượng ra như vậy tức là mình đang ngồi đánh “song lục” cùng Thánh Thán đây. Ngồi đánh “song lục” với Thánh Thán thì trước hết phải làm gì nhỉ? Trước hết phải làm cái việc mà tiên sinh vẫn thường làm. Việc tiên sinh vẫn thường làm như mình được biết là ngửa mặt lên trời mà hét tướng lên. Hét tướng lên thì hét thế nào? Hét tướng lên rằng: Chẳng cũng sướng sao?
Ừ thì sướng là vậy, nhiệt huyết là vậy, mê mẩn là vậy nhưng ai bảo cứ có nhiệt huyết thì làm việc gì cũng thành? Thời đại ngày nay người ta gọi là thời @ (a còng), vậy thì thế hệ 8x, 9x viết văn đích thị là thế hệ lưng còng rồi! Suốt ngày ngồi kè kè bên máy vi tính, hì hụi gõ gõ bàn phím thì hỏi sao lưng chẳng còng? Mà thôi, hãy cứ mặc kệ cái lưng định hình cái dáng đi, cái quan trọng nhất đối với kẻ cầm bút, dù ở thời nào cũng vậy, thuộc thế hệ nào cũng thế, vẫn cứ là hình thành một phong cách, một lối viết, một cái nhìn về hiện thực thực sự độc đáo.
2. Vẽ rắn thêm chân?
Gần đây, trời xui đất khiến thế nào, mấy lần vào mạng đọc được mấy bài viết đều đồng thanh ta thán rằng, văn chương thời nay cứ đi tìm những thể nghiệm ở đâu đâu, xa rời hiện thực và chẳng có tác dụng xã hội thiết thực nào. Rồi như thể đã bàn bạc trước, các tác giả của những bài viết này nhất loạt kêu gọi các nhà văn, nhất là thế hệ cầm bút trẻ, phải biết phẫn nộ trước cái xấu, cái ác ở cuộc đời này và phải lên án nó. Tốt thôi, không sao cả, nhưng điều đáng ngạc nhiên ở chỗ họ nói cứ như đang rất phẫn nộ với chính nhà văn vậy. Chà, văn chương thời nay mà có nhiều bạn đọc tâm huyết đến phát cuồng như vậy thì tuyệt quá, dẫu xỉ vả nhà văn thế nào cũng cứ là hay. Có yêu mới cho roi cho vọt. Chỉ có điều tôi không sao thấm được. Hình như họ muốn các nhà văn phải nhảy phứa sang sân báo chí, tỏ ra mình là đại trượng phu, “giữa đàng thấy sự bất bằng chẳng tha” để viết nên tác phẩm? Và theo ý họ, người viết phải ra sức mô phỏng hiện thực như nó có và phải cãi nhau kịch liệt với hiện thực mới xứng là nhà văn chân chính? Dường như họ đã quên hoặc cố tình quên một điều, văn chương mà sa vào tả thực sẽ trở thành cái bóng của hiện thực, và người viết sẽ trở thành cái bóng của những ai ai đó, chứ không còn là chính anh ta. Cố nhiên, đó cũng là một cách thể hiện, và nếu ai còn tự nguyện thì càng tốt, nhưng có nhiều cách làm khác cũng nên chấp nhận. Trái đất có bao nhiêu đường đi thì văn chương có bấy nhiêu đường đến. Trên thực tế, có thể có những con đường dẫn người ta vào ngõ cụt, nhưng văn chương thì không, cứ đi đến tận cùng sẽ thấy mở ra nhiều hướng khác. Đó là sự tất yếu của sáng tạo, và như thế càng làm cho cuộc sống phong phú hơn chứ đâu có hại gì. Văn chương cũng giống như tình yêu, không thể và không nên ép buộc. Sự ép buộc sẽ làm thui chột tài năng, làm “công chức hoá” cả một lớp người cầm bút, làm cho nhiều tác phẩm văn chương lẽ ra có thể sáng giá hơn lại chỉ dừng lại ở mức “văn học của một thời” (chữ dùng của nhà thơ Vũ Tú Nam).
Hãy để cho tất cả các dòng sông, khe suối đều hướng ra biển cả, hãy để cho mỗi người cầm bút tự mình thể hiện cách nhìn, cách viết của riêng mình, nếu không sẽ vô cùng đơn điệu. Đáng mừng là lâu nay người ta đã hiểu ra như vậy, vì thế có không ít những nguồn mạch đang dần dần được khơi thông, tạo nên niềm hứng khởi cho kẻ viết. Sự sáng tạo văn chương xét cho cùng là cảm hứng của tự do, còn sáng tạo đến đâu, gây ấn tượng đến mức nào tuỳ thuộc vào tài nghệ của mỗi nhà văn. Ai đó đã nói rằng: “Văn chương đọc một câu biết sức nhau rồi, người viết tới thì ngu ngơ cũng tới, không tới thì có đeo ba bồ chữ trên người vẫn cứ ngu ngơ!” Vả lại nghề này có ai dạy được ai đâu mà rộn. Chỉ có sách là thầy, và những người có con mắt xanh, là độc giả. Họ chỉ ngồi một chỗ thôi, nhưng vẫn biết được sự bí ẩn của sáng tạo luôn tiềm tàng đâu đó, để không mất niềm tin vào đội ngũ nhà văn, họ vẫn cả quyết rằng “sự tự tri của nghệ sĩ mới là cốt lõi của sáng tạo” (Chu Văn Sơn), để không ngừng khuyến khích và trông đợi người văn, và họ biết văn bản nào đáng là “liên văn bản, liên chủ thể”(Chu Văn Sơn), để không ngừng truyền lửa cho kẻ viết, như Thánh Thán thuở nào tha thiết khóc người xưa… Thế nên, chỉ xin lưu ý với những người muốn dẫn dắt ngòi bút nhà văn rằng, hơn ai hết, tự mỗi người viết văn đều ý thức rất rõ phải làm gì để ngòi bút của mình có ích cho cuộc sống. Nhưng sáng tạo văn chương mà cứ thiên về mô phỏng hiện thực, sản xuất tác phẩm đều đều như cày ruộng thì buồn lắm, thà cứ đi cày ruộng thật còn hơn, thời nay mà cứ cà kê kể hành kể tỏi thì có ma nào đọc. Công chúng quay lưng lại với văn chương cũng chính là vì thế.
3. Lối thoát nào cho văn chương?
Bố tôi cũng là một nhà văn và không bao giờ ông chịu nổi cách làm này, bởi thế bao năm qua ông vẫn mải mê tìm kiếm, nhiều lúc thấy vô cùng mệt mỏi. Trong khi đó, công việc làm báo hàng ngày của ông quá ư bận rộn, bản thân cũng còn nhiều mặc cảm, e ngại trước một áp lực vô hình nào đó. Và, đôi khi, cũng do tự huyễn hoặc mình, sinh ra ngạo mạn, va vấp phía này phía khác, đến nỗi các cao nhân đang định giúp ông lại không giúp nữa, lẳng lặng quay đi, mặc cho lũ tiểu yêu ra sức hoành hành, xô đẩy vào một góc, lùng tùng mãi không sao thoát được. Nhiều lúc thấy gương mặt ông chán chường vô cùng! Rồi nhiều khi nghe loáng thoáng có người chỉ trích, rằng tay ấy vào Hội Nhà văn Việt Nam lâu rồi mà tên tuổi còn lạ hoắc, bố tôi đành thi thoảng cố ngoi lên, trình làng một cuốn gọi là đọc được. Gọi là đọc được cũng còn hơn chán vạn “mặt hàng” mà người ta vẫn ra sức lăng xê nhau lên mặt báo. Ông nói với tôi: Biết làm sao, thân cô thế cô, lại ở cái nơi xa tít mù tắp, có cố đấm ăn xôi cũng hẩm, mà không cố cũng không xong. Một chú cá được thả vào bể bơi mà mãi chẳng thấy ngoe nguẩy gì, dĩ nhiên người ta sẽ cho là thứ cá ươn, chỉ đáng vứt đi cho kiến nó tha, làm sao có thể ra biển được. Nghĩ mà cười ra nước mắt!
Còn nhớ có lần bố tôi kể cho tôi nghe, trong khi loay hoay tìm mãi không ra một “phương án tối ưu” nào để khai thông ngòi bút, đang cảm thấy tù túng thì ông được triệu đi học nghị quyết tại hội trường Hội Văn nghệ tỉnh. Nghe nói buổi này chỉ dành riêng cho văn nghệ sĩ nên tuy đã học rồi, ông vẫn cố đi nghe xem có gì khác không. Đúng là khác thật! Tại đây, bố tôi được chứng kiến một cảnh tượng vui chưa từng thấy. Số là sau khi truyền thụ cho mọi người về tinh thần nghị quyết, ông chủ tịch Hội Văn nghệ nhường lời cho một cán bộ tuyên giáo tỉnh, lên “định hướng” về việc sáng tác và biểu diễn trong tình hình mới. Thực ra chẳng có gì mới, vẫn là những điều trước đó đã nghe rồi, nhưng sự khôi hài của tình huống không nằm ở nội dung mà ở cách ông ta diễn đạt. Trong khi nói, ông ta rất hay nhấn mạnh mấy chữ cuối câu, đồng thời gõ gõ mấy ngón tay xuống bục, tiếng gõ bắt vào micro, nghe như tiếng trống chèo. Lý thú hơn là nó rất đồng điệu với từng lời nói của ông ta, lại có cả nhịp phách hẳn hoi nữa chứ. Và thế là bài nói biến thành điệu hát và nhà tuyên giáo nghiễm nhiên trở thành một diễn viên chèo diệu nghệ trong suốt nửa giờ, nghe rất sướng. “Hiện nay, chúng ta đang chống tham nhũng rất quyết liệt, vâng, rất quyết liệt các đồng chí ạ, tùng tù rùng, tùng tù rùng… Tham nhũng là biểu hiện của cái xấu, cái ác, văn nghệ sĩ chúng ta phải biết phẫn nộ trước vấn đề nhức nhối này và chúng ta cần phải lên án nó, vâng, phải lên án nó các đồng chí ạ, tùng tù rùng, tùng tù rùng… Để khỏi lấn cấn về tư tưởng, chúng ta không thể ấu trĩ về triết học và phải nắm vững tinh thần nghị quyết, vâng, phải nắm vững các đồng chí ạ, tùng tù rùng, tùng tù rùng…”
Khán giả ở dưới trợn trò mắt nhìn nhau, buồn cười quá nhưng cố nín. Ông chủ tịch Hội giả vờ ho, đưa một tay bưng miệng, còn tay kia chỉ trỏ ra hiệu bảo mọi người trật tự, cấm được cười. Mãi đến lúc vị diễn giả kia kết thúc bài giáo huấn của mình, vui vẻ nói: “Đúng không các đồng chí, đúng không? Tùng tù rùng, tùng tù rùng…”, tất cả mới oà lên: “Đúng ạ!” Rồi vừa vỗ tay rào rào, vừa ngả ngốn vào nhau, cười thả cửa. Mấy cậu bên đoàn kịch ra sức nện thình thình xuống mặt bàn, hưởng ứng một trận cười vỡ rạp…
Thế mới biết, trong cái thời còn mới hơn cả thời kỳ đổi mới này, ai bảo những dấu vết uốn nắn, tác động của những ý tưởng mang tầm vĩ mô lên văn học bị xoá sạch, không còn tì vết?
Sau lần đó, bố tôi phải tạm dừng việc viết văn lại một thời gian. Ông chẳng biết viết thế nào để có thể chống tham nhũng được. Thậm chí định nhân đà này, gác bút luôn, thôi không viết nữa. Nhưng rồi được anh em, bè bạn động viên, tin tưởng vào ngòi bút của ông, bố tôi lại hăng hái bắt tay vào việc. Trong tâm thức của bố tôi, tôi biết ông luôn mơ đến một ngày sẽ gõ vào một cánh cửa từ lâu vẫn im ỉm khoá. Và nó từ từ mở…
© 2007 talawas