trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
31.5.2007
Evan Thomas, Michael Isikoff
Vấn đề Monica của Bush
 

Số ngày 4 tháng 6, 2007 – Bộ Tư pháp Mỹ không phải lúc nào cũng đứng trên chính trị. Chính John F. Kennedy đã từng bổ nhiệm Robert, em trai và cố vấn của mình, làm tổng chưởng lý (attorney general). Nhưng việc của Bộ Tư pháp là đại diện luật pháp – thực thi luật pháp của nước Mỹ, không phải là nơi để các tổng thống tìm cách lách luật. Ðộc lập là một truyền thống quan trọng nơi toà nhà với hàng cột đá vôi trên Ðại lộ Constitution (Ðại lộ Hiến pháp). Cũng cần nhớ lại, trước khi Richard Nixon tìm được người trong Bộ Tư pháp sẵn lòng sa thải công tố viên đặc biệt điều tra vụ Watergate vào năm 1973, ông ta đã phải chấp nhận đơn từ nhiệm của tổng chưởng lý Elliot Richardson và phó chưởng lý thứ nhất (deputy attorney general) William Ruckelshaus. (Cuối cùng thì Cố vấn Luật pháp chính phủ [Solicitor General] Robert Bork đã thực hiện việc sa thải đó).

Vậy ta hãy xem bối cảnh của tháng Ba năm 2004, do hai cựu quan chức hàng đầu của ngành Tư pháp kể lại; Cũng như các cựu viên chức khác mà Newsweek đã từng phỏng vấn, hai người này muốn giữ kín danh tính khi thảo luận về những vấn đề nội bộ nhạy cảm. Tổng Chưởng lý John Ashcroft ốm nặng. Khi đang chuẩn bị họp báo ở Virginia, ông bị đau đến mức phải nằm xuống sàn. Ông được đưa vào bệnh viện để mổ túi mật cấp tốc, rồi được đưa vào phòng chăm sóc đặc biệt, nơi ông nằm cận kề cái chết, đầy ảo giác dưới ảnh hưởng của thuốc giảm đau. Cùng đêm đó, sau khi vừa mổ, có hai vị khách đến thăm ông ta: Chánh Văn phòng (chief of staff) Nhà Trắng Andrew Card và cố vấn tổng thống Alberto Gonzales. Theo lời khai được công bố, họ muốn Ashcroft ký vào một văn bản cho phép chương trình nghe lén tuyệt mật của chính phủ được tiếp tục. Tổng Chưởng lý Ashcroft cho rằng chương trình này phạm luật và đã từ chối không ký.

Ở Bộ Tư pháp, một cảnh không kém đặc biệt khác cũng đang diễn ra. Ghê tởm trước việc Nhà Trắng toan tính áp chế ép buộc vị tổng chưởng lý đang trong tình trạng thập tử nhất sinh, hầu như toàn bộ giới lãnh đạo hàng đầu của Bộ Tư pháp nhất loạt doạ từ nhiệm. Nhóm này bao gồm giám đốc FBI Robert Mueller, Phó Chưởng lý thứ Hai (Associate Attorney General) Robert McCallum và trưởng Phòng Hình sự (the Criminal Division) Chris Wray. Một số người tụ tập ở phòng họp của Phó Chưởng lý thứ Nhất James Comey; ông này kể lại cho họ nghe việc Ashcroft đã dũng cảm từ chối người mà tổng thống gửi tới giường bệnh. Tâm trạng của mọi người trong phòng họp đêm đó vừa căng thẳng vừa trầm tĩnh. “Ðây là một trận chiến”, một cựu viên chức cao cấp Bộ Tư pháp, người cũng có mặt ở đó, cho biết. “Tất cả mọi người hiểu rõ lựa chọn của mình và mức độ nghiêm trọng của tình hình. Mọi người đều hiểu mình đặt cược vào điều gì.” Một nguồn thông tin khác ước tính khoảng 30 lãnh đạo hàng đầu của Bộ Tư pháp hẳn đã từ chức vào hôm đó.

Ngày hôm sau, Comey được triệu tập đến Nhà Trắng để gặp Tổng thống Bush. Nội dung của cuộc gặp mặt này vẫn được giữ bí mật. Nhưng phải mất hai tuần mới đạt được thoả thuận – trong đó (Nhà Trắng) ngăn ngừa một cuộc từ nhiệm hàng loạt bằng cách gia tăng kiểm soát pháp lý cho chương trình nghe lén.

Sau đó, Gonzales, luật sư và chiến hữu ruột từ thời còn ở Texas của tổng thống, thay thế Ashcroft trở thành tổng chưởng lý. Giờ đây, Gonzales đang ngả nghiêng trước gió – một thành ngữ trong vụ Watergate – và phải đối mặt với vụ bỏ phiếu bất tín nhiệm của Thượng viện. Chỉ nhờ sự ủng hộ bất di dịch của tổng thống mà ông ta chưa mất ghế. Gonzales bị cáo buộc tội chính trị hoá Bộ Tư pháp vì đã chỉ đạo việc sa thải một số luật sư chính phủ – rõ ràng nhằm để thay thế họ bằng những đảng viên (cộng hoà) có lòng trung thành đáng tin cậy hơn. Trong khi diễn viên hài liên tục mang Gonzales làm trò cười trên các chương trình truyền hình đêm khuya, ban điều tra của quốc hội và các phóng viên đang xem xét về khả năng có những âm mưu nham hiểm hơn. Trong nhiều tuần, Washington đợi nghe lời khai của Monica Goodling, viên chức chính phủ có nhiệm vụ đảm bảo sự trong sạch chính trị trong Bộ Tư pháp.

Lời khai của Goodling vào tuần trước khá mềm mỏng. Cô chẳng có vẻ gì là một chính uỷ lạnh lùng cả. Trên website Ðại học Luật Regent (Regent Law School, lớp tốt nghiệp năm 1999) của cô, ta thấy cô ngây thơ dễ thương, với hy vọng biến thế giới thành “một nơi tốt đẹp hơn” và giục mọi người “mỉm cười”. Phải khai báo hữu thệ (và được bảo đảm miễn truy tố), cô có vẻ rụt rè và hơi căng thẳng, mặc dù không lúc nào cô trở nên ba hoa hoặc diễn trò. Bóp tay vào nhau dưới gầm bàn nhân chứng, cô thừa nhận rằng có thể đã sử dụng những cân nhắc chính trị không đúng đắn trong việc lựa chọn các công tố viên. “Tôi đã vượt qua giới hạn (cho phép)”, cô nói và hít vào một hơi dài như thể một tín đồ Cơ-đốc không cưỡng được sự cám dỗ. Ðược chuẩn bị chu đáo dưới sự cố vấn của John Dowd, một luật sư sắc sảo, cô chỉ đề cập qua quýt tới việc chính Gonzales có thể đã vượt quá một giới hạn khác do đã thảo luận với cô quan điểm của ông ta về vụ việc các luật sư chính phủ đã bị bãi nhiệm như thế nào. Cô ám chỉ rằng Gonzales đã tế nhị gợi ý cho cô khai báo. Cô nói, “Tôi nghĩ có lẽ chúng tôi không nên có cuộc trao đổi ấy.”

Nếu lời khai của Goodling giúp việc hạ bệ Gonzales – và điều này rất có thể xảy ra – thì tổng thống Mỹ sẽ phải đối mặt với nhiều câu hỏi khác, và sẽ bị lôi vào một trận chiến rắc rối trong việc phê chuẩn người kế nhiệm Gonzales. Do đó, Goodling, cũng giống như cô thư ký bất hạnh của Nixon, sẽ trở thành một “vai phụ” trong lịch sử – nhưng là một vai phụ quan trọng.

Goodling thừa nhận đã kiểm tra mức tiền quyên cúng chính trị của một số dự tuyển viên trước khi nhận họ vào những công việc lẽ ra phải đứng ngoài chính trị. Mặc dù việc làm của cô ta khá thô thiển, chúng không trầm trọng đến mức đe doạ hạ bệ phe cộng hoà. Dầu vậy, chúng là một phần của bức tranh rộng hơn và đáng lo ngại hơn: vai trò độc lập của Bộ Tư pháp đang mòn rỉ dần mà không được biết đến. Chúng ta chưa biết rõ về sự liên quan cá nhân của tổng thống Bush cũng như của Karl Rove, cố vấn chính trị chính của ông ta. Tuy nhiên, bằng chứng rõ ràng nhất về vi phạm pháp luật không xuất phát từ đảng viên Ðảng Dân chủ trong quốc hội, mà từ những đảng viên bảo thủ trung thành của Bush trước đây, những người làm việc tại Bộ Tư pháp.

Rắc rối xảy ra ngay sau vụ 11 tháng 9, khi chính phủ bắt đầu tìm kiếm những biện pháp mạnh tay hơn để ngăn ngừa những vụ khủng bố khác. Bộ Tư pháp có một phòng ít người biết đến là Phòng Cố vấn Pháp luật (Office of Legal Counsel). Với các nhân viên đa phần là luật sư trẻ tài giỏi, Phòng Cố vấn Pháp luật cố vấn về tính hợp pháp và hợp hiến cho các chính sách của chính phủ. Một trong những ngôi sao của phòng này lúc đó là John Yoo, một luật sư trẻ đầy cao ngạo. Sau vụ 11 tháng 9, Yoo đệ trình quan điểm cho phép chính quyền những phạm vi ngoại lệ trong cuộc chiến chống khủng bố. Bị vong lục (memo) do John Yoo soạn thảo được sử dụng để biện minh cho cả chương trình nghe lén, lần đầu tiên cho phép chính phủ nghe lén công dân Mỹ mà không cần xin lệnh của toà án, và các biện pháp thẩm tra nặng tay, chẳng hạn như tra tấn dìm nước.

Mặc dù bề ngoài tỏ ra khá dễ dãi và thân thiện, Yoo là một quyền thủ dữ tợn trong giới công chức, với xu hướng thường qua mặt cấp trên. Bất chấp việc toàn bộ quan chức hàng đầu trong ngành Tư pháp đều thuộc phe cộng hoà bảo thủ, hình như Yoo coi họ là những kẻ ngu dốt chính trị. Một cựu viên chức Bộ Tư pháp nhớ lại, “Anh ta có thái độ trầm tĩnh, điềm đạm, gần như bàng quan, khi bàn đến những vấn đề cực kỳ nhạy cảm. Anh ta tạt qua văn phòng bạn, và nói những câu đại loại như ‘Chúng tôi vừa mới gửi một vài phân tích, không có gì quan trọng cả’.” Mãi đến sau này, theo lời cựu viên chức đó, ông ta mới pháp hiện rằng Yoo đã gửi đến Nhà Trắng bị vong lục cho phép thực hiện một chương trình chung mới – và đáng ngờ về mặt hiến pháp.

Trong Bộ Tư pháp, càng ngày càng có nhiều người coi John Yoo như một gã xoay xở lừa đảo. Các quan chức nghi ngờ về mối liên hệ giữa anh ta và David Addington, cố vấn của Phó Tổng thống Cheney. Văn phòng phó tổng thống giữ quan điểm cứng rắn là các nhà lập pháp và giới công chức không nên gây trở ngại cho ngành hành pháp trong cuộc chiến chống khủng bố. Theo một cựu trợ lý của Ashcroft, John Yoo “không kiềm chế nổi” nữa. Những xung đột này được giữ kín trong nội bộ ngành tư pháp. (Yoo từ chối không bình luận, nhưng anh ta có nói với một số người khác là mình đã báo cáo và đã được sự chuẩn y của Ashcroft, và những người chỉ trích anh ta hiện đang thực hiện việc “bình luận vuốt đuôi”).

Những khó chịu này tăng lên đến đỉnh điểm vào năm 2003, khi chiếc ghế trưởng Phòng Cố vấn Pháp luật bị bỏ trống. Tại Nhà Trắng, Gonzales muốn Yoo được bổ nhiệm và trực tiếp đến đề nghị với Bush. Theo cựu trợ lý của Ashcroft, người không muốn công khai thảo luận về những chuyện liên quan đến tổng thống, Bush ngạc nhiên khi tổng chưởng lý Ashcroft phản đối và coi Yoo là kẻ phản bội. Cuối cùng thì hai bên thoả hiệp: Jack Goldsmith, một luật sư bảo thủ, được cử vào chức vụ đó.

Cuộc chiến bấy giờ mới thực sự bắt đầu. Sau khi xem xét cẩn thận bị vong lục (cho phép chính phủ) toàn quyền hành động của John Yoo, Goldsmith cho rằng việc Bộ Tư pháp ký memo phê chuẩn những sáng kiến, chẳng hạn như chương trình nghe lén hoặc tra tấn bằng cách dìm nước, đứng về mặt pháp lý, là không được. Goldsmith nêu vấn đề này với phó chưởng lý thứ nhất Comey, và Patrick Phibin, trợ lý thứ 2 của Comey. Philbin cũng có lý lịch bảo thủ “chân chính” như Yoo – cả hai đều đã từng làm thư ký cho Thẩm phán Clarence Thomas tại Toà án Tối cao Mỹ. Nhưng cả Philbin và Goldsmith đều cứng rắn trong vấn đề này. Bộ Tư pháp không thể tiếp tục ký vào chương trình cho phép nghe lén mở rộng ra với nhiều người dân Mỹ. Một cựu trợ lý của Ashcroft cho biết, “Ðây không phải là vấn đề tư tưởng. Mà là khác biệt giữa đẩy sự việc tới giới hạn và bước qua giới hạn đó.”

Mặc dù vai trò của Bush trong chương trình nghe lén gây nhiều tai tiếng này không mấy rõ ràng, nhưng có những ám chỉ là ông ta đã tích cực tham gia. Vào buổi tối cùng ngày sau ca mổ, khi Ashcroft đang còn nửa tỉnh nửa mê trên giường bệnh, bà Janet vợ ông nhận được một cú điện thoại từ chánh văn phòng Andrew Card. Ông này hỏi bà liệu mình có thể cùng Gonzales đến nói chuyện với tổng chưởng lý được không. Bà Ashcroft trả lời là không, vì chồng mình ốm quá nặng và không thể tiếp khách. Chuông điện thoại lại reo lên lần nữa, và lần này, bà Ashcroft đành đồng ý để viên chức Nhà Trắng đến gặp chồng mình. Cú điện thoại thứ 2 này là của nhân vật nào mà đủ quyền lực để thuyết phục bà Ashcroft đồng ý? Cựu trợ lý của Ashcroft, người kể lại chuyện này, từ chối không nói rõ là ai, nhưng các quan chức cao cấp trong Bộ Tư pháp hầu như tin chắc rằng người đó chính là tổng thống. (Nhà Trắng từ chối bình luận về vai trò của tổng thống trong vụ này).

Sau đó, David Ayres, chánh văn phòng của Ashcroft, gọi điện cho phó chưởng lý Comey và báo cho ông ta là hai viên chức của Nhà Trắng đang trên đường đến gặp Ashcroft. Comey cùng một nhân viên FBI lao đến bệnh viện hòng ngăn cản vụ này, nhưng Ashcroft đủ tỉnh táo để từ chối đề nghị hai vị khách của Nhà Trắng đưa ra.

Sáng hôm sau, Tổng thống Bush gặp Comey. “Chúng tôi đã có một cuộc thảo luận thẳng thắn. Tổng thống rất chú tâm”, Comey sau này khai một cách thận trọng như vậy. Nhưng phải đến sau khi gặp Mueller thì Bush mới đồng ý với biện pháp (dù vẫn không cụ thể, nhưng chắc được giám sát kỹ hơn) đặt chương trình nghe lén lại vào vòng pháp luật. Mueller không hề cho biết ông ta nói gì với tổng thống, nhưng ta có thể đoán được là ông doạ từ nhiệm nếu không có sự thay đổi này. Bush không thể để cho Mueller ra đi, cũng không thể mạo hiểm để mất nhóm lãnh đạo Bộ Tư pháp vào năm có bầu cử chỉ vì một vấn đề nguyên tắc.

Theo một cựu quan chức Tư pháp cao cấp, những tai tiếng về chương trình nghe lén đã khiến cho quan hệ giữa Nhà Trắng và bộ sậu Ashcroft trong ngành Tư pháp trở nên “tồi tệ”. Trong vòng vài tháng, một loạt lãnh đạo hàng đầu đã từ nhiệm hoặc đặt kế hoạch từ nhiệm. Cố vấn Luật pháp của chính phủ ông Ted Olson là người đầu tiên ra đi vào mùa hè năm đó. Vào ngày bầu cử năm 2004, Ashcroft – đoán là mình không được mời làm nhiệm kỳ thứ hai – đã viết đơn xin từ nhiệm, và Bush nhanh chóng bổ nhiệm Gonzales thay thế ông. Mùa hè sau đó, đến lượt Comey từ nhiệm.

Về một mặt nào đó, cãi vã về những bổ nhiệm chính trị trong Bộ Tư pháp có vẻ như không đáng kể, ít nhất là so với những đối chất hiến pháp đầy kịch tính về chương trình nghe lén và tra tấn. Trong vai trò liên lạc viên giữa Nhà Trắng và Bộ Tư pháp, hành động của Monica Goodling giống với một uỷ viên hội đồng thành phố Chicago (nổi tiếng về truyền thống vận động chính trị – ND) hơn là một học giả luật được đào tạo ở Yale hay Harvard, người hẳn đã giao những vị trí uy tín đó cho các luật sư trẻ. Thanh tra của Bộ Tư pháp đang tiến hành điều tra xem liệu Goodling có vi phạm luật phục vụ dân sự (civil-service) hay không. Luật này yêu cầu phải bổ nhiệm những người không theo đảng phái nào vào các chức vụ như công tố viên hay thẩm phán phụ trách việc nhập cư. Goodling là một trong rất nhiều người mới tốt nghiệp ở các trường Cơ-đốc bảo thủ như Ðại học Luật Regent (do nhà truyền giáo Pat Robertson sáng lập) và đến Washington để làm việc cho chính quyền Bush. Nhưng cô ta nói rằng mình không bao giờ điều tra về niềm tin tôn giáo của dự tuyển viên.

Mark Corallo, người trước đây là trưởng phòng giao tế công chúng của Bộ Tư pháp và là sếp một thời của Goodling nói rằng tội duy nhất của cô là thiếu tế nhị. “Có thể là cô ấy đã hơi quá công khai,” Corallo cho Newsweek biết quan điểm của ông. Theo ông, “[Nhưng chúng ta] phải thừa nhận sự thực là Ðảng Dân chủ cũng làm như vậy – đảng nào mà chẳng thế. Ý tưởng viên chức nhà nghề (Bộ Tư pháp) vượt trên chính trị là hoàn toàn tào lao. Những kẻ được cho là nhà nghề nhất phần lớn đều thuộc phe Dân chủ tự do.” Ông ta nhắc lại là tại Văn phòng Công tố ở San Francisco, nhân viên đã từ chối treo ảnh Bush, Cheney và Ashcroft trong suốt nhiều tháng trời.

Mặc dầu vậy, vẫn có những cựu viên chức ngành Tư pháp có quan điểm cao quý hơn. Comey là một người như vậy. Ông nói trước Uỷ ban Pháp chế Hạ viện là mỗi ngày, các công tố viên phải trình bày các vụ việc trước bồi thẩm đoàn gồm nhiều lý tưởng chính trị khác nhau; nếu bồi thẩm đoàn thấy họ chỉ là các chính trị gia thì điều đó sẽ là hồi chuông báo tử cho nhiều vụ án chính đáng. Theo ông, việc lựa chọn công tố viên dựa vào xu hướng chính trị của họ là cáo buộc “tồi tệ nhất” về Bộ Tư pháp mà ông từng biết. “Nếu vụ việc đó thực sự đã xảy ra”, ông nói, “thì nó đánh vào tận cốt lõi điều mà Bộ Tư pháp đại diện.” Hoặc đã từng đại diện.

Bản tiếng Việt © 2007 talawas

 
© talawas 2026