trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
16.8.2006
Judy Dempsey
Các nước hậu cộng sản: Đất còn rung chuyển dưới chân
 

Tháng 6 năm nay, vào một buổi chiều trời quang mây tạnh, tại lâu Livadia ở Yalta có rất nhiều khoa học gia và chính trị gia tụ họp. Hơn sáu mươi năm trước, cũng tại cung điện mùa hè của hoàng gia này, tương lai của châu Âu đã được Joseph Stalin, Winston Churchill và Franklin Roosevelt định đoạt bằng cách chia thành hai khu vực: khu vực chịu ảnh hưởng của phương Tây và khu vực chịu ảnh hưởng của Liên Xô.

Trong cuộc họp này các chuyên gia cố gắng tìm hiểu xem làm thế nào mà nguồn năng lượng to lớn, được giải phóng từ cuộc Cách mạng Cam vào tháng 12 năm 2004, lại bị hướng vào những tranh chấp nội bộ và đưa Ukraine vào đường hầm không lối thoát về mặt chính trị. Cuộc gặp được thực hiện dưới sự bảo trợ của tổ chức gọi là Yalta European Strategy, một tổ chức quốc tế ủng hộ Ukraine gia nhập Liên hiệp châu Âu (EU). Tuần trước, Tổng thống Viktor Yushchenko, lãnh tụ của cuộc Cách mạng Cam đã phải làm một việc nhục nhã, đấy là bổ nhiệm Viktor Yanukovich, kẻ thù chính của mình, một người được Nga ủng hộ, vào chức vụ thủ tướng.

Nhưng người ta càng nói nhiều về những chuyện đáng lẽ không nên xảy ra ở Kiev thì người ta lại càng chú ý tới tám nước thành viên cũ của Hiệp ước Warszawa, đồng minh bạn của Ukraine, được kết nạp vào Liên hiệp châu Âu từ ngày 1 tháng 5 năm 2004. Dù tại Đông Âu đã diễn ra những thay đổi to lớn kể từ năm 1989, thì quan niệm chung vẫn là, cũng giống như ở Ukraine, cuộc cách mạng chưa giành được thắng lợi trọn vẹn.

Ở Ba Lan, hai anh em sinh đôi nhà Kaczynski, Lech là tổng thống, còn Jaroslaw là thủ tướng, cực kì sốt sắng trong việc hoàn thành nốt cuộc cách mạng. Nhưng con đường của họ rất đáng được đem ra thảo luận: Mục đích của họ là xây dựng một nước Cộng hoà Ba Lan mới, độc lập với những giá trị do Liên hiệp châu Âu áp đặt mà họ cho là dân chủ quá trớn. Chính phủ của những người bảo thủ và dân tộc chủ nghĩa ở Ba Lan đang tìm cách khôi phục án tử hình, giới hạn quyền của những người đồng tính, tăng vai trò của nhà nước trong việc điều tiết nền kinh tế và tăng ảnh hưởng của nhà thờ Thiên chúa giáo La Mã trong xã hội. Nhưng điều họ khao khát nhất chính là: Xoá sổ tàn dư cộng sản.

Slovakia, nơi chính phủ do những người xã hội dẫn dắt vừa tuyên thệ nhậm chức vào tuần trước, cũng làm người ta lo ngại. Chính phủ của thủ tướng Robert Fico có đại diện của Đảng Dân tộc, một đảng theo xu hướng bài ngoại do Jan Slota lãnh đạo và Phong trào Quốc gia vì nước Slovakia Dân chủ do Vladimir Meciar lãnh đạo, tham gia. Khi còn cầm quyền vào thập niên 1990, Meciar đã cho kiểm duyệt các phương tiện truyền thông đại chúng, đe doạ phong trào đối lập và không thực hiện bất cứ biện pháp nào nhằm loại bỏ tham nhũng và tội phạm có tổ chức trong lĩnh vực kinh tế.

Vì vậy ta sẽ không lấy gì làm ngạc nhiên khi biết rằng mãi đến năm 1998 NATO và EU vẫn tránh Slovakia, năm đó cử tri đã không bầu cho Meciar mà chọn Mikulas Dzurinda, chính chương trình cải cách của ông này đã đưa đất nước vào cả hai tổ chức nói trên vào năm 2004. Mặc dù cải cách kinh tế ở Slovakia được mọi người ca tụng, tháng trước cử tri vẫn bỏ phiếu cho những người theo đường lối xã hội và dân tộc chủ nghĩa vì họ hứa sẽ giảm tốc độ quá trình cải cách. Slota còn đe doạ cắt bớt quyền của người thiểu số Hungaria và người Di-gan

 

Cộng hoà Tiệp, nơi chính phủ bị chao đảo vì tai tiếng từ hết vụ tham nhũng này đến vụ tham nhũng khác, sau cuộc bầu cử cách đây hai tháng đã rơi vào tình trạng tê liệt. Những người bảo thủ và xã hội giành được số ghế ngang nhau trong Quốc hội. Mặc dù theo đuổi chính sách giống nhau, họ vẫn không thể thành lập được một liên minh cầm quyền rộng lớn.

Ở Estonia, Latvia và Lithuania hầu như năm nào cũng phải bầu lại chính phủ một lần. Tháng trước chính phủ Lithuania đã phải từ nhiệm vì một vụ tham nhũng bị phát hiện. Tại Bulgaria và Romania, những nước hi vọng được kết nạp vào EU vào ngày 1 tháng Giêng sang năm, tình hình còn tồi tệ hơn. Hệ thống tư pháp của hai nước này bị tê liệt vì áp lực chính trị và tham nhũng, nạn buôn người và buôn bán ma túy tiếp tục hoành hành, nhất là ở Bulgaria.

Một số căn bệnh của Đông Âu có nguồn gốc từ truyền thống chính trị yếu kém của các nước này. Các nước đó chỉ được trải nghiệm một giai đoạn dân chủ rất ngắn ngủi giữa hai cuộc thế chiến. Ngoài ra, vấn đề kinh tế cũng có ảnh hưởng lớn. Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế được ghi nhận là cao so với các nước thành viên cũ, các thành viên mới của EU đang phải vật lộn với nạn thất nghiệp. Anders Aslund, chuyên viên nghiên cứu thuộc Viện Kinh tế Quốc tế ở Washington cho rằng tỉ lệ thất nghiệp ở Ba Lan là 18%, còn ở Slovakia là 16%.

Cách thức các nước này ra nhập EU cũng là vấn đề. Cả hai bên đều đặc biệt chú trọng tới việc thành lập thị trường tự do và hệ thống pháp luật phù hợp với 80.000 trang văn bản pháp luật của EU. Việc xây dựng các thiết chế chính trị, đặc biệt là hệ thống toà án và các chính quyền hành pháp độc lập và các đảng chính trị mạnh đã không được chú ý đúng mức.

“EU đặt ra các tiêu chuẩn chính trị, nhưng các tiêu chuẩn này rất mù mờ. Khi chúng tôi đàm phán thì kỉ luật trong EU rất nghiêm ngặt. Nhưng nay kỉ luật đã không còn nữa”, Pawel Swieboda, cựu trưởng ban châu Âu của Bộ Ngoại giao Ba Lan và hiện là giám đốc một trung tâm nghiên cứu độc lập có tên là demosEuropa ở Warszawa, đã nói như thế.

Nhưng không chỉ truyền thống chính trị yếu kém hay Brussels có lỗi trong chuyện này. Sự thất bại trong việc xây dựng các thiết chế chính trị độc lập có nguồn gốc từ sự sụp đổ của các chế độ cộng sản vào năm 1989. Khi cơ cấu quyền lực vẫn hiện diện hàng ngày sập xuống thì giới tinh hoa cộng sản đã nhanh chóng và lặng lẽ chuyển dịch cơ sở quyền lực của họ vào lĩnh vực kinh tế. Trong quá trình tư nhân hoá hỗn loạn, được thúc đẩy bởi các cố vấn phương Tây, những người cho rằng các nền kinh tế tập trung phải được cải cách càng nhanh càng tốt, các quan chức cộng sản cũ đã giành được những những vị trí mới, đầy quyền lực.

“Trong quá trình tư nhân hoá diễn ra nhanh chóng như thế, các nhà quản lí cộng sản mới đã giành được quyền kiểm soát các xí nghiệp. Sau này họ đã biến quyền lực trong lĩnh vực kinh tế thành quyền lực trong lĩnh vực chính trị”, ông George Schöpflin, giáo sư chính trị học, thành viên nghị viện châu Âu đại diện cho đảng đối lập gọi là Fidesz của Hungaria nhận định.

Cùng với thời gian, quá trình tư nhân hoá càng mở rộng thì các nhà quản lí mới, các nhà quản lí hậu cộng sản càng giầu thêm. Họ đã dùng tiền của mình để tô son trát phấn cho các đảng thoát thai từ các đảng cộng sản cũ, tạo cho chúng hình ảnh mới và tên gọi mới. Đặc biệt là ở Ba Lan, Hungaria, Romania, Bulgaria và Slovakia, các nhà quản lí hồi thập niên 1990 đã trở thành các đầu lĩnh đảng phái chính trị trong thế kỉ XXI.

Điều đó có thể lí giải vì sao chế độ dân chủ ở các nước này vẫn còn chưa vững chắc. “Tại nhiều nước”, giáo sư Schöpflin nói, “chế độ cộng sản vẫn để lại những vấn đề hóc búa chưa thể tiêu hoá nổi”. Điều đó gây ra sự thất vọng của xã hội đối với các đảng phái chính trị, khắp các nước Đông Âu, người ta đều coi các đảng phái “là một bọn hoạt đầu và đáng ngờ”, Swieboda nói.

Phải trong khung cảnh như thế ta mới dễ dàng hiểu được vì sao anh em sinh đôi nhà Kaczynski ở Ba Lan và những người theo đường lối dân tộc chủ nghĩa ở Slovakia đã giành được chính quyền nhờ vào lời hứa chấm dứt nạn tham nhũng do cộng sản để lại. Nhưng một số người lại sợ rằng lòng nhiệt tình của họ sẽ đưa tới chính sách báo thù, tương tự như các chiến dịch thanh trừng thời cộng sản, khi những người không ủng hộ chính quyền bị coi là không đáng tin về mặt chính trị và bị loại bỏ.

Nếu điều đó xảy ra thì việc xây dựng một chính quyền hành pháp độc lập và hữu hiệu và một hệ thống tư pháp công bằng và không thiên vị là việc bất khả thi. Nếu như thế thì việc các cử tri sẽ quay lưng lại với các lãnh tụ hiện nay và mất hết niềm tin vào những cuộc bầu cử trung thực sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian. Nếu điều đó xảy ra thì các cuộc cách mạng ở Đông Âu sẽ giống như cách mạng ở Ukraine, nghĩa là chưa hoàn thành, các nền dân chủ chưa hoàn thiện và sự thống nhất châu Âu vẫn rất mong manh.

Bản tiếng Việt © 2006 talawas

 
© talawas 2026