trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
11.8.2006
Francis Fukuyama
Lịch sử chống lại ông ta
 

Khi mới bắt đầu sự nghiệp chính trị, Hugo Chávez – Tổng thống Venezuela, đã tấn công quan điểm của tôi rằng nền tự do dân chủ cùng với kinh tế thị trường là xu hướng tiến hoá cuối cùng của xã hội hiện đại, là “sự cáo chung của lịch sử”. Khi được hỏi sau sự cáo chung của lịch sử sẽ là cái gì, ông ta đã trả lời bằng một từ: Chavismo (chủ nghĩa Chávez).

Thật là phi lí khi cho rằng Venezuela hiện nay đại diện cho một mô hình xã hội ưu việt hơn chế độ dân chủ tự do. Trong tám năm cầm quyền, Chávez đã sử dụng tiền của do dầu mỏ mang lại để kiểm soát quốc hội, toà án, công đoàn, uỷ ban bầu cử và các công ty dầu khí quốc gia. Đạo luật được quốc hội xem xét về việc hạn chế tài trợ từ nước ngoài sẽ gây trở ngại cho các tổ chức phi chính phủ. Những người đã kí tên vào lời kêu gọi chống lại Chávez trước cuộc trưng cầu dân ý năm 2004 sau này đã phát hiện thấy tên tuổi của mình trên Web site của một đại biểu quốc hội thân Chávez, nếu những người này làm việc cho chính phủ hoặc muốn thực hiện các đơn hàng của chính phủ thì họ sẽ mất việc và mất cơ hội.

Sự thành công của Chávez trong việc tạo dư luận, bằng cách ve vãn Fidel Castro của Cuba, kí hợp đồng mua vũ khí của Nga, thăm Iran và liên tục phê phán Mĩ, đã làm cho nhiều người nghĩ rằng Chavismo là tương lai của châu Mĩ Latin. Bằng cách giữ lại một số biểu hiện của tự do, kể cả tự do ngôn luận một cách tương đối, bầu cử dân chủ giả hiệu, Chávez đã tạo ra cái mà một số nhà quan sát gọi là chế độ chuyên chế hậu hiện đại, tức không hoàn toàn dân chủ mà cũng không toàn trị tuyệt đối; một loại con lai tả khuynh với tính chính danh mà các chế độ Castro ở Cuba hay ở Liên Xô chưa bao giờ đạt được.

Một số nước châu Mĩ Latin, trong đó có Bolivia, nơi Evo Morales, một người có tư tưởng gần gũi với Chávez đã giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tổng thống vừa qua, đang ngả theo xu hướng tả khuynh hậu hiện đại này. Mặc dù vậy, xu hướng chủ đạo tại Tây bán cầu vẫn là tích cực: Dân chủ được củng cố, các cuộc cải cách về kinh tế và chính trị được tiến hành hứa hẹn một tương lai tốt đẹp hơn. Venezuela không phải là mẫu hình cho khu vực; thật ra, con đường của nó là độc nhất vô nhị, đấy là sản phẩm của nguồn tài nguyên thiên nhiên, một nguồn lợi làm cho nó tương đồng với Iran hay Nga chứ không phải bất kì nước Mĩ Latin nào khác. Chavismo không phải là tương lai của Mĩ Latin, mà là quá khứ của nó.

Làm sao Venezuela lại rơi vào hoàn cảnh như thế? Câu trả lời là: dầu hoả, dầu hoả và một lần nữa vẫn là dầu hoả.

Chế độ chính trị hiện nay ở Venezuela là kết quả của các cuộc đàm phán giữa lãnh tụ hai đảng chính trị truyền thống vào năm 1958 tại một khách sạn ở Miami; văn bản được họ kí kết đã tạo ra một nền dân chủ có sức sống bảm đảm một sự ổn định suốt bốn thập niên. Nhưng sự ổn định chính trị không tạo ra một nền kinh tế vững mạnh. Với sự gia tăng thu nhập về dầu hoả trong suốt những năm 1970, Venezuela không có nhu cầu xây dựng một nền kinh tế hiện đại, một nền kinh tế không chỉ dựa vào xuất khẩu dầu mỏ. Một số hàng hoá như café và trà mà nước này có thời xuất khẩu đã mau chóng cạn kiện. Và thay vì thúc đẩy sự năng động xã hội và củng cố các thiết chế xã hội thì hai đảng chính trị lại đi mua hoà bình bằng cách đem tiền bán dầu tài trợ, đầu tư cho lĩnh vực quốc doanh và bảo hộ sản xuất.

Venezuela không bị ảnh hưởng bởi cuộc khủng hoảng nợ nần như nhiều nước Mĩ Latin khác hồi cuối những năm 1980, chính cuộc khủng hoảng này đã cứu các nước như Brazil, Mexico và Peru khỏi những chính sách kinh tế mị dân tồi tệ nhất. Khác với các nước đó, tại Venezuela mức sống của người dân giảm sút nghiêm trọng khi giá dầu hạ trong suốt thập kỉ 1980. Đất nước này chưa trở thành một phần của nền kinh tế toàn cầu, ngoại trừ lĩnh vực năng lượng, và không có những ngành công nghiệp đủ sức cạnh tranh để có thể dựa vào khi cần. Chávez và những người cánh tả khác lên án quá trình toàn cầu hoá và chính sách kinh tế “tân tự do” là đã gây ra khó khăn cho Venezuela, nhưng trừ giai đoạn cầm quyền ngắn ngủi của tổng thống Carlos Andrés Pérez hồi cuối thập niên 1980 đầu thập niên 1990, đất nước này chưa bao giờ thực sự tìm cách đưa nền kinh tế của mình hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Thời gian cầm quyền của Chávez không tạo ra nhiều thay đổi như những người ủng hộ cũng như chống đối ông ta vẫn nghĩ. Việc giá dầu tăng lên trong thời gian gần đây lại một lần nữa đưa Venezuela ra khỏi tác động của các qui luật kinh tế. Chính quyền của Tổng thống Chávez đã áp đặt rất nhiều biện pháp nhằm kiểm soát việc trao đổi ngoại tệ, kiểm soát giá cả, giới hạn quyền của người sử dụng lao động trong việc thuê mướn và cho thôi việc và thúc đẩy các giao dịch thương mại và đầu tư trên cơ sở các tính toán chính trị. Tất cả các chính sách như thế càng làm cho khu vực kinh tế tư nhân của Venezuela đã yếu lại càng yếu thêm. Nhưng nhờ khoản thu nhập to lớn từ ngành dầu khí mà kinh tế Venezuela đã có bước phát triển vượt bậc trong hai năm qua. Nếu giá dầu mỏ vẫn giữ ở mức cao thì người ta sẽ không thể nhận ra sự phi lí của Chávez trong lĩnh vực kinh tế.

Lịch sử đặc thù của Venezuela cho ta thấy tại sao Chávez không đại diện cho tương lai của khu vực này. Brazil, Mexico và Peru, những nước không có nguồn tài nguyên dầu mỏ như Venezuela, biết rằng họ sẽ phải trả giá đắt nếu thi hành những chính sách khác thường như thế; họ đã thử và đã rước vạ vào thân rồi. Không phải vô tình mà chế độ độc tài hậu hiện đại thu được thành công tại các nước có nhiều dầu mỏ như Iran, Nga và Venezuela. Tổng thống Morales của Bolivia, một người có tham vọng trở thành Chávez thứ hai, sẽ nhanh chóng nhận ra rằng nguồn khí đốt của nước ông không phải là món hàng có thể sánh được với dầu mỏ của Venezuela. Bạn hàng duy nhất của Morales là Brazil, nhưng ông ta đã kịp biến nước này thành kẻ thù khi quốc hữu hoá khoản đầu tư nước ngoài, mà chủ yếu là của Brazil, trong lĩnh vực năng lượng.

Các lực lượng chính trị giữ thế thượng phong ở Mĩ Latin, trong khi đưa những chính khách tả khuynh lên cầm quyền, lại thi hành những chính sách trái ngược hoàn toàn với Venezuela. Các ngân hàng trung ương và các bộ trưởng tài chính khu vực có khả năng giữ chính sách tiền tệ và tài chính ổn định hơn so với trước đây, ngay cả các tổng thống tả khuynh như Luiz Inácio Lula da Silva của Brazil và Néstor Kirchner của Argentina cũng không có ý xa rời đường lối kinh tế chính thống.

Trong khi Chávez chính trị hoá các thiết chế ở Venezuela thì Mexico, ngược lại, đã biến toà án tối cao và uỷ ban bầu cử liên bang thành các thiết chế độc lập. Brazil và Colombia đã gia tăng quyền lực cho chính quyền địa phương, cho phép tiến hành những thử nghiệm về tự quản trong lĩnh vực ngân sách và giáo dục; còn Brazil và Mexico thì thực thi các chính sách nhằm nâng cao thu nhập của các tầng lớp nghèo khổ và khuyến khích họ đưa con em đến trường.

Đã xuất hiện những chỉ dấu của sự bất mãn với đường lối của Chávez. Trong khi kịch liệt phê phán sự can thiệp của Hoa Kì vào Mĩ Latin, Chávez lại cố gắng quảng bá cho những người theo đường lối mị dân như Ollanta Humala của Peru và Andrés Manuel López Obrador của Mexico. Dân chúng các nước lân bang tỏ ra phẫn nộ và đã trừng phạt các ứng cử viên thân Chávez trong những kì bầu cử vừa qua. Không loại trừ khả năng là López Obrador của Mexico thất bại trong lần bầu cử tổng thống vừa qua là do Chávez, vì số phiếu mà ông ta bị mất do số cử tri bất mãn với chính sách can thiệp của Venezuela còn nhiều hơn cách biệt không đáng kể giữa ông ta và người chiến thắng trong cuộc bầu cử này.

Chávez chiếm được cảm tình của các tầng lớp nghèo khổ là nhờ chính sách xã hội của ông ta. Ông ta bắt đầu thi hành những cải cách mới như thành lập một loạt các trạm xá trong các khu vực nghèo khổ nhất và nơi có các bác sĩ Cuba chữa bệnh cho người nghèo. Ông ta cũng thành lập các nhà ăn được trợ giá và chia ruộng cho nông dân. Một số chính sách, như xây dựng trạm xá, đáp ứng được nhu cầu cấp bách của xã hội và đáng ra phải được thực hiện từ lâu; trong khi một số chính sách khác, như tài trợ về lương thực thực phẩm thì khó giữ được khi giá dầu hạ.

Để đối phó với Chavismo, phải công nhận rằng bất công xã hội là nguồn gốc của chủ nghĩa dân tuý. Những người ủng hộ tự do chính trị và kinh tế ở Mĩ Latin thường nghi ngờ những cuộc thử nghiệm chính trị và kinh tế to tát, coi chúng là con đường đưa tới các chính phủ cồng kềnh và kém hiệu quả về kinh tế. Nhưng chỉ thị trường tự do không thôi cũng khó đáp ứng được nhu cầu của các tầng lớp nghèo khổ và các nhà chính trị theo đường lối dân chủ phải đưa ra được những chính sách xã hội phù hợp với thực tế cho dân chúng lựa chọn.

Nhưng xác lập được một chính sách xã hội đúng đắn là một việc thiên nan vạn nan: Nếu chính sách đó không khuyến khích được các tầng lớp nghèo khổ tự giúp mình thì nó có thể nuôi dưỡng sự ỷ lại và tạo ra một sự thiếu hụt tài chính không thể kiểm soát nổi. Ở Brazil, chính phủ của tổng thống Lula đã thông qua chương trình tái phân phối lợi nhuận có lợi cho người nghèo, nhưng lại buông lỏng các thủ tục bắt buộc cha mẹ phải cho con em đi tới trường. Chính sách thị trường cũng không phải là liều thuốc trị bá bệnh: Ngay cả Chile, một đất nước có hệ thống trường học tư chất lượng cao, mùa xuân vừa qua cũng phải chứng kiến những cuộc biểu tình râm rộ của sinh viên phản đối chất lượng quá thấp của các trường công lập.

Các chính phủ dân chủ ở Mĩ Latin còn phải làm việc một cách kiên nhẫn nhằm nâng cao chất lượng các thể chế xã hội của mình, họ phải cải thiện những việc đơn giản như cấp giấy phép kinh doanh, bảo đảm quyền sở hữu tài sản và đấu tranh chống tội phạm. Không có giải pháp chung cho tất cả; cần có những thử nghiệm tại từng địa phương, thí dụ như sáng kiến “tài chính công khai” được thực hiện ở thành phố Porto Alegre của Brazil từ đầu những năm 1990, cho phép các tổ chức xã hội-công dân tiếp cận với thông tin về ngân sách và buộc các chính khách phải chỉ ra được họ đã chi tiền cho những việc gì. Một nền hành chính công kém hiệu quả không chỉ cản trở sự phát triển kinh tế mà còn làm mất tính chính danh của các thiết chế dân chủ, dẫn đến bất mãn và bùng nổ bạo lực.

Tháng 12 năm ngoái, cây cầu nối thủ đô của Venezuela với sân bay quốc tế bị sập, xe cộ phải chạy qua núi và thế là đáng lẽ đi 45 phút thì người ta phải mất mấy tiếng đồng hồ trên đường. Xe cộ hiện vẫn chạy trên con đường dự phòng chỉ có hai làn xe; phải mấy tháng nữa cây cầu mới chữa xong. Cây cầu là hình ảnh thu nhỏ của đất Venezuela hôm nay: Trong khi Chávez bay đến Minsk, Moscow và Tehran để tìm kiếm ảnh hưởng và uy tín thì cơ sở hạ tầng của đất nước lại đang sụp đổ.

Chế độ độc tài hậu hiện đại của Chávez ở Venezuela chỉ đứng vững được khi giá dầu còn giữ ở mức cao. Nhưng khác hoàn toàn chế độ toàn trị, nó vẫn cho phép các cuộc bầu cử một cách dân chủ và đáp ứng được các nhu cầu thực sự của xã hội. Tại cuộc hội thảo của các nhà doanh nghiệp hàng đầu ở đây, tôi đã chứng kiến nhiều diễn giả công khai chỉ trích Chávez; nhận xét của họ được các phương tiện thông tin đại chúng đăng tải. Venezuela không phải là một nhà nước cảnh sát, ít nhất là cho đến nay thì chưa.

Chavismo là một mối đe doạ. Nhưng đấy không phải là tương lai của châu Mĩ Latin, nếu những người dân chủ trong khu vực có thể giảm thiểu được bất bình đẳng xã hội thông qua các chính sách xã hội và nâng cao được hiệu quả của các thiết chế công cộng. Dĩ nhiên là quá trình phát triển như thế không phải là sự cáo chung của lịch sử. Đấy chỉ là sự cáo chung của Chavismo mà thôi.

Francis Fukuyama là giáo sư chính trị kinh tế học tại Viện các vấn đề mũi nhọn quốc tế (School of Advanced International Studies) của trường Đại học Johns Hopkins.

Bản tiếng Việt © 2006 talawas

 
© talawas 2026