trang chủ talaCu ▼ 2005 – 2008 2009 – 2010 Ý kiến ngắn spectrum sách mới tòa soạn hỗ trợ talawas
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đinh Bá Anh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Minh Ngọc
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Lưu Linh
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Diễm Chi (2822)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Nguyễn Đăng Thường
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Đào Nguyên (3097)
Ý kiến ngắn
2.11.2008
Hoàng Ngọc Hiến
Triết học
2.11.2008
Kiệt Tấn
Thơ và Thơ Trẻ
2.11.2008
Hoàng Hưng
Giáo dục
2.11.2008
Nam Đan
Lịch sử
2.11.2008
Jorn Rusen
talawas chủ nhật
2.11.2008
Walter Skrobanek
Tủ sách talawas
1.11.2008
Nguyễn Mộng Giác
Tôn giáo
1.11.2008
Walter Russel Mead
17.4.2006
 
Tường trình Bertelsmann về Việt Nam
 

Việt Nam

Chỉ số tình trạng chuyển đổi: 4,34
(Dân chủ: 3,10 ; Kinh tế Thị trường: 5,57)
Chỉ số điều hành chính trị: 4,35
Chỉ số phát triển con người (HDI) 0,704 Dân số 82 triệu
GDP/đầu người (USD, PPP) 2.490 Tăng dân số 1,9% (1)
Tỉ lệ thất nghiệp không có số liệu Phụ nữ trong Nghị viện 27,3%
Chỉ số giáo dục (theo LHQ) 0,82 Nghèo khổ 17,7% (2)
    Chỉ số Gini 37,0
Nguồn: UNDP: Tường trình về Phát triển Con người 2005. Các biểu đồ cho năm 2003 – nếu không có chỉ dẫn khác.

(1) Mức tăng hàng năm giai đoạn 1975-2003. (2) Dân số sống dưới mức 1 USD (1990-2002), Nguồn: UNDP: Tường trình về Phát triển Con người 2004.

A. Sơ lược về việc thực hiện [những chuyển đổi và điều hành chính trị]

Việt Nam chưa tỏ bất kỳ dấu hiệu tự do hóa chính trị nào hướng đến sự chuyển tiếp dân chủ. Các quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam có tính pháp lệnh. Trong khi dung thứ cho phê bình trong nội bộ Đảng có tăng lên, khó mà nói điều đó cũng đúng cho đối lập bên ngoài cơ chế Đảng – Nhà nước.

Cơ chế Đảng – Nhà nước hiện diện khắp nước với một chính quyền bao gộp ba nhánh hành pháp, lập pháp, tư pháp, và cả cơ cấu hành chính hạ tầng. Dù có những cố gắng tản quyền, tiến trình đưa ra quyết định chính trị chỉ xảy ra ở Hà Nội, và sự tập quyền này kết hợp với mức độ tham nhũng cao dẫn đến sự thực thi không hoàn chỉnh nhiều chính sách.

Bầu cử dân chủ không tồn tại ở cấp quốc gia hay địa phương. Tuy nhiên, cuộc “bầu cử” vào Quốc hội gần đây nhất hồi tháng Năm 2002 đã tạo ra các thành phần đại biểu rộng rãi hơn so với các cuộc bầu cử trước đó.

Chính quyền đã phản ứng một cách khắc nghiệt với những cuộc phản kháng của các dân tộc thiểu số trong những năm gần đây, nhưng cũng loan báo một sự cởi mở hơn và các cơ hội được cải thiện cho sự tham dự chính trị của các tôn giáo và người dân tộc.

Phân quyền không tồn tại. Nhánh tư pháp chịu sự sai khiến rõ ràng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như một kết quả của sự hòa nhập với quốc tế đang diễn ra của Việt Nam, hệ thống pháp luật của Việt Nam đã trải qua vài cuộc cải tổ. Tuy nhiên, nói chung hệ thống luật pháp của Việt Nam vẫn chưa tuân theo hệ thống luật pháp quốc tế.

Chính quyền đã thực hiện được một vài tiến bộ khiêm tốn trong chống tham nhũng, nhưng tham nhũng vẫn hoành hoành.

Bảo đảm các quyền dân sự nói chung được cải thiện, nhưng nó vẫn chỉ tồn tại một cách cục bộ. Sự vi phạm các quyền dân sự và nhân quyền căn bản thì rành rành, đặc biệt quan ngại cho các dân tộc thiểu số.

Trong tất cả các quốc gia cộng sản và cựu cộng sản ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Việt Nam đã biểu thị cam kết theo đuổi kinh tế thị trường rõ ràng nhất. Dù những chính sách cải tổ đã bám trụ được trên nhiều phạm vi và thu được kết quả, thể hiện ở tỉ suất tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội cao nhất trong khu vực và có một tỉ suất đầu tư ngoại quốc đáng ao ước, một số câu hỏi liên quan tới việc tái tổ chức các xí nghiệp quốc doanh, cấp nợ, và vai trò của nhà nước trong phát triển vẫn chưa có câu trả lời.

Trong khi chính quyền công nhận sự cần thiết của những can thiệp có mục tiêu nhằm chiếu cố tới các nhóm bị thua thiệt, chẳng hạn như các nhóm dân tộc thiểu số, và tạo được một số tiến bộ trong việc chống lại nghèo khổ, thì bất cân xứng thu nhập và cách biệt xã hội đã có phần tăng lên.

Bước ngoặt đầu tiên cho sự phát triển hướng về một nền kinh tế đặt căn bản trên thị trường của Việt Nam là sự thi hành một luật doanh nghiệp mới trong năm 2000, mà đã đơn giản hóa quá trình thành lập doanh nghiệp mới bằng cách giảm nhẹ các thủ tục nộp đơn.

Các điều kiện luật pháp mới lẫn môi trường chính trị thay đổi đã châm ngòi cho một cơn bùng phát các doanh nghiệp tư nhân mới. Tuy nhiên, cùng lúc, các chính sách nhà nước và luật pháp vẫn ưu đãi các xí nghiệp quốc doanh hơn khu vực tư.

Việt Nam hiện đang đàm phán để gia nhập Tổ chức Mậu dịch Quốc tế và hoàn tất chín vòng đàm phán với phía hữu trách WTO. Thành công quan trọng nhất tới nay là việc kết thúc các đàm phán song phương với Liên hiệp Âu châu.

Hợp tác với các tổ chức cấp viện quốc tế nói chung không có vấn đề gì, và thu được những kết quả góp phần đáng kể cho cải tổ, chẳng hạn như các chương trình chống nghèo khổ và các chương trình bảo vệ môi trường.

Các nhà cấp viện cho Việt Nam đã khen ngợi Việt Nam tăng trưởng kinh tế “đều và rộng”, sự ổn định kinh tế vĩ mô và tỉ suất đầu tư cao. Tuy nhiên, họ cũng thúc giục Việt Nam tăng cường quản lý các ngân hàng thương mại quốc doanh và cần chú ý nhiều hơn để bảo đảm rằng ích lợi của tăng trưởng được san sẻ đều cho các nhóm kinh tế và xã hội.

Dù Việt Nam đã có những thành công đáng kể trong việc cải tiến các điều kiện khung cho kinh tế vĩ mô, sự tụt lại đàng sau của các kết cấu hành chính và thể chế cũng đã trở nên rõ rệt hơn.

Không có một truyền thống xã hội dân sự theo quan niệm phương Tây, các tổ chức xã hội dân sự của Việt Nam nhận thức chính mình như các tổ chức làm việc trong phạm vi của chính quyền Việt Nam chớ không phải bên ngoài hoặc độc lập với hệ thống Đảng – Nhà nước.

Tham dự chính trị của phụ nữ ở Việt Nam lớn hơn so với bất kỳ quốc gia nào ở Á châu.

B. Lịch sử và các đặc điểm của chuyển đổi

Sau những cố gắng cải tổ thất bại diễn ra giữa những năm 1979 và 1985, Đại hội VI Đảng Cộng sản Việt Nam đã khởi sự chương trình cải tổ kinh tế “đổi mới”. Thông qua đó, Đảng đã thú nhận sự thất bại của nền kinh tế kế hoạch hóa trung ương và dọn đường cho một nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, các cải cách kinh tế chỉ được đi kèm bằng các thay đổi cơ cấu ít ỏi trong hệ thống chính trị, và chúng tiếp tục thiếu ngay cả những cố gắng dân chủ hóa sơ đẳng. Chưa có chỉ dấu của bất kỳ dịch chuyển nào hướng về một hệ thống đa đảng, và tiêu điểm cải cách chính trị phần lớn nằm ở cải tiến nguyên tắc luật pháp, đặc biệt trong giảm thiểu mức độ tham nhũng cao. Về tham nhũng, Việt Nam chỉ xếp hạng khá hơn Bangladesh, Indonesia và Ấn Độ ở Á châu. Trong khi chính quyền ghi điểm được trong một số thành công nhằm loại trừ nạn hối lộ, các cố gắng này hầu như chỉ gắn với các cố gắng thu hút đầu tư, mà không biểu thị ước muốn cải tổ chính trị nền tảng. Vì vậy, các mô tả tiếp theo chỉ giới hạn trong khu vực kinh tế mà thôi.

Các biện pháp cải cách ban đầu, như việc giảm thiểu đáng kể những rào cản đối với mậu dịch nội địa và các bước hướng đến tự do hóa ngoại thương, phần lớn vẫn không hiệu quả do tỉ suất lạm phát phi mã ở hàng ba con số. Chỉ đến khi giảm thiểu vai trò của các hợp tác xã nông nghiệp, việc bãi bỏ hoàn toàn cơ cấu kinh tế kế hoạch hóa cùng với thả nổi giá cả cho phần lớn hàng hóa và dịch vụ, và các biện pháp mở rộng tự do mậu dịch bổ sung trong các năm 1988 và 1989, các kết quả mong ước mới bắt đầu được nhìn thấy. Các kết quả này bao gồm sự giảm thiểu tỉ suất lạm phát hàng năm xuống 2,7% (1998-2003), và sự nổi lên của Việt Nam ở vị trí là nhà xuất khẩu gạo lớn thứ ba và nhà xuất khẩu hạt cà phê lớn thứ hai trên thế giới.

Vì vậy, chỉ trong vài năm, Việt Nam đã bãi bỏ nền kinh tế kế hoạch hóa trung ương kiểu Stalin vốn đã được đưa vào miền Bắc Việt Nam từ 1954 và áp đặt lên cả Nam Việt Nam sau khi thống nhất đất nước vào năm 1975. Dù khu vực kinh tế trung ương tiếp tục bị thống trị bởi các xí nghiệp quốc doanh, chúng cũng hoạt động theo các nguyên tắc tư bản và cạnh tranh với số xí nghiệp tư đang tăng. Đổi mới không phải không có những bước thụt lùi, bị trầm trọng thêm bởi các yếu tố bên ngoài. Cuộc khủng hoảng kinh tế lớn vào năm 1985, được đánh dấu bằng siêu lạm phát, đói kém, và hiện tượng thuyền nhân, được nối tiếp bằng sự sụp đổ của Liên Xô trong năm 1990, mà có nghĩa là Việt Nam mất đi đối tác thương mại và người cung cấp viện trợ quân sự và phát triển quan trọng nhất.

Nhờ một chính sách ngoại giao thành công, đặt tiêu điểm ở đa dạng hóa quan hệ quốc tế, chính phủ Việt Nam có thể hấp thụ những hệ quả kinh tế và chính trị của các thay đổi cơ cấu quốc tế tốt hơn các chính quyền cộng sản khác. Trong những năm 1990, Việt Nam tăng gấp năm lần các quan hệ quốc tế, gia nhập vào các tổ chức quốc tế toàn cầu và khu vực quan trọng nhất. Trong năm 1995, Việt Nam có được ba thành công đối ngoại: gia nhập ASEAN, thiết lập quan hệ chính thức với Hoa Kỳ, và ký kết một thỏa ước hợp tác khung với Liên hiệp Âu châu, trong đó có một điều khoản về nhân quyền và bao trùm các quan hệ mậu dịch và kinh tế.

Nhờ được thu nhận vào ASEAN, Việt Nam trở thành một thành viên của Khu vực Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA). Tuy nhiên, sự thu nhận hoàn toàn vào AFTA chỉ được chờ đợi xảy ra vào năm 2006, và cái gọi là nhóm sản phẩm nhạy cảm sẽ bị loại khỏi các điều khoản mậu dịch tự do cho tới 2013. Đặc biệt quan trọng cho sự thành công của phát triển kinh tế là sự bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ, sự dỡ bỏ cấm vận trong năm 1994 và ký kết thỏa ước thương mại song phương trong năm 2001. Một thỏa ước hợp tác khung được ký kết giữa Phái bộ Âu châu và Việt Nam trong năm 1995. Dường như có khả năng Việt Nam sẽ đạt được mục tiêu gia nhập WTO vào cuối năm 2005 như được trù tính. [1]

Từ 1990, Việt Nam đã trải qua sự cải tiến liên tục các nền móng kinh tế của nó, gia nhập hàng ngũ các quốc gia có mức thu nhập cỡ trung. Thêm nữa, phát triển kinh tế chỉ tạm thời bị chậm lại vì vụ khủng hoảng tài chính ở Á châu. Dù có cam kết nghiêm chỉnh của Đảng Cộng sản Việt Nam với cải tổ và sự thực thi liên tục các biện pháp cải tổ, bao gồm sự cải tiến các điều kiện đầu tư và giảm thiểu tham nhũng và hối lộ, không phải tất cả các mục tiêu chuyển đổi đều đạt được. Hơn thế nữa, hoạt động của các thiết chế kinh tế thị trường bị giới hạn đáng kể bởi một số lượng luật lệ khổng lồ còn tồn tại. Điều đó có nghĩa là – mà cũng là hơn thế nữa – hoạt động của các thiết chế kinh tế thị trường bị giới hạn đáng kể bởi một số lượng khổng lồ các tiến trình liên hệ tới một nền kinh tế không chính thức vẫn tồn tại.

C. Đánh giá

1. Dân chủ

Việt Nam chưa tỏ bất kỳ dấu hiệu tự do hóa chính trị nào hướng đến sự chuyển tiếp dân chủ. Quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam được điển chế vào hiến pháp từ năm 1980. Trong khi các quyết định của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam đã từng có tính pháp lệnh, hiện nay điều này dù vẫn ở một phạm vi rộng lớn nhưng không còn tuyệt đối nữa. Tình hình thì phức tạp hơn. Bộ Chính trị không còn thực hiện tất cả mọi quyết định nữa, tuy nhiên, nó vẫn là nơi đưa ra các quyết định cho những vấn đề quan trọng đặc biệt. Xử lý thường vụ được ủy thác cho Tổng bí thư. Trong bất kỳ trường hợp nào, các quyết định của Bộ Chính trị không thể được thực thi mà không có sự tham dự của chính quyền và Quốc hội; và ở đây sự bóp méo và can thiệp xảy ra khi chế độ quan liêu tiếp quản các quyết định đó.

Trong khi dung thứ cho phê bình có tăng lên trong nội bộ Đảng, khó có thể nói điều đó cũng đúng cho đối lập nằm ngoài cơ chế Đảng – Nhà nước song trùng đó. Các kêu gọi riêng lẻ cho một hệ thống đa đảng thường xuyên bị giới chính trị chóp bu dứt khoát bác bỏ. Vào tháng Hai 2005, Thích Quảng Độ, phó tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất (GHPGVNTN) vốn bị cấm hoạt động, đã thúc giục giới cầm quyền và giới trí thức xây dựng nền dân chủ và chế độ đa nguyên cho quốc gia.

1.1. Tính cách quốc gia

Trong những năm đầu sau thống nhất, xung đột tiếp tục tồn tại cả về ý thức hệ giữa hai miền Nam và Bắc, lẫn vấn đề người thiểu số, đặc biệt sự tồn tại của các lãnh thổ dân tộc thiểu số ở Nam Việt Nam đã làm yếu đi sự áp đặt độc quyền nhà nước trên phạm vi toàn quốc bằng sử dụng vũ lực. Từ khi Mặt trận Liên kết của các Chủng tộc bị áp bức (FULRO) giải tán vào cuối những năm 1980, không còn nhiều vấn đề lắm với tính đồng nhất quốc gia.

Vài ngoại lệ có tính cách lãnh thổ tồn tại, khi một số dân miền Nam không muốn chấp nhận trung tâm của độc quyền nhà nước – có được bằng việc sử dụng vũ lực – ở Hà Nội, ngay cả đã sau ba thập niên thống nhất. Mọi công dân có cùng các quyền, nhưng phân biệt đối xử với các dân tộc thiểu số riêng lẻ thì rõ rệt. Chính quyền trung ương có một lịch sử lâu dài trong việc đàn áp các bộ lạc người Thượng cao nguyên trung phần. Họ bao gồm khoảng một chục các bộ lạc khác biệt về văn hóa và dân tộc với người Việt ở vùng đồng bằng, và sau sự truyền đạo của các nhà truyền giáo theo chân các quân nhân Mỹ ở Việt Nam, họ thường theo đạo Tin Lành.

Bạo động bùng lên trở lại vào tháng Tư 2004, khi khoảng chừng 10.000 người Thượng biểu tình ở hai tỉnh Daklak và Gia Lai để phản đối chính quyền đàn áp tôn giáo của và chiếm đoạt đất đai của họ. Sau phản ứng bằng vũ lực của chính quyền, các nhóm nhân quyền tuyên bố rằng có mười người bị giết và hơn một trăm bị thương. Con số chính thức là hai chết và một số bị thương (Tình báo Á châu, Chuyên san Chiến lược và Chính trị, tháng Tám 2004).

Tiến trình chính trị thì hoàn toàn thế tục, dù các giáo huấn của Khổng Tử vẫn tiếp tục quan trọng như một nguyên tắc khuôn khổ của tổ chức chính quyền. Dù sao thì những giáo huấn này vẫn không hề là một giáo điều đối nghịch với nhà nước; ngược lại, chúng là căn bản để vận dụng quyền lực, giúp tăng cường ý thức hệ cộng sản về phương diện triết học và truyền thống, và mang lại chính danh cho sự vận dụng quyền hành. Cơ cấu song trùng Đảng – Nhà nước hiện diện khắp quốc gia với một chính quyền “thống nhất” có ba nhánh và kết cấu hành chính hạ tầng. Dù có những cố gắng tản quyền, tiến trình ra quyết định chính trị chỉ diễn ra ở Hà Nội, và sự tập quyền này kết hợp với mức tham nhũng cao đã dẫn tới sự thực thi không hoàn chỉnh nhiều chính sách, đặc biệt ở nam phần của đất nước và ở TP. Hồ Chí Minh.

1.2. Tham dự chính trị

Các cuộc bầu cử dân chủ không tồn tại ở cấp địa phương hoặc quốc gia. Tuy nhiên cuộc “bầu cử” vào Quốc hội gần đây nhất vào tháng Năm 2002 đã tạo ra một thành phần đại biểu rộng rãi hơn (ví dụ như những đại biểu độc lập, những đại diện của các dân tộc thiểu số và các nhóm tôn giáo, giới nghiệp chủ, v.v.) so với các cuộc bầu cử trước đây. Có ba thành viên của Quốc hội tự ứng cử và không thuộc Mặt trận Tổ Quốc Việt Nam, và 51 ghế đại biểu là người ngoài đảng. Chiếm 17,3% số ghế trong Quốc hội, các dân tộc thiểu số hưởng một mức đại diện chính trị cao hơn tỉ lệ thực của họ trong tổng số dân (14%). Quốc hội có 498 đại biểu được bầu cho nhiệm kỳ năm năm. Quốc hội nhóm họp hai lần trong năm và, về pháp lý, kiểm soát lập pháp, hoạch định và bổ nhiệm, nhưng trên thực tế nó phần lớn chỉ phê chuẩn những quyết định được làm ra từ các cơ quan đảng.

Tuy nhiên, từ năm 1996, Quốc hội đã dần dần giải phóng mình khỏi các lãnh tụ Đảng. Các đảng đối lập, cũng như việc thành lập các công đoàn và hiệp hội độc lập, bị cấm. Các nhóm dân sự có thể hoạt động dưới một số điều kiện, chừng nào mà chúng không đặt câu hỏi một cách lộ liễu về độc quyền quyền lực của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Chính quyền đã phản ứng một cách khắc nghiệt với những cuộc phản kháng của các dân tộc thiểu số trong những năm gần đây, nhưng nó cũng loan báo sự cởi mở rộng rãi hơn và các cơ hội được cải thiện cho sự tham dự chính trị của các tôn giáo và chủng tộc. Biểu hiện đầu tiên của chính sách này gồm sự đại diện của các nhân tố này từ mảng dân sự ôn hòa trong Quốc hội mới và một thực tế là chính Tổng Bí thư của Đảng Cộng sản Việt Nam cũng là một người dân tộc thiểu số.

Mặt khác, sự khủng bố và truy bức các nhà bất đồng chính kiến tiếp tục không suy giảm trong suốt nữa đầu của thời gian thẩm định. Tuy nhiên trong tháng Hai 2005 dưới áp lực của các nhóm nhân quyền quốc tế, hai nhà bất đồng chính kiến nổi bật, linh mục Cơ đốc giáo La Mã Thadeus Nguyễn Văn Lý, 58 tuổi, và bác sĩ Nguyễn Đan Quế, 63 tuổi, được thả cùng với 8323 tù nhân khác trong một cuộc ân xá dịp Tết. Cả hai đều là những người ủng hộ trực tiếp cho tự do tôn giáo và dân chủ, phê bình công khai hồ sơ nhân quyền tệ hại của chính quyền. Tuy thế vẫn không rõ ràng liệu cuộc phóng thích có thể được coi như chỉ dấu đầu tiên của ý muốn dung thứ đối lập rộng rãi hơn của chính quyền.

Trong năm 2004, Bộ Ngoại giao Mỹ xếp Việt Nam như một trong những quốc gia đàn áp tôn giáo nhất trên thế giới. Chỉ một nhúm các tôn giáo được chính quyền tán đồng được phép hoạt động tại Việt Nam, nhưng nhiều giáo hội ngoài vòng pháp luật tiếp tục tồn tại. Tuy thế, giáo đoàn Cơ đốc giáo đã tăng từ dưới ba triệu trước năm 1975 tới khoảng trên dưới bảy, tám triệu hiện nay – một tiến trình được nhà nước dung nạp. Điều này chỉ ra rằng vấn đề tự do tôn giáo ở Việt Nam phức tạp hơn và vòng vo hơn là các báo cáo của Bộ Ngoại giao và các tổ chức khác dường như gợi ý.

Công luận tồn tại ở dạng căn bản và tìm được lối ra vài năm trước đây trong các tường thuật có tính phê phán càng lúc càng tăng của báo chí mà toàn bộ vẫn còn chịu sự điều khiển và can thiệp nghiêm trọng từ nhà nước và các lãnh tụ Đảng. Trong suốt thời gian thẩm định, nhiều “nhà bất đồng chính kiến trên mạng internet” bị bắt giam vì sử dụng internet để phê phán chính quyền.

1.3. Pháp trị

Phân quyền không tồn tại. Nhánh tư pháp chịu sự sai khiến rõ ràng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhờ sự hòa nhập quốc tế đang diễn ra ở Việt Nam, hệ thống luật pháp đã trải qua vài cuộc cải tổ. Tuy nhiên, nói chung hệ thống luật pháp ở Việt Nam vẫn chưa tuân theo các tiêu chuẩn của hệ thống luật pháp quốc tế. Các điều luật như Luật đầu tư xây dựng cơ bản và Luật hoán chuyển giá cả vẫn chưa có nhưng đang trong lịch trình lập pháp của Quốc hội. Thêm nữa, hệ thống luật pháp Việt Nam không đủ minh bạch và thiếu sự thực thi hiệu quả, ổn định, và nhất quán.

Trong suốt thời kỳ thẩm định, chính quyền đã thực hiện được một số tiến bộ khiêm nhường trong chống tham nhũng. Với điểm số 2,6 (ngang với năm 2001), Việt Nam là quốc gia có mức tham nhũng cao thứ hai ở Đông Nam Á theo Chỉ số Nhận thức Tham nhũng của tổ chức Minh bạch Quốc tế.

Trên căn bản của hệ thống pháp luật hiện hành, vài đảng viên và nhân viên chính phủ cao cấp bị buộc rời khỏi chức vụ, bắt giữ, và trong một số trường hợp, truy tố và kết tội trong những phiên xử công khai. Tuy nhiên, dường như sự trấn áp tham nhũng có tính tuyển chọn cao độ. Việc “sử dụng riêng cho bản thân” các chức vụ và quyền hạn, được nuôi dưỡng bởi các lỗ hỗng thủ tục và pháp lý, chính trị hiện hành, vẫn có thể làm được dù có sự tăng cường kiểm soát trong nội bộ Đảng. Theo Ban Thanh tra Trung ương Đảng, trong số 73,2 % trong số 19.103 đảng viên và 56,9% trong số 3.494 tổ chức Đảng được kiểm tra năm 2004 bị phát hiện vi phạm điều lệ Đảng qua thiếu trách nhiệm và lạm dụng quyền lực cho lợi ích cá nhân. Tuy nhiên, có thể tin rằng các con số này chỉ là phần nổi của tảng băng chìm. Một trong số các biện pháp được loan báo bởi chính quyền để giảm thiểu nạn tham nhũng và hối lộ hoành hành là dự thảo luật chống tham nhũng, mà nếu thành luật, sẽ đòi hỏi quan chức và nhân viên chính phủ phải công khai tài sản và thu nhập. Trong sự thiếu vắng các chính sách và các luật chống tham nhũng được củng cố nhất quán hơn, mạnh mẽ hơn, và cụ thể hơn, tính hiệu quả của đạo luật và các biện pháp liên hệ vẫn đầy nghi vấn.

Sự bảo đảm các quyền dân sự nói chung được cải thiện, nhưng vẫn chỉ cục bộ. Vi phạm nhân quyền và dân quyền thì rõ rệt, đặc biệt quan ngại cho các dân tộc thiểu số. Các quan sát viên nhân quyền quốc tế không được phép nhập cảnh. Sự khoan dung chính thức đối với các cộng đồng tôn giáo tăng lên trong suốt thời gian thẩm định, song chỉ có tính cách tuyển chọn. Dù giáo phái Cao đài được quyền tự do hoạt động và hội họp trong năm 1999, các giáo hội Tin lành ở các cao nguyên miền Trung tiếp tục bị đàn áp, và Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất bị cấm hoạt động. Giáo hội Cơ đốc giáo cũng bị nhà nước phân biệt đối xử. Việt Nam có giáo đoàn Cơ đốc giáo lớn hàng thứ hai ở Á châu, chỉ sau Philippines, với chừng bảy tới tám triệu tín đồ trong tổng số tám mươi triệu dân.

Quyền tự do tôn giáo, được ghi trong hiến pháp 1992, bị giới hạn. Việc kiện một tác nhân nhà nước vì vi phạm dân quyền hoặc nhân quyền là bất khả thi, trừ phi Đảng Cộng sản Việt Nam muốn dạy một bài học chính trị bằng cách tạo ra một sự việc điển hình hoặc khiển trách các bên chịu trách nhiệm. Theo các tổ chức nhân quyền, xử án ở Việt Nam không được công bằng. Người bị kết án không thể gọi hoặc đặt câu hỏi bất kỳ nhân chứng nào, và lựa chọn duy nhất của luật sư bào chữa là thỉnh nguyện khoan hồng cho khách hàng của mình.

1.4. Ổn định thiết chế

Không có các thiết chế dân chủ ở Việt Nam. Tất cả các thiết chế chính trị trung ương được gắn chặt với hệ thống song trùng Đảng và Nhà nước, rất ổn định trong suốt thời kỳ thẩm định và cho tời giờ này vẫn chưa tỏ bất kỳ khả năng dân chủ hóa nào trong tương lai.

1.5. Hòa hợp xã hội và chính trị

Chiếu theo hiến pháp, Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục độc quyền lãnh đạo nhà nước và xã hội. Đảng Cộng sản Việt Nam có khoảng 2,67 triệu đảng viên. Tất cả các hiệp hội quốc gia và các nhóm quyền lợi (công đoàn, liên hiệp nông dân, đoàn thanh niên, liên hiệp phụ nữ và các tổ chức khác) đều nằm trong vòng điều khiển của “Mặt trận Tổ quốc”.

Từ đầu những năm chín mươi, như một hệ quả của việc chuyển đổi kinh tế và các thay đổi kinh tế xã hội đi cùng với nó, các vai trò trung gian đã nổi lên, phần lớn họ làm việc riêng biệt ở cấp địa phương và được nhà nước dung thứ chừng nào mà hoạt động của họ còn hài hòa với khuôn khổ được thiết lập bởi Đảng Cộng sản Việt Nam. Các tổ chức phi chính phủ, vốn được định nghĩa rất rộng bởi người Việt, đang lấp những khoảng trống mở ra bởi cải tổ kinh tế. Do nguồn lực nhà nước giới hạn, các vấn đề liên hệ tới môi trường, giáo dục, chăm sóc sức khỏe, việc làm và chăm sóc xã hội căn bản không còn duy nhất chỉ được xử lý và giải quyết bởi Đảng Cộng sản Việt Nam và các tổ chức quần chúng của nó nữa. Phụng sự xã hội giúp khép lại những khoảng trống này. Trong khía cạnh này, các vai trò tư nhân và nhà nước có mối quan hệ cộng sinh có đặc điểm thực dụng. Mạng lưới các nhóm tự tổ chức và các tổ chức đang phát triển này chưa đáp ứng các tiêu chuẩn của tự quản dân sự, nhưng nó có lẽ là bước sơ khởi trong sự trỗi dậy của xã hội dân sự.

Sự hiện diện của các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam tăng lên đều đặn trong suốt thời kỳ thẩm định, nhưng tổng số của chúng chỉ khoảng 560 (vào cuối năm 2004), theo Danh mục các tổ chức phi chính phủ chính thức ở Việt nam.

2. Kinh tế thị trường

Từ khi chương trình đổi mới được giới thiệu trong năm 1986, Việt Nam đã và đang chuyển đổi một cách chậm chạp sang một nền kinh tế thị trường. Trong tất cả các quốc gia cộng sản hiện thời và trước đây trong khu vực Á châu Thái Bình Dương, Việt Nam biểu thị một cam kết rõ ràng nhất tới kinh tế thị trường. Dù các chính sách cải tổ bám trụ được trên nhiều phạm vi, các câu hỏi liên quan đến tái tổ chức các xí nghiệp quốc doanh, cấp nợ, và vai trò nhà nước trong phát triển vẫn chưa có câu trả lời. Các cải tổ này đã thu được kết quả, trong số nhiều thứ khác, ở một trong những tỉ suất tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội cao nhất trong vùng (trung bình 6,6% từ 1999 đến 2003) và một tỉ suất đầu tư ngoại quốc đáng ao ước.

2.1. Mức phát triển kinh tế xã hội

Chỉ số Phát triển Con người của Việt Nam được cải thiện đều đặn như một kết quả của các cải tổ kinh tế từ giữa những năm 1980 – từ 0,583 trong năm 1985 tới 0,688 trong năm 2000 và tới 0,691 trong năm 2002 (Báo cáo Phát triển Con người, 2004). Điều này cho phép Việt Nam bảo toàn thứ hạng phát triển trung bình của nó (112/177 quốc gia) trong suốt thời kỳ thẩm định. Chỉ số Phát triển Giới tính cải thiện từ 0,668 (1998) tới 0,689 (2002), nhưng vẫn còn thấp hơn Chỉ số Phát triển Con người chút ít. Điều này chỉ ra một mức độ phân cách giới tính, nhưng không đáng kể, trong phát triển người dân căn bản. Nói chung, sự cách biệt xã hội liên quan tới giới tính giảm trong suốt thời kỳ thẩm định. Sự hiện diện của phụ nữ trong những vị trí lãnh đạo tăng lên, đặc biệt ở cấp trung và cấp thấp, và cũng như trong chính trị. Tham dự chính trị của phụ nữ ở Việt Nam lớn hơn nhiều so với các quốc gia khác ở Á châu. Việt Nam xếp hạng 19 trên thế giới về số lượng phụ nữ trong Quốc hội (27,3%).

Việt Nam xếp 41 trong số 95 quốc gia trong báo cáo Chỉ số Nghèo khổ. Trong suốt thời kỳ từ 1990 tới 2002, 17,7% dân chúng sống với mức dưới 1USD/ngày. Mặt khác, chính quyền đã thừa nhận sự cần thiết của các can thiệp có mục tiêu nhằm chiếu cố các nhóm bị thua thiệt, trong đó có các nhóm dân tộc thiểu số. Trong số các chương trình xóa đói giảm nghèo cấp quốc gia, chương trình “Các thôn xóm nghèo khó ở miền sâu và miền núi”, được biết đến như Chương trình 135, được điều hợp bởi Uỷ ban các Dân tộc Thiểu số và Miền núi, trực tiếp nhắm vào 1000 bản làng nghèo khó nhất ở các miền núi và miền sâu. Mặc khác, dù có tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và cố gắng của chính quyền để cải thiện các tiêu chuẩn sống, nghèo khổ vẫn còn ở mức cao và dai dẳng trong số các chủng tộc thiểu số, chiếm có 14% dân số nhưng chiếm tới 30% số người nghèo. Cô lập địa lý và tiếp cận giới hạn với nguồn tín dụng, với phương tiện sản xuất, và với dịch vụ xã hội có chất lượng là những nguyên do chính cho sự nghèo khổ trong số các dân tộc thiểu số.

Bất cân xứng thu nhập và cách biệt xã hội có phần tăng lên. Chỉ số Gini tăng từ 35,7 (1998) lên 36,1 (2002). Trong khi sự khác biệt giữa các vùng phải được tính tới, chỉ số Gini cấp vùng vẫn ổn định một cách đáng lưu ý. Dữ liệu gợi ý rằng khác biệt thu nhập giữa các vùng đã trở nên quan trọng hơn so với khác biệt thu nhập trong một vùng.

2.2. Tổ chức thị trường và cạnh tranh

Bước ngoặt cho phát triển hướng về một nền kinh tế đặt căn bản trên thị trường của Việt Nam là việc thi hành Luật Doanh nghiệp mới trong năm 2000, vốn đơn giản hóa tiến trình lập doanh nghiệp mới bằng cách giảm nhẹ các thủ tục nộp đơn. Tháng Mười Hai cùng năm, Quốc hội chấp thuận một sửa đổi hiến pháp ban cho khu vực tư tư cách ngang bằng với khu vực công. Đảng viên cũng được cho phép làm tư doanh. Cả các điều kiện pháp lý mới lẫn môi trường chính trị thay đổi đã châm ngòi cho một cơn bùng phát thành lập các doanh nghiệp mới. Từ năm 2000 đến cuối tháng Hai năm 2004, hơn 88.000 xí nghiệp tư doanh mới thành lập được đăng ký. Từ năm 2000 đến năm 2003, tổng số vốn đăng ký của các công ty tư doanh là 10,1 tỷ USD. Năm 2004 là một năm phát đạt cho sự bành trướng của khu vực tư doanh. Giữa tháng Một và tháng Mười 2004, khoảng chừng 27.000 xí nghiệp mới được đăng ký, với tổng số vốn là 53 ngàn tỷ đồng (3,4 tỷ USD), tăng khoảng 24% về số lượng và 25% về giá trị vốn nếu so sánh với các con số của cùng thời kỳ năm trước. Trong năm 2004, Quốc hội đã thông qua luật cạnh tranh, sẽ củng cố các điều khoản cạnh tranh kinh doanh khi nó có hiệu lực trong tháng Năm 2005.

Tuy nhiên, nhiều chướng ngại cho sự phát triển của khu vực tư vẫn còn đó. Phân biệt đối xử trong thi hành các chính sách nhà nước liên quan tới tín dụng, địa ốc, và huấn luyện mang lại kết quả là khu vực tư và khu vực công nhận được sự đối xử khác nhau. Độc quyền nhà nước vẫn còn phổ biến trong nền kinh tế Việt Nam. Trong khi một số dạng định giá được giải phóng, nhà nước vẫn còn định giá nhiều loại hàng hóa quan trọng, bao gồm hối suất, lãi suất, và giá cả của một số loại hàng hóa. Một số khu vực của nền kinh tế được điều khiển bởi nền kinh tế thị trường, nhưng nhiều ngành vẫn còn lệ thuộc vào các kế hoạch nhà nước (viễn thông, tài chính và ngân hàng, vận tải, cung cấp điện và nước).

Tiền tệ quốc gia bất khả hoán. Tiến trình mở cửa nhanh chóng của đất nước bắt đầu từ cuối những năm 1980 đã song hành với tự do hóa mậu dịch ngày càng tăng. Sau đây là những sự kiện chính trong tiến trình này: gia nhập ASEAN năm 1995, gia nhập APEC năm 1998, dỡ bỏ cấm vận mậu dịch của Hoa Kỳ năm 1994, và ký kết thỏa ước mậu dịch song phương với Hoa Kỳ trong 2000 đem đến cho Việt Nam quy chế tối huệ quốc.

Việt Nam hiện giờ đang đàm phán để gia nhập Tổ chức Mậu dịch Thế giới (WTO) và đã hoàn tất chín vòng đàm phán với phía hữu trách WTO. Thành công quan trọng nhất tới lúc này là kết thúc đàm phán song phương với Liên hiệp Âu châu. Kết quả là Liên hiệp Âu châu đã dỡ bỏ tất cả giới hạn quota trong nhập khẩu hàng vải và hàng dệt từ Việt Nam, ngay cả trước khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Tuy nhiên, các nhiệm vụ quan trọng vẫn cần được hoàn tất trước khi Việt Nam có thể gia nhập WTO, bao gồm sửa đổi ít nhất 30 luật và sắc lệnh. Việt Nam cũng đã đạt đến một số thỏa ước song phương và có lẽ sẽ đối mặt với những khó khăn to lớn trong các cuộc đàm phán của nó với Trung Quốc, Nhật và Hoa Kỳ.

Như một thành viên của ASEAN, Việt Nam có bổn phận gia nhập Vùng Mậu dịch Tự do ASEAN (AFTA). Tuy nhiên, Việt Nam đã được dành cho một giai đoạn chuyển tiếp cho tới 2006. Vào lúc đó, nó sẽ phải giảm thiểu tất cả các loại thuế nhập khẩu của mình xuống mức từ 0% tới 5% (“Các nhóm sản phẩm nhạy cảm” sẽ chỉ được bao gồm tới trong năm 2013). Tuy nhiên, xem ra Việt Nam khó mà làm đúng hạn, bởi vì các tác nhân bảo thủ tiếp tục chứng tỏ khuynh hướng bảo hộ do sự thiếu tính cạnh tranh quốc tế của phần lớn các xí nghiệp quốc doanh. Suất thuế quan trung bình tương đối thấp 16% bao trùm các rào cản thuế quan cao và phi thuế quan cho các chủng loại hàng hóa chính. Vì vậy, các tỉ suất thuế nhập khẩu cho các loại hàng hóa tiêu chuẩn có thể lên tới con số ở bất kỳ đâu giữa 60% và 200%, mức thuế sau là cho xe cộ. Các rào cản phi thuế quan phần lớn là hậu quả của các hạn chế ngoại hối, xét rằng các giấy phép nhập khẩu bị bãi bỏ, chỉ với một vài ngoại lệ như là xe mô tô và xe hơi. Dù có tăng trưởng gây ấn tượng trong xuất khẩu – tăng 10% so với năm trước trong năm 2002, tiếp 20,8% trong năm 2003, và tiếp 28,9% trong năm 2004, đạt tới gần 26 tỷ USD – chế độ mậu dịch của Việt Nam vẫn được coi là thiếu hiệu quả. Chính quyền kiểm soát mậu dịch thông qua hệ thống cấp giấy phép. Các hạn chế cũng bao gồm quota, thuế nội địa, giá tham khảo, và các lệnh cấm nhập khẩu trực tiếp.

Từ 1988, và đặc biệt từ 1992, Việt Nam đã đi tới một hệ thống ngân hàng được đa dạng hóa, gồm cả các ngân hàng ngoại quốc và liên doanh, cổ phần và sở hữu nhà nước, cung cấp dịch vụ cho một thành phần khách hàng rộng lớn hơn. Tuy nhiên, bốn ngân hàng thương mại quốc doanh chính chiếm tới khoảng 80% tất cả các món nợ. Tái cấu trúc khu vực ngân hàng đang được tiến hành chậm chạp – phần lớn dưới áp lực của quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) – nhưng nó chưa thể giữ cùng nhịp với các cải tổ kinh tế thị trường. Cho vay vốn qua ngân hàng thường được coi như một phạm vi quyền lực của chính sách chính quyền. Các ngân hàng được chỉ thị một cách đều đặn để đề nghị lãi suất ưu đãi và giảm nợ cho nông dân (Đơn vị Tình báo, Tạp chí Economist).

2.3. Tiền tệ và ổn định giá cả

Kiểm soát lạm phát đã được thừa nhận như một mục tiêu chính sách-kinh tế. Bị sốc bởi siêu lạm phát trong những năm giữa thập niên 1980, chính quyền đã đưa chống lạm phát lên ưu tiên cao nhất và đã có thể giữ được mức lạm phát dưới 10% từ năm 1995. Tuy nhiên, lạm phát đã đạt tới 9% vào cuối năm 2004 bởi giá thực phẩm lên cao hơn và tác động của sự tăng giá hàng hóa quốc tế. Quan ngại về sự gia tăng lạm phát và sự bành trướng nhanh chóng của tín dụng nội địa, chính quyền đã tăng vọt tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với các ngân hàng thương mại trong tháng Bảy 2004 để làm chậm lại sự cho vay.

Chính sách hối suất chủ yếu phục vụ các mục tiêu chính trị. Dù Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã kéo dãn quãng hối suất của đồng tiền đồng với giá trị dao động 0,25% trong tháng Bảy 2002, khoảng thả nổi vẫn còn rất hẹp. Hối suất được quản lý bởi sự can thiệp nặng nề từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Phương pháp này có trách nhiệm ngăn ngừa đồng tiền đồng khỏi yếu đi so với đồng dollar, mà sẽ khiến làm tăng các món nợ tính bằng dollar của các xí nghiệp quốc doanh. Trong tháng Một 2005, Quỹ Tiền tệ Quốc tế kêu gọi Việt Nam gia tăng mức linh động của hệ thống, nhưng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã dấy lên một cuộc bào chữa mạnh mẽ cho chính sách hối đoái của nó.

Nợ công giảm từ 69,4% của tổng sản phẩm quốc nội (2000) xuống 67,0% (2003) trong khi tổng số nợ bên ngoài rớt từ 41,6% xuống 32% của tổng sản phẩm quốc nội trong cùng khoảng thời gian. Tỉ số dịch vụ nợ 6% hiện hành (giảm xuống từ 7,5%) trong năm 2000) thì có thể quản lý được và được chờ đợi giảm xuống 5% vào năm 2005. Các nền tảng tài chính của Việt Nam tương đối mạnh trong liên hệ tới các thị trường đang nổi lên có thể so sánh được.

2.4. Tư hữu

Nhịp độ tư hữu hóa (theo cách gọi của Việt Nam là “cổ phần hóa”) diễn ra nhanh trong các năm 1999 – 2000, nhưng sau đó nó chậm lại. Trong khi số xí nghiệp quốc doanh giảm từ 12.000 trong năm 1998 xuống còn dưới 4.000, phần lớn các xí nghiệp quốc doanh được tư hữu hóa là loại nhỏ, và các công ty lớn quan trọng nhất vẫn được nhà nước kiểm soát. Đơn vị Tình báo của Tạp chí Economist (Hồ sơ Việt Nam, 2003) ước tính rằng 90% tài sản của các xí nghiệp quốc doanh hiện giờ vẫn sẽ được giữ lại trong sự kiểm soát của nhà nước.

Các quyền tư hữu và quy định thu thập tài sản được xác định chính thức bằng luật, nhưng vẫn không đủ để bảo vệ khỏi sự can thiệp của nhà nước. Theo Chỉ số Tự do Kinh tế năm 2005 của Tổ chức Di sản, sự quấy nhiễu trong tiến trình luật pháp và hối lộ các quan tòa để giành phần lợi diễn ra lan tràn. Các thỏa thuận hợp đồng được hỗ trợ bởi sức mạnh luật pháp, nhưng hệ thống luật pháp thì lại phức tạp. Các tranh cãi hợp đồng thường kéo theo một thời kỳ đàm phán kéo dài trước khi có bất kỳ cố gắng nào để giải quyết vấn đề ở tòa án. Thêm nữa, vì thiếu niềm tin ở hệ thống luật pháp Việt Nam, nhiều nhà đầu tư ngoại quốc bao gồm các khoản trong các hợp đồng của họ cho phép tranh cãi được xử lý bởi Tòa Phân xử của Singapore. Nhà nước sở hữu mọi đất đai và cấp quyền sử dụng đất cho nông dân, doanh nghiệp, và chủ nhà.

2.5. Chế độ phúc lợi

Phần lớn nhờ ở sự phối hợp được cải thiện của các hoạt động nhà nước, các tổ chức phi chính phủ và các vai trò quốc tế có liên hệ tới phát triển, tiến bộ đáng kể được thực hiện trong lĩnh vực chống nghèo đói trong suốt thời kỳ thẩm định, tiến bộ được phản ánh trong sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người và các Chỉ số Phát triển Con người và Chỉ số Nghèo khổ được cải thiện. Tại cuộc họp của Nhóm Tư vấn trong tháng Mười hai 2004, các nhà cấp viện ngoại quốc chấp nhận “đầu tư hướng tới ủng hộ người nghèo của chính quyền”. Như các quốc gia cộng sản khác, Việt Nam đã thiết lập một mạng lưới xã hội và cơ cấu chăm sóc sức khỏe ở mức trung bình so với các quốc gia ở cùng trình độ phát triển. Thêm nữa, Việt Nam có một truyền thống giáo dục rõ nét, vốn không nhất thiết cho thấy ở các thiết chế giáo dục nổi bật, mà ở mức biết chữ tương đối cao của nó.

Tuy nhiên, sự tiếp cận tới các thiết chế chăm sóc sức khỏe, giáo dục, và xã hội không có sẵn được với tất cả các nhóm dân chúng một cách ngang bằng. Trong khi sự phân biệt đối xử về giới tính ít phổ biến hơn (phụ nữ được tiếp cận tốt hơn tới giáo dục bậc cao và chức vụ so với bất kỳ quốc gia Đông Nam Á nào), các dân tộc thiểu số và những người sống trong các vùng núi cô lập bị thiệt thòi một cách đặc biệt. Cải tổ kinh tế đã dẫn đến, trong số những thứ khác, sự thương mại hóa của hệ thống chăm sóc sức khỏe, gây nên một “hệ thống y tế hai giai tầng”. Để giữ vững lý tưởng cộng sản, xã hội Việt Nam vẫn còn nhiều đặc tính bình đẳng so với các quốc gia Đông Nam Á khác, nhưng việc thâm nhập các bất bình đẳng mới đã tiến với tốc độ nhanh chóng trong suốt thời kỳ thẩm định. Tiếp cận tới các dịch vụ công, giáo dục cao cấp, các cơ chế thăng tiến, và chức vụ công thì lệ thuộc thường xuyên vào chủng tộc, và tăng lên một cách nhanh chóng khi xét gốc gác kinh tế xã hội. Các cơ chế có mục đích ngăn ngừa điều này (ví dụ, các kỳ thi đại học) chỉ có hiệu quả giới hạn trong việc cân bằng lại sự khác biệt xã hội.

2.6. Thành tích kinh tế

Các nhà cấp viện cho Việt Nam đã khen ngợi Việt Nam ở sự tăng trưởng kinh tế “đều và rộng”, sự ổn định kinh tế vĩ mô, và tỉ suất đầu tư cao (38% của tổng sản phẩm quốc nội trong năm 2004). Tuy nhiên, họ cũng kêu gọi Việt Nam tăng cường sự cai quản các ngân hàng thương mại quốc doanh và dành chú ý nhiều hơn để bảo đảm rằng lợi ích tăng trưởng được san sẻ đều cho tất cả các nhóm kinh tế và xã hội.

Tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người tương đối cao so với trong vùng trong suốt thời kỳ thẩm định, với con số trung bình khoảng 7%. Sau Trung Quốc, Việt Nam là nền kinh tế tăng trưởng nhanh hàng thứ hai trên thế giới trong những năm gần đây. Cùng lúc, cân đối kinh tế vĩ mô cung cấp một bức tranh đa nghĩa: sự ổn định giá cả nói chung ổn (dù lạm phát đạt tới 9% vào cuối năm 2004) và nợ nần nằm ở mức thích đáng (nhờ vào một thỏa thuận với Moscow ký năm 2000, liên quan tới việc trả lại các món nợ cho nước Nga, một vấn đề lớn nhất trong món nợ quốc gia được tháo dỡ). Sự thâm thủng ngân sách nói chung thấp nhưng tăng chút ít trong suốt thời kỳ thẩm định và được chờ đợi chiếm khoảng 4,1% của tổng sản phẩm quốc nội trong năm 2005.

Tuy nhiên, cùng lúc thâm thủng mậu dịch tăng lên trong suốt thời kỳ thẩm định. Nó lên đến mức kỷ lục 5,32 tỷ USD năm 2004 do sự tăng vọt trong nhập khẩu. Ngay cả sự tăng trưởng xuất khẩu mạnh mẽ đã không đủ để kiềm chế thâm thủng bởi vì tăng trưởng nhập khẩu cao hơn cả thế, phản ánh sự tăng mạnh trong nhu cầu của khách hàng. Ví dụ, nhập khẩu xe hơi được báo cáo tăng lên 72,5% so với năm trước trong tháng Một 2005. Thâm thủng mậu dịch có lẽ sẽ còn cao hơn nữa nếu yếu tố buôn lậu nặng nề được kể tới. Theo nhiều ước tính độc lập khác nhau, tổng giá trị hàng hóa nhập lậu vào trong nước – và vì vậy không được bao gồm trong thống kê mậu dịch – ở mức 8,5% của tổng sản phẩm quốc nội.

Theo khảo sát công việc và lao động năm 2004, tỉ suất thất nghiệp của Việt Nam được ước tính khoảng 5,6%, giảm chút ít từ 5,8% trong năm 2003. Theo khảo sát chính thức từ chính quyền, các tỉ suất ở các thành phố lớn nhất cao hơn mức trung bình của đô thị, 6,5% ở Hà Nội và 6,4% ở Hải Phòng và Sài Gòn. Thất nghiệp ở nông thôn chỉ 1,1%, tuy nhiên che đậy thực tế là nhân công nông nghiệp bị bán thất nghiệp. Khuynh hướng nhân công Việt Nam ra hải ngoại tìm việc dường như đoan chắc rằng tỉ suất thất nghiệp vẫn còn kiểm soát hợp lý (EIU Views Wire, 12 tháng Một 2005). Theo các ước tính không chính thức, chẳng hạn như nguồn từ Hội Á châu (Asia Society), thất nghiệp có thể lên cao tới 25%.

Dựa trên dữ kiện được trình bày ở đây, tiềm năng tăng trưởng của kinh tế Việt Nam là tốt. Theo Ngân hàng Phát triển Á châu, nền kinh tế Việt Nam có khả năng tăng trưởng ở mức 7,5% trong năm 2005 nhờ sức mua tăng lên (dự tính ở mức 8,1%) và tăng trưởng xuất khẩu (dự tính ở mức 12%). Tuy nhiên, chính quyền sẽ cần cải tiến sự hoạch định và cách thức quản lý phát triển kinh tế xã hội của nó để đạt được mục tiêu.

2.7. Khả năng phát triển bền vững

Cân nhắc sinh thái bị gạt qua một bên để theo đuổi tăng trưởng trong quá khứ. Mãi đến hai ba năm trước đây, trong sự hợp tác với các nhà cấp viện quốc tế, một số bước đi được thực hiện hướng tới vạch ra một chính sách phát triển bền vững. Sự giảm diện tích của rừng già từ 43% xuống còn 29% diện tích đất suốt 50 năm qua, sự tiếp tục mất mát sinh quyển, sự vứt bỏ chất phế thải không được kiểm soát, và sự giảm thiểu to tát đất nông nghiệp là tất cả hậu quả của tăng trưởng kinh tế không bền vững.

Xấp xỉ 70.000 héc ta diện tích đất bị mất hàng năm do xói mòn đất đai và do sự bành trướng của các đô thị lớn, là một vấn đề, vì chỉ 22% của tổng diện tích đất là có thể dùng cho các mục đích nông nghiệp, và phần canh tác được của lượng đất đó trên mỗi đầu người là một trong những mức thấp nhất thế giới, ở 0,13 héc ta.

Quản trị nhằm bảo tồn sông Cửu Long, một phần trong sự hợp tác với các quốc gia khác ven sông, đã nổi lên như một tiêu điểm chính sách. Châu thổ sông Cửu Long từ lâu đã diễn ra lụt lội, nhiễm mặn, cạn kiệt rừng, sa sút nước ngầm, ô nhiễm nước, và các vấn đề khác nữa.

Dù tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục của chính quyền đã tăng lên, giá trị giáo dục theo đánh giá của Liên hợp quốc giảm đi một chút, từ 0,83 (1998) xuống 0,82 (2002). Việt Nam có một nền giáo dục được trang bị tệ nhất trong khu vực châu Á – Thái bình dương. Nó đứng sau Trung quốc, Indonesia, Thái Lan, và Phi Luật Tân…, đó là chỉ kể ra vài cái tên. Cũng có một số thăng tiến có thể được thuật lại. Thành công lớn nhất trong suốt thời kỳ thẩm định là sự tăng lên của số lượng trẻ em hoàn tất cấp tiểu học. Trong khi chỉ 55,5% trẻ em hoàn tất được bậc tiểu học trong năm 2000, con số nhảy lên 70,8% trong năm 2002. Cũng có vài thăng tiến trong bậc giáo dục cấp đại học và cao đẳng.

Bản tiếng Việt © 2006 talawas


[1]Chú thích của talawas: Dự đoán về việc Việt Nam gia nhập WTO cuối năm 2005 đã không thành hiện thực.

 
© talawas 2026